RSS

Chào Mừng Các Bạn Ghé Thăm Blog

Với nội dung về nghệ thuật châu Á và các công trình kiến trúc tôn giáo có liên quan đến sở thích và hoạt động của chúng tôi. bên cạnh mục catalogue sản phẩm là những bài viết có liên quan do tôi dịch và biên tập lại từ nhiều nguồn khác nhau , và sẽ cập nhật nhiều bài hơn nữa.

http://khanhhoathuynga.wordpress.com/

https://thuyngakhanhhoa.wordpress.com/

 

Hiện nay chúng tôi vừa thành lập một trang  *Thuyngaartshop  trang này các bạn có thể xem và tham khảo  đồng thời cũng là một kênh giao lưu trao đổi mua bán hàng sưu tập .

Chúc các bạn tìm được lợi ích của  trang 

Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được ý kiến phản hồi của mọi người về blog này trong mọi phương diện, trong từng bài viết hay trên mỗi sản phẩm của chúng tôi. Đừng ngần ngại, xin cứ thoải mái liên hệ với chúng tôi:

Nickchat Yahoo : khanhhoastocks và thuyngastocks

Hòa : email – khanhhoastocks@yahoo.com – 

Nga : email – thuyngastocks@yahoo.com – 

Chúc các bạn một ngày mới tươi đẹp, luôn thành công trong cuộc sống và tràn ngập yêu thương bên những người thân yêu nhất của mình

 

 

 
3 phản hồi

Posted by on Tháng Ba 8, 2010 in 1

 

Thẻ: , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ THÁNH TÂM – GÒ CÔNG

100_8391
Địa chỉ: 49 Nguyễn Trãi, phường 2, Gò Công, Tiền Giang
Chánh xứ : Linh mục Phêrô Nguyễn Phước Tường
Phó xứ     :Linh mục Phaolô Phạm Ngọc Hiền
pherotuong@yahoo.com

This slideshow requires JavaScript.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Tám 6, 2014 in Gò Công, miền nam

 

Thẻ: , , , , ,

LĂNG MỘ TRƯƠNG ĐỊNH

 

100_8413

 

Trương Định hay Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định (1820 – 1864 ) là võ quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh chống Pháp giai đoạn 1859 – 1864 trong lịch sử Việt Nam .

Ông sinh năm 1820 tại làng Tư Cung , phủ Bình Sơn Quảng Ngãi ( nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh , tỉnh Quảng Ngãi ) và mất ngày 19 tháng 8 năm 1864 tại Biên Hòa . Cha ông là Lãnh binh Trương Cầm, từng là Hữu thủy Vệ uý ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị .

Ông theo cha vào Nam năm 1844 , sau khi cha ông mất ông ngụ tại ngay nơi cha ông đóng quân . năm 1854 Ông kết hôn với bà Lê Thị Thưởng là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa ( Gò Công ngày nay ) nhờ sự trợ giúp của gia đình bên vợ, Trương Định xuất tiền của, chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công) .

Năm 1850 , hưởng ứng chính sách khẩn hoang của tướng Nguyễn Tri Phương , Trương Định xuất tiền ra chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền ở Gia Thuận ( Gò Công ), vì thế, ông được nhà Nguyễn bổ làm Quản cơ, hàm lục phẩm

Năm 1859 , quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định . Sau đó, Trương Định đem quân đồn điền của mình lên đóng ở Thuận Kiều (Gia Định), và từng đánh thắng đối phương ở Cây Mai – Thị Nghè .

Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai,vào đầu năm 1861 Trương Định đem quân phối hợp với binh của tướng Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Chí Hòa. Khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông lui về Gò Công , cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyền chiêu binh ứng nghĩa, trấn giữ vùng Gia Định – Định Tường .

Ở đây, Trương Định tổ chức lại lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công , Tân An , Mỹ Tho , Chợ Lớn , Sài Gòn , Đồng Tháp Mười và kéo dài đến tận biên giới Campuchia.

Trên thực tế, ông đã từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp là Bonard, bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh do Phan Thanh Giản truyền vào và rút quân về Gò Công , xưng là Trung thiên tướng quân, và được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên soái, lấy nơi này làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa kháng chiến.

Ngày 16 tháng 12 năm 1862 , Trương Định đã ra lệnh tấn công các vị trí của quân Pháp ở cả ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đẩy Pháp vào tình thế lúng túng, bị động. Tháng 2 năm 1863 , nhờ có viện binh, Pháp phản công tại Biên Hòa , Chợ Lớn, bao vây Gò Công . Ngày 26 tháng 2 năm 1863 , Pháp đánh chiếm thành trì, ông thoát khỏi vòng vây và kéo quân về Biên Hòa .

Tháng 9 năm 1863 , tướng Lagrandière sang thay Bonard, mở cuộc càn quét thứ hai, bắt được vợ con và một số tùy tùng của Trương Định.

Ngày 19 tháng 8 năm 1864 , Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh Đám lá tối trời thất thủ, Trương Định bị trọng thương (gãy xương sống). Để bảo toàn khí tiết, ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công) vào rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864 . Khi ấy, ông 44 tuổi.

Hay tin Trương Định tuẫn tiết, vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và năm 1871 lại cho lập đền thờ ông tại Tư Cung (Quảng Ngãi). Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp thêm 6 năm nữa.

Sau khi Trương Định tuẫn tiết, bà Trần Thị Sanh , vợ thứ Trương Định, đã nhận thi hài của ông mang về an táng rất trọng thể. Mộ được làm bằng hồ ô dước, trên bia mộ khắc: ” Đại Nam – An Hà lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân Trương công húy Định chi mộ.”, nhưng nhà cầm quyền Pháp tại Gò Công ra lệnh đục bỏ hàng chữ “Bình Tây Đại Tướng Quân” và phạt bà Trần Thị Sanh 10.000 quan tiền vì lập bia trái phép.

100_8406

Năm 1874, bà Trần Thị Sanh đứng đơn xin lập mộ cho chồng. Mộ xây bằng đá hoa cương cùng với 3 bức hoành phi và 6 trụ đá ghi lại thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trương Định. Một lần nữa, các hoành phi và trụ đá bị đục bỏ. Ngôi mộ trở nên hoang phế trong thời gian Pháp thuộc bởi sự cấm đoán và dòm ngó của mật thám.

Năm 1964, Gò Công tái lập tỉnh, để thu phục nhân tâm, chính quyền cũ đã xuất công quỹ tu bổ ngôi mộ khang trang như ngày nay.

Năm 1972, xây dựng thêm Đền thờ dựa theo bản vẽ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thiệt do ông Cung Tất Mai làm Trưởng ban. Đền thờ xây dựng theo kiến trúc Đông phương vừa cổ kính, vừa tân thời với các án thờ, khuôn biển chạm trổ sơn son thiếp vàng. Đền thờ hoàn thành năm 1973, lễ khánh thành Đền thờ anh hùng dân tộc Trương Định diễn ra rất trọng thể và trang nghiêm.

Sau ngày miền Nam giải phóng . Chính quyền và nhân dân Gò Công đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo di tích.

Lăng Trương Định là di tích lịch sử là kiến trúc dạng mộ tang tiêu biểu của người Việt ở Nam bộ. Lăng hiện tọa lạc tại đường Lý Thường Kiệt thị xã Gò Công , tỉnh Tiền Giang . Khu lăng Trương Định có hai phần:

-Mộ được xây bằng đá ong với hồ ô dước (vôi đường mật và cây ô dước). trên diện tích 67m2.

-Đền thờ xây dựng theo kiến trúc Đông phương vừa cổ kính, vừa tân thời với các án thờ, khuôn biển chạm trổ sơn son thiếp vàng.

Trải nhiều năm Pháp thuộc, mộ Trương Định trở thành hoang phế. Sau có bà Huỳnh Thị Điệu, còn gọi là bà Phủ Hải( Bà Điệu là con gái út của bà Dương Thị Hương và là cháu ngoại của bà Trần Thị Sanh . Bà Điệu lấy chồng là Đốc Phủ sứ là Nguyễn Văn Hải, nên gọi là bà Phủ Hải ) cho sửa chữa lại. Năm 1956 , được sửa sang lần nữa’’

Từ năm 1972 đến năm 1973 xây thêm đền thờ. Lăng mộ và đền thờ Trương Định đã được Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia ngày 6 tháng 12 năm 1989

Lễ hội tưởng niệm ông diễn ra tại đây các ngày 19 và 20 tháng 8 dương lịch hàng năm.

 

 

 

Thân thế bà Trần Thị Sanh vợ thứ Trương Công Định

Bà Trần Thị Sanh sinh ngày 7/1/1820 và mất ngày 21/12/1882, con gái thứ sáu của Bá hộ Trần Văn Đổ và Phạm Thị Phụng (1782-1875). Bà Phụng là em gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng – thân sinh của bà Phạm Thị Hằng ( Hoàng Thái hậu Từ Dũ). Tức bà Trần Thị Sanh là em con cô cậu ruột với Hoàng Thái hậu Từ Dũ – thân mẫu của vua Tự Đức.

Lúc nhỏ, mẹ mất sớm, cha ra Huế làm quan, Phạm Thị Hằng ở với cô Phạm Thị Phụng, được cô nuôi dạy nữ công nữ hạnh, cho đi học chữ Hán với dượng Trần Văn Đổ. Nhiều lần chị Phạm Thị Hằng ẵm bồng em Trần Thị Sanh nhỏ hơn mình mười tuổi. Năm 14 tuổi, Phạm Thị Hằng xa gia đình cô Phụng ở Gò Công để ra Huế và được tiến cung, sau trở thành Giai phi Từ Dũ của vua Thiệu Trị. Năm 19 tuổi, Trần Thị Sanh được cha mẹ cho thành hôn với Bá hộ Dương Tấn Bốn. Hai vợ chồng được hưởng của hồi môn của hai gia đình, lại thuộc gia đình “ngoại thích” của Hoàng gia, có thế lực, buôn bán lúa gạo, khai khẩn nhiều ruộng đất, giao thương với cả các nước trong vùng, nổi tiếng giàu nhất Gò Công. Hai ông bà sống hạnh phúc gần 20 năm, bà Sanh sinh 9 lần, có trai có gái nhưng chỉ nuôi được một người con gái là Dương Thị Hương sinh năm 1844 (sau gả cho Huỳnh Đình Ngươn (1842-1893) cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển , ông Ngươn được thăng chức huyện nên Dương Thị Hương được gọi là bà Huyện Ngươn). Năm 1860, ông Dương Tấn Bốn qua đời, bà Trần Thị Sanh quyết chí lo chuyện làm ăn và trở thành một trong những người giàu có ở xứ Gò Công.

Giàu có, bà Sanh dùng tiền mua lúa gạo, nhờ Trương Định đem cứu tế dân, và còn đưa tiền cho ông Định quy tụ dân đi khai khẩn đất đai. Sau khi chồng chết được 2 năm, bà về làm hầu thiếp cho Trương Định, nên dân gian mới gọi là bà Hầu.

Gò Công có bốn tổng giàu,

Mà riêng có một bà Hầu giàu to

Khi Trương Định phất cờ đánh Pháp, bà Sanh (khi này đã trở thành vợ thứ Trương Định) lo việc rèn vũ khí, tích trữ lương thực cho nghĩa quân.

Về phía Trương Định, lấy được bà Sanh là có được nguồn hậu cần phong phú để yên tâm tiếp tục kháng chiến, uy thế của nghĩa quân cũng được nâng cao, thuận với lòng dân Nam Bộ khi nào cũng tưởng nhớ đến công ơn mở cõi của các chúa Nguyễn.

Năm 1864 Trương Định chết, giặc kéo xác ông về phơi giữa trung tâm huyện lỵ Tân Hòa (nay thuộc phường 1, thị xã Gò Công) để làm nản lòng những người còn tin tưởng vào nghĩa quân. Nhưng bà Sanh không nản, đêm đêm bà cho cháu lén ra thắp hương cho Trương Định rồi bà cùng với người em kế là Trần Văn Toàn tự Tú Hội (1824-1888) làm đơn vận động đưa xác Trương Định về táng ngay trên đất họ Trần nhà bà.

Bà Trần Thị Sanh có nhan sắc, người thân của Hoàng gia, quyền thế và giàu có nhất ở miền Tây Nam Kỳ. Việc bà nhận làm “vợ nhỏ” của Trương Định không những bà đối lập với thực dân Pháp mà còn phải đương đầu với bọn Việt gian như Huỳnh Công Tấn – người đã giết người chồng anh hùng của bà. Bà làm “vợ nhỏ” của Trương Định không phải vì tình mà chính vì nhiệm vụ triều Nguyễn giao cho bà. Trước hết bà là chiếc cầu nối giữa nhà yêu nước Trương Định với triều Nguyễn, thể hiện những hoạt động ngầm chống Pháp của vua Tự Đức. Thứ đến, dù là cháu ngoại, bà cũng đã làm rạng danh thêm dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công. Những gì bà để lại vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị văn hóa. Bà xứng đáng được ghi tên vào danh sách Liệt nữ Việt Nam.

 

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – GÒ CÔNG

MỤC LỤC TỔNG HỢP NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 30, 2014 in Gò Công

 

Thẻ: , , , , , , ,

LĂNG HOÀNG GIA

Lăng Hoàng Gia là nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng nổi tiếng ở Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang ( Việt Nam )

Lăng Hoàng Gia được xây dựng năm 1826  trên gò Sơn Quy (có hình con rùa nên dân gian gọi là Gò Rùa, sau được vua Tự Đức đổi thành Sơn Quy) thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công TỈnh Tiền Giang .

LĂNG HOÀNG GIA - GÒ CÔNG

LĂNG HOÀNG GIA – GÒ CÔNG

 

 

 

 

Đây là khu lăng mộ và đền thờ  Phạm Đăng Hưng là ông ngoại của vua Tự Đức và thân phụ bà Từ Dũ Thái Hậu ( vợ vua Thiệu Trị ) .

Ông Phạm Đăng Hưng người Gò Công sinh năm 1764 tại Gò Rùa nay là ấp Lăng Hoàng Gia , xã Long Hưng , Thị xã Gò Công . Thưở nhỏ ông thông minh ham học , văn võ song toàn . Năm 1784 ông thi đỗ tam trường , tuy không cao khoa nhưng văn tài lỗi lạc và nổi tiếng hiền đức , siêng năng . Sau được bổ về kinh làm lễ bộ thượng thư .

Ông đã qua các chức vụ cao quý như : Chưởng Trưởng Đả Sự (trông coi đê điều ) , Lập Xã Thương (lo cứu đói cho dân ) ,Quản Khâm Thiên Giám ( giám đốc đài thiên văn ) và Quốc Sử Quán Tổng Đài (chỉ huy viết sử ).

Ông có bốn người con làm quan to triều Nguyễn . Do tính tình trung trực và có tài đức nên vua Minh Mạng rất khâm phục , kết thông gia gả công chúa cho con trai của ông là Phạm Đăng Thuật và phong tước Phò Mã Đô Úy . Đồng thời vua cho thái tử Miên Tông kết hôn cùng con gái của ông tên là Phạm Thị Hằng ( Từ Dũ ) sinh năm 1810 tại Giồng Sơn Quy ,  Gò Công , về sau Miên Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị .

Mùa hạ năm 1825 Phạm Đăng Hưng mất vì bệnh thọ 61 tuổi được đưa về Sơn quy chôn cất .

Năm 1849 ông được vua Tự Đức truy phong tước “ Đức Quốc Công ‘’.

 

Người Gò Công kể rằng, ông Phạm Đăng Long tức Kiến Hòa tiên sinh, cha ông Phạm Đăng Hưng là người giỏi Nho học, tinh thông phong thủy, địa lý của Lão học, đi nhiều nơi tìm thế đất tốt để định cư, mong con cháu phát tích.

Lúc ông đến Gò Rùa (Sơn Qui), thấy thế đất rất đẹp nhưng toàn vùng Gò Công lúc bấy giờ không có chỗ nào đào được giếng có nước ngọt. Sau đó ông phát hiện ra mạch nước ngầm ở Gò Sơn Qui. Ông quy tập mồ mả 3 đời về đây và xây nhà ở gò đất này.

 

Sau đó, ông sinh ra Phạm Đăng Hưng. Tương truyền trước khi sinh bà Phạm Thị Hằng (Từ Dũ) thì có một vầng trăng chiếu sáng lòa cả Gò Sơn Qui, nên bà ông Đăng Hưng đặt cho bà tên Hằng. Hiện nay, tại lăng Hoàng Gia, phía sau nhà thờ, nơi nền nhà xưa vẫn còn cái giếng cổ, nước trong vắt và ngọt lịm. Tục truyền rằng có năm, khi mọi cái giếng khác trong làng đều cạn nước thì giếng này vẫn đầy ắp nước ngọt. Dân trong làng đều đến đây xin nước về dùng. Đó cũng là năm Hoàng Thái hậu Từ Dụ chào đời.

 

 

 

Lăng mộ Hoàng gia do ông Phạm Đăng Tá – con trai trưởng của Phạm Đăng Hưng – xây dựng trên phần đất 3.000 m2, ngay trên nền nhà cũ của dòng họ Phạm Đăng.

Đã có 13 người qua đời được xây lăng mộ tại đây trong khoảng thời gian từ năm 1811 đến đầu TK 20 . Đặc biệt, trong đó có mộ của Phạm Đăng Hưng được xây dựng năm 1826 , là một kiến trúc tâm điểm, độc đáo với diện tích hơn 800 m2 cách nhà thờ khoảng 500 m phía bên phải. Tương truyền, ông Hưng được chôn ở tư thế ngồi và trong quan ngoài quách.

Mộ được xây dựng với kiểu kiến trúc hình bát giác mang dáng dấp của một chiếc mũ triều phục. Bốn trụ thấp cách điệu giữa búp sen và chiếc nón cùng biểu tượng đôi cá vượt vũ môn được đặt phía trước. Sau bức hoành phi là bốn con rồng ngự trị trên cao giương cặp mắt sáng quắc (hiện tại chỉ còn 3 con, một con bên phải đã bị hư hỏng vì thời gian). Phía dưới là hình tượng ngũ  lân (tượng trưng cho ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam; ngụ ý năm đời đều danh giá) khảm trai hình độc đáo (hiện con 3 con đã bị hư hỏng nặng phần đầu và chân).

 

Đặc biệt nơi đây có đến hai nhà bia ghi lại công trạng của Phạm Đăng Hưng, với lý do sau:

  • Nhà Bia phía bên phải mộ được làm bằng đá cẩm thạch trắng (đá Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng ) có khắc bia văn do Phan Thanh Giản soạn năm 1858. tấm bia bằng đá trắng Quảng Nam, đã mòn theo thời gian, nhưng thật kỳ lạ: phía trên có hình cây thánh giá màu đen, bên dưới là dòng chữ Pháp ghi “Đây là nơi an nghỉ của Trung úy Barbé”. Nhìn kỹ nằm ẩn phía dưới dòng chữ Pháp  là một bài văn bia chi chít chữ Hán . Chuyện kể rằng khi tấm bia được chuyển bằng thuyền từ Huế vào đến Sài Gòn thì bị đại úy  Barbé cướp tấm bia vào năm 1858 về đồn và 2 năm sau y chết, những người bạn của viên đại úy Barbé lấy tấm bia ấy làm mộ bia cho Đại úy Barbé vừa bị nghĩa quân Trương Định chém chết 1860  …….Về sau  lúc giải tỏa nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi (quận 1- TP Hồ Chí Minh) để xây dựng Công viên Lê Văn Tám . người ta thấy còn sót lại một tấm bia đá bỏ chỏng chơ. Có người phát hiện hàng chữ Nho sau hàng chữ Pháp mới báo với Bảo tàng Thành phố. Khi các nhà nghiên cứu giám định mới biết đó  là tấm bia ấy là của vua Tự Đức ban tặng cho ông ngoại Phạm Đăng Hưng. Tấm bia đã được chuyển về đúng vị trí của nó  .Tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm ( 1859 -1999 ) .

Trong tác phẩm “Scènes de la vie Annamite” (NXB P.Ollendorff Paris 1884) của 2 tác giả Le Vardier và De Maubryan có kể lại chuyện tình éo le của viên Trung úy Barbé với cô gái Bến Nghé tên Thị Ba, người của nghĩa quân Trương Định. Cô gái hẹn Trung úy Barbé ở đồn chùa Khải Tường (nay là Bảo tàng Cách mạng) đến đồn chùa Ô Ma (Pagode des Mares – Thị Nghè) vào đêm 7/12/1860. Trên đường đi, Barbé đã bị nghĩa quân Trương Định phục kích bất ngờ giết chết. Câu chuyện tình này đời nay được tái hiện trong vở cải lương nổi tiếng ở Nam Bộ có tên “Nàng Hai Bến Nghé” với diễn xuất tài năng của nữ nghệ sĩ Mỹ Châu.

 

Nhà bia phía bên trái mộ dựng tấm bia bằng đá hoa cương (đá Ganis) do vua Thành Thái  sai làm năm 1899 ,  sau khi tấm bia đầu đã bị quân Pháp chiếm đoạt. Nội dung tấm bia này giống y tấm bia trước.

 

Năm 1849, vua Tự Đức truy phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc công, cho trùng tu, mở rộng nhà thờ, xây thêm tam cấp, cổng tam quan, ban thần vị theo nghi thức cung đình

Vào năm 1888, vua Thành Thái lên ngôi, chuẩn bị vào viếng lăng nên cho trùng tu. Đến năm Khải Định 1921, trùng tu một lần nữa.

Lăng Hoàng Gia còn được gọi là khu lăng mộ của “Thích lý” theo nghĩa là của “bà con nhà vua”. Nơi đây, đã được vua Bảo Đại cùng Hoàng Hậu Nam Phương đến viếng năm 1942 , và cựu hoàng Thành Thái cũng đã đến viếng sau khi về nước năm 1947.

Khu Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân địa phương cùng các nghệ nhân cung đình từ Huế  được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế .

Sau khi phải ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (3 tháng 6  năm 1862) với thực dân Pháp , vua Tự Đức  đã sai Phan Thanh Giản  sang Pháp xin chuộc đất, một phần cũng vì lo sợ khu lăng mộ họ Phạm và khu lăng mộ họ Hồ (xem trang Hồ Văn Bôi ) ở Biên Hòa  bị đối phương xâm hại. Đến khi Hoà ước Giáp Tuất  (15 tháng 4 năm 1847) được ký giữa Pháp và Nam triều, việc bảo vệ khu hai đền mộ này được quy định tại điều khoản 5.

Ngày 2/12/1992, Bộ Văn hóa – Thông tin có quyết định công nhận Khu Lăng mộ Hoàng gia là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

 

Về Gò Công thăm lăng Hoàng gia, khám phá ra nhiều điều thú vị.

 

MỤC LỤC – GÒ CÔNG

MỤC LỤC TỔNG HỢP NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 28, 2014 in Gò Công

 

Thẻ: , , , , , ,

GÒ CÔNG

TP.HỒ CHÍ MINH – GÒ CÔNG

 

Đường gần nhất từ TPHCM về Gò Công là theo hướng đi huyện cần Giuộc – Cần Đước (Long An), qua phà Mỹ Lợi, rồi thẳng quốc lộ 50 vào thị xã. với hơn 200 ngôi nhà trên 100 tuổi còn giữ dáng cổ xưa, có thể nói Gò Công là nơi còn nhà cổ nhiều nhất không chỉ ở Tiền Giang (350 ngôi nhà cổ toàn tỉnh) mà cả ở miền Tây Nam bộ.

Thị Xã Gò công thuộc tỉnh Tiền Giang , Tên gọi Gò Công xuất phát từ vùng gò có nhiều chim công, trước đây còn có tên gọi là Khổng Tước Nguyên.

Gò Công – mảnh đất yên bình với vẻ đẹp của những cánh đồng lúa bạt ngàn, những vườn trái cây trĩu quả, những ngôi nhà cổ nguyên vẹn . Gò Công vùng đất “địa linh nhân kiệt” bởi đây là nơi đã sinh ra hai bậc mẫu nghi thiên hạ là Hoàng Thái hậu Từ Dũ và Hoàng hậu Nam Phương. Đồng thời đây cũng là quê hương của anh hùng dân tộc Bình tây Đại Nguyên soái Trương Định .

Dọc tuyến đường về Gò Công có nhiều điểm di tích cho du khách ghé tham quan như

-Lăng Hoàng Gia

-Lăng mộ Trương Định

-Nhà Đốc Phủ Hải

-Dinh Tỉnh Trưởng

-Nhà Thờ Thánh Tâm

-Làng nghề làm tủ thờ

-bãi biển Tân Thành

-Vườn trái cây Sơri

-Bánh Giá chợ Giồng

-Chè Sơn Quy

-Con móng tay

-Nghêu

-Mắm tôm chà

-Mắm còng

-Mắm tôm chua

-lạp xưởng tươi

-Các loại khô cá

-Rượu sơri

MỤC LỤC TỔNG HỢP NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 28, 2014 in Gò Công

 

Thẻ: , , , , , , ,

26 NHÀ THỜ CHÍNH TÒA GIÁO PHẬN CÔNG GIÁO VN

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 1, 2014 in VIDEO - SLIDE

 

Thẻ: , , , , , ,

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*Chùa tại Miền Trung – P 1

*Đình Làng Đức Nghĩa

*Đình Làng Bình An

*Chùa Núi

*Linh Quang Tự

*Linh Sơn Tự

*Cổ Thạch Tự

*Chùa Phật Quang

*Tu Viện Bát Nhã

*Thiền Viện Trúc Lâm

*Trúc lâm Tịnh Viện

*Chùa Tam Thai

*Chùa An lạc

*Chùa Thiên Lộc Thiền Tôn

*Chùa Cổ Lầm

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Trúc Lâm Tịnh Viện

*Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa

*Chùa Linh Sơn

*Chùa Ưu Đàm

*Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang

*Chùa Thiên Minh

*Chùa Thiền Lâm

*Chùa Thiền Tôn

*Chùa Núi Ông

*Chùa Túy Vân

*Tổ Đình Chúc Thánh

*Chùa Hang Đá Không Sư Ở Lý Sơn

*Chùa Từ Hiếu

*Chùa Đá Quán Âm

*Chùa từ Đàm

*Chùa Thạnh Lâm

*Chùa Thiên Mụ

*Chùa Diệu Đế

*Chùa Long Sơn

*Chùa Linh Sơn

*Chùa Linh Phước

*Linh Ẩn Tự

*Đền Thờ Bà Chúa Ngọc

*Chùa Ông

*Chùa Bà Thiên Hậu

*Chùa Khánh An

*Chùa Linh Phước

*Chùa Kim Tiên

*Chùa Thập Tháp Di Đà

*Chùa Minh Thành

*Chùa Khải Đoan

*Chùa Thánh Duyên

*Chùa Thiên Vương Cổ Sát 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 11, 2012 in trung bộ

 

Thẻ:

MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN NAM

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*Chùa Hội Linh

*Chùa Phước Hậu

*Chùa Linh Thứu

*Miếu Ông Bổn

*Chùa Long Hưng

*Chùa Đất Sét

*Chùa Ông bên Dòng Sông Đồng Nai

*Chùa Vạn Đức

*Chùa Ông

*Chùa Nam Nhã

*Chùa Cổ Long An

*Chùa Phật Lớn Trên Núi Cấm

*Chùa Long Hưng

*Chùa Bửu Linh

*Chùa Tam Bảo

*Bát Bửu Phật Đài

*Chùa Huệ Lâm

*Chùa Pháp Hoa

*Chùa Núi Châu Thới  

*Chùa Ấn Quang

*Chùa Hội Sơn

*Nam Thiên Nhất Trụ

*Chùa Giác Viên

*Chùa Đại Giác

*Chùa Linh Sơn Tiên Thạch

*Chùa Long Hưng

*Chùa Hội Khánh

*Chùa Long Hưng

*Tổ Đình Kim Cang

*Chùa Phật Đà

*Chùa Cổ Tôn Thạnh

*Chùa Vạn Linh

*Miếu An Sơn

*Dinh Cô Vũng Tàu

*Linh Sơn Cổ Tự

*Đình Thần Thắng Tam

*Niết Bàn Tịnh Xá

*Long Bàn Cổ Tự

*Chùa Phước Hưng

*Chùa Chén Kiểu

*Chùa Quan Thế Âm Bồ Tát

*Chùa An Phú

*Chùa Vĩnh Tràng

*Chùa Bát Chánh Đạo      

*Đình Tân Lân

*Chùa Khmer Xvay ton

*Chùa kh’leang

*Việt Nam Quốc Tự

*Chùa Giác Quang 

* Chùa Monivongsa Bopharam

*Chùa Phổ Minh Gò Vấp

*Chùa Xá Lợi

*Chùa Hang

*Chùa Dơi

*Chùa Quan Đế Bạc Liêu

*Chùa Xiêm Cán

*Chùa vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm

*Thích ca Phật Đài

*Tây An Châu Đốc

*Chùa Bà Thiên Hậu

*Chùa Giác Lâm 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Sáu 11, 2012 in nam bộ

 

Thẻ: