RSS

Category Archives: DI SẢN THẾ GIỚI

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI

*Sông Hương Núi Ngự

*Lăng Tẩm Các Vua Nhà Nguyễn

*Lăng Khải Định

*Tử Cấm Thành

*Tả Vu – Hữu Vu

*Vạc Đồng

*Điện Kiến Trung

*Điện Cần Chánh

*Thái Bình Lâu

*Duyệt Thị Đường

*Hoàng Thành

*Ngọ Môn

*Điện Thái Hòa

*Lầu Tứ Phương Vô Sự

*Điện Phụng Tiên

*Triệu Miếu

*Hưng Miếu

*Cung Diên Thọ

*Thái Tổ Miếu

*Thế Tổ Miếu

*Cung Trường Sanh

*Hiển Lâm Các

 *Cửu Đỉnh

*Đàn Xã Tắc 

*Các Di Tích tại Kinh Thành Huế

*Kỳ Đài

*Cửu Vị Thần Công

*Trường Quốc Tử Giám

*Hồ Tịnh Tâm

*Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế

*Đình Phú Xuân

*Điện Long An

*Viện Cơ Mật Tam Tòa

*Tàng Thư Lâu

*Các Di Tích Tại Thành Huế

*Nghênh Lương Đình

*Cung An Định

*Trấn Hải Thành

*Điện Hòn Chén

*Điện Voi Ré

*Hổ Quyền

*Đàn Nam Giao

*Võ Miếu

*Văn Miếu

*Trấn Bình Đài

*Tòa Thương Bạc

*Phu Văn Lâu

*Di Sản Văn Hóa  Quần Thể Di Tích Cố Đô Huế

*Giá Trị Khảo Cổ – Lịch Sử  – Văn Hóa Vườn Quốc Gia PNKB

*Hệ Thống Sông Ngòi & Đỉnh Núi

*Hệ Thống Hang Động Trong Vườn Quốc Gia PN KB

*Di Sản Thiên Nhiên Vườn Quốc Gia PNKB

*Núi Bài Thơ

*Bãi tắm – Bãi Cháy

*Bãi Tắm Tuần Châu – Bãi Tắm Ngọc Vừng

*Bãi Tắm Quan Lạn  – Bãi Tắm Titop

*Bãi Tắm

*Hòn Sư Tử Biển – Hòn Thiên Nga & Hòn Trống Mái

*Hòn Oản & Hòn Soi Sim

*Hòn Đũa & Hòn Ngón Tay

*Hòn Đỉnh Hương & Hón Mặt Quỷ

*Hòn Ấm & Hòn Đầu Người

*Hòn Xếp

*Hang Hanh

*Hang Luồn

*Hang Trinh Nữ

*Hang Sửng Sốt

*Hang Bồ Nâu

*Hòn Yên Ngựa …..

*Đảo Thẻ Vàng & Đảo Rều

*Đảo Titop

*Đảo Ngọc Vừng

*Đảo Đầu Bê

*Đảo Cống Tây

*Đảo Bồ Hòn

*Đảo Cống Đỏ

*Đảo Quan Lạn

*Đảo Tuần Châu

*Đảo Ba Mùn

*Hồ Ba Hầm

*Động Kim Quy

*Động Tam Cung

*Đông Mê Cung

*Đông Thiên Cung

*Các Quần Đảo Trong Vịnh Hạ Long 

 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Sáu 5, 2012 in DI SẢN THẾ GIỚI

 

Nhãn:

SÔNG HƯƠNG – NÚI NGỰ

SÔNG HƯƠNG , NÚI NGỰ

Sông Hương có hai ngọn nguồn , nguốn Tả Trạch và nguồn Hữu Trạch . Nguồn Hữu Trạch đến ngã ba Bằng lãng hợp dòng với Tả Trạch thánh sông Hương ra cửa biển Thuận An .


Sông Hương dài khoảng 30km , dòng sông uốn lượn quanh co giữa núi rừng , đồi cây mang theo hương thơm của thảo mộc rừng nhiệt đới , chầm chậm lướt qua các làng mạc xanh tươi , rợp bong cây của Kim Long , Nguyệt Biểu , Vĩ Dạ , Đông Ba , Gia Hội , Chợ Dinh , Nam Phố ,Bảo Vinh  quyện theo hương thơm của các loài hoa . Trên dòng Hương Giang những con thuyền xuôi ngược , dọc ngang với điệu hò man mác , trầm tư , sâu lắng trong đêm . Ngồi trên thuyền để được ngắm cảnh Hương Giang thơ mộng , nghe những điệu hò , dân ca xứ Huế lúc trời đêm thanh vắng là những phút giây sảng khoái với nhiều du khách .


Cùng với sông Hương , núi Ngự Bình là món quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa của tạo hóa cho vùng đất Huế , chúng dựa vào nhau , bổ sung cho nhau , tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của thành phố Huế . Từ lâu , ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế . Người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương – núi Ngự , miền Hương Ngự cũng vì vậy .

Núi Ngự Bình cao 105m , dáng cân đối uy nghi . Hai bên núi Ngự Bình ( Bằng Sơn ) có hai ngọn núi nhỏ chầu vào nhau gọi là Tả bật Sơn và Hữu bật Sơn . Đây từng được coi là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kỳ thú . Vào những ngày đẹp trời , đừng trên đỉnh Ngự Binh, có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố , cung điện nguy nga ,mái chùa cổ kính và dòng Hương Giang như một dải lụa xanh biếc uốn lượn quanh chân đồi Vọng Cảnh .Dưới chân núi là các quả đồi thấp với rừng thông bát ngát , tiếp đến một vùng đồng bằng rộng lớn , xa xa là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẳm ẩn hiện sau những tấng mây bạc , về phía đông là dải cát mờ của biển Thuận An và màu xanh thăm thẳm của biển Đông . Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn mới thấy hết vẻ đẹp nên thơ , nên hoa của một ngọn đồi , một khúc sông , một góc trời Huế .

Theo TCDL Việt Nam.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 

Nhãn: , , , , ,

LĂNG TẨM CÁC VUA NHÀ NGUYỄN

Lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Là những kỳ quan được thiết kế xây dựng rất kỳ công trong những không gian hoành tráng hùng vĩ , hài hòa với những cảnh quan thiên nhiên một cách tuyệt vời ,bố cục tạo hình gợi cảm tiết điệu , có giá trị thẩm mỹ cao , tùy thuộc tư tưởng từng cá tính của mỗi vị vua . các lăng phản ánh tâm linh , quan niệm vĩnh cửu và huyền bí phương đông . Theo quan niệm phương đông khi lên ngôi , các vị vua đều nghĩ tới chuyện xây dựng lăng tẩm , nơi an nghỉ cuối cùng ‘’tức vị trị quan’’đấy là nguyên tắc của các vị đế vương .

LĂNG GIA LONG (Thiên Thọ Lăng )

Lăng Gia long còn gọi là Thiên Thọ Lăng ,bắt đầu được xây dựng năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn thành .Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến . Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi , núi lớn nhỏ , trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này .

Đồ án công trình bố cục theo chiều ngang ,trải rộng mênh mông , không có đình tả và thành .Tổng thể điện Minh Thành bao gồm tẩm điện , sân chầu ,tượng đá voi ngựa, quan chầu ,bia thánh đức thần công .

Bao quanh cảnh núi đồi hùng vĩ giống như một vòng thành thiên nhiên , với núi Thiên Thọ gồm 42 ngọn đồi ,khu mộ hợp táng vua và Hoàng hậu là sự độc đáo của công trình lăng ở phương đông . cảnh quan thiên nhiên hòa quyện với kiến trúc .Con người làm chủ thiên nhiên trong sự hài hòa có tính chất chiều sâu tâm linh nội tại . Một chuyên gia UNESCO đã nhận xét rằng “ lăng Gia Long ở giữa một khu vườn thiên nhiên bao la và gợi nên ấn tượng hoành tráng và thanh thoát .



LĂNG MINH MẠNG (Hiếu Lăng)

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1840 đến năm 1843 để chon cất vua cha Minh Mạng .Lăng nằm trên núi Cẩm Khê , gần ngã ba Bằng Lăng , là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12km .

Lăng Minh mạng , với đồ án chữ Minh của mặt bằng hồ , cùng những công trình kiến trúc theo trật tự thẳng trục thần đạo , có tính chất uy nghiêm hùng vĩ , đã phản ánh tư tưởng trung ương tập quyền của vị hoàng đế này .lăng Minh Mạng được coi là một trong những công trình lăng tẩm đạt đỉnh cao của sự hài hòa đối xứng và bất đối xứng của trật tự nghiêm ngặt tạo sự hoành tráng uy nghi , đặc biệt tẩm (khu mộ khối hình tròn thành cao tượng trưng cho mặt trời biểu tượng thiên thể )



 

LĂNG THIỆU TRỊ (Xương Lăng )

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh , xã Thủy Bằng , huyện Hương Thủy . Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chon cất vua cha Thiệu Trị . So với Lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị . Lăng Thiệu Trị có những nét riêng . Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng tây Bắc .một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung đình và lăng tẩm thời Nguyễn .

Là sự thay đổi không gian qua biến thể cấu trúc kết hộp giữa đồ án hoành của lăng Gia Long và trục đứng đạo đến khu mộ của lăng Minh Mạng để tạo ra bố cục mới đặt cụm kiến trúc sân chầu , nhà bia ,bửu thành song song viên chính và vẫn giữ vẻ uy nghi , quy mô hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên



 

LĂNG TỰ ĐỨC (Khiêm Lăng )

 

Lăng tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình , phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thương ,Tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba , xã Thủy Xuân , thành phố Huế ).

Tuy không có sự kế thừa nhưng đã phá vỡ không gian tạo hình , không giống những lăng các vị tiên đế . Đồ án uyển chuyển , nhịp nhàng , tạo nhịp điệu đầy chất thơ hòa quyện trong không gian thiên nhiên đầy thông ,hồ nước chảy quanh ,đặc biệt điễm tô thêm nhà thủy tạ , duyên dáng soi bóng trên mặt hồ sen ,một nhà bia với tấm văn bia đồ sộ biểu lộ tâm trạng bi quan của nhà vua .Lăng phản ánh tâm hồn phóng khoáng , lãng mạn của một vị vua thi sĩ đã có nhiều trước tác về thơ văn có giá trị văn học . Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn .Ở đó quanh năm có suối chảy , thông reo , muôn chim ca hát .yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét . Không có những con đường thẳng tắp ,đầy góc cạnh như những kiến trúc khác , thay vào đó là con đường lát gạch bát tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn ,rồi uốn lượn quanh co ,ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh . Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng , diễm lệ .




LĂNG ĐỒNG KHÁNH (Tư Lăng )

Lăng Đồng Khánh tọa lạc giữa vùng quê tĩnh mịch ,thuộc làng Cư Sĩ , xã Dương Xuân ngày trước ( nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân , thành Phố Huế ). Ông vua vắn số này yên nghỉ giữa một vị thế nồng ấm tình cảm gia đình . chung quanh ông là lăng mộ của bà con quyến thuộc. Lăng Tự Đức ( bác ruột và là cha nuôi), Lăng Kiến Thái Vương ( cha ruột), lăng bà Từ Cung (con dâu ), lăng à Thánh Cung (vợ). Xa hơn là lăng tá Thiên Nhân Hoàng Hậu ( bà cố nội ) , lăng Thiệu Trị ( ông nội )…âu đó cũng là sự bù đắp cho vị vua kém may mắn này .

Sau khi lên ngôi , Đồng Khánh thấy lăng mộ của cha mình ở Cư Sĩ chưa có điện thờ nên sai bộ công dựng điện truy Tư cạnh đó để thờ cha . điện Truy tư khởi công vào tháng 2 năm 1888, đến tháng 10 năm đó hoàn tất phần căn ản . Đồng Khánh rước bài vị của Kiên Thái Vương về thờ trong điện , đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh công trình . Thế nhưng , trong khi công việc kiến trúc đang tiếp tục thì Đồng Khánh mắc bệnh và đôt ngột qua đời . Vua Thành Thái ( 1889-1907)kế vị trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn , kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm , đành lấy điện truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh . Thi hài nhà vua cũng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn , cách điện Ngưng Hy 30m về phía tây . Toàn bộ khu lăng tẩm được gọi tên là Tư lăng .

Tháng 8 năm 1916 , sau khi lên ngôi được 3 tháng , vua Khải Định (1916-1925), con trai vua Đồng Khánh đã tu sửa điện thờ và xây cất lăng mộ cho cha mình . Toàn bộ khu lăng mộ từ bái Đình , Bi Đình đến Bửu Thành và Huyền Cung đều được kiến thiết dưới thời Khải Định .đến tháng 7-1917 mới hoàn thành .Riêng điện ngưng Hy cùng Tả , Hữu Tùng Viện ,tả , Hữu Tùng Tự tiếp tục được tu sửa cho đến năm 1923 .

Ra đời trOng quá trình dài như thế, lăng Đồng Khánh mang dấu ấn hai trường phái kiến trúc của hai thời điểm lịch sử khác nhau . Nếu phong cách cổ truyền thực sự dừng chân trong kiến trúc lăng tự Đức và phong cách hiện đại được thể hiện rõ nét trong kiến trúc lăng Khải Định sau này ,thì lăng đồng Khánh là một bước trung chuyển .


LĂNG DỤC ĐỨC (An Lăng )

Sauk hi vua Tự Đức băng hà, triều thần đã đưa Ưng chân lên ngai vàng vào ngày 19-7-1883, y theo di chiếu truyền ngôi của vua Tự Đức . Chưa kịp đặt niên hiệu , vị vua trẻ được đặt tên theo tư thất của mình là Dục Đức , nhưng chỉ vài ngày sau , Vua Dục Đức đã bị truất phế vì tội dám lược bỏ một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế và bị tống vào ngục thất . Ngày 24-10-1884 ông vua bất hạnh này bị chết đói trong nhà ngục , thi hài được gói trong một chiếc chiếu giao cho hai tên lính và một viên quyền suất gánh đi chôn ‘’đám tang ‘’của ông vua xấu số này được đưa về An Cựu để mai tang trong địa phận chùa Tường Quang (chùa do một người thân bên vợ của vua Dục Đức lập ra năm 1817) gần đến nơi thì thi hài nhà vua bị rớt giữa đường do đứt dây ,một người lính đã chạy vào chùa Tường Quang mời nhà sư trụ trì ra giải quyết .cuối cùng mọi người nhất trí chọn mảnh đất ‘’thiên tang ‘’đó làm nơi an nghỉ đời đời của vua Dục Đức.

Sáu năm sau, con trai vua Dục Đức là Bửu Lân lại được đưa lên làm vua .Sau khi tức vị , Bửu lân đặt niên hiệu là Thành Thái (1889-1907) và bắt đầu cho xây đắp lăng mộ của vua cha ngay trên nấm mồ ‘’thiên táng ‘’đó .lăng được xây dựng vào đầu năm 1890 ,đặt tên là An Lang nhưng chưa có điện thờ .vào năm Thành Thái thứ 11 (1899) nhà vua cho xây dựng điện Long Ân phía hữu lăng mộ , làm nơi thờ cúng vua cha .Ngoài điện Long Ân , nhà vua còn cho xây cất các công trình phụ như tả , hữu Phối Đường (trước) tả , Hữu Tùng Viện (sau ) dành cho bảy bà vợ thứ của vua cha ăn ở , lo việc thờ phụng hương khói .

 


LĂNG KHẢI ĐỊNH ( Ứng Lăng )

Lăng Khải Định còn gọi là Ứng lăng tọa lạc trên triền núi Châu Chữ ( còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định , vị vua thứ 12 của Triều Nguyễn . Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi .Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bị sự pha trộn kiến trúc đông tây kim cổ lạ thường , vì các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo .

Toa6 lạc tại vị trí này , lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án , lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm ‘’tả Thanh Long ‘’và ‘’Hữu Bạch Hổ’’, có khe CHâu Ê chảy từ trái qua phải làm thủy tụ gọi là ‘’minh đương’’ . Nhà Vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẫm vùa là ‘’mặt bằng’’của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo núi : Ứng Lăng

Lăng khởi công ngày 4-9-1920 và kéo dài trong 11na8m mới hoàn tất lăng . Lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn :117mx 48,5m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian . Người đời sau thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới , cái lạ , cái độc đáo , cái ngông nghênh , lạc lõng …tạo ra từ phong cách kiến thức . Toàn cảnh lăng Khải Định nhìn có môt cái gì nó vừa quen , vừa lạ . Tổng thể của lăng là một khối hình chữ nhật vươn cao với 127 bậc cấp như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này . sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc : Ấn Độ Giáo , Phật Giáo , Roman , Gothicque…đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể .: những trụ cổng hình tháp ,ảnh hưởng từ kiến trúc A7n1 Độ , trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật ,hang rào như những cây thánh giá khẳng khiu, nhà bia và những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể …Điều này là kết quả của hai yếu tố : sự giao thoa văn hóa đông tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định .


 

CHÙA THIÊN MỤ

 

Chùa Thiên Mụ hay là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương , cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây . Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601) đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn đầu tiên ở đàng trong.Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất ở Huế .

Truyền thuyết kể rằng , khi chúa Hoàng vào làm trấn thủ xứ Thận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam , ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp. Xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này . Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương , ngược lên phía đầu nguồn , ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc , thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại , ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê .

Người dân địa phương cho biết nơi này ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi , nói với mọi người :

‘’rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí ,làm bền long mạch , cho nước nam hùng mạnh ‘’. Vì thế nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.

Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng .Nguyễn Hoàng cả mừng ,vào năm 1601 đã cho dựng một ngôi chú trên đồi , ngoảnh mặt ra sông Hương , lấy tên là Thiên Mụ .

 

Năm 1862 dưới thời vua Tự Đức để cầu mong có con nối dõi , nhà vua sợ chữ Thiên phạm đến trời , nên cho đổi từ Thiên Mụ thành Linh Mụ (hay bà mụ linh thiêng ).

Vấn đề kiêng cữ như đã nêu chỉ diễn tiến từ năm nhâm tuất (1862) cho tới năm kỷ tỵ(1869). Sau đó người dân thoải mái gọi hai tên : chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ.

Vì rằng từ ‘’Linh’’ đồng nghĩa với ‘’thiêng ‘’, âm người Huế khi nói ‘thiên’nghe trại ‘thiêng ‘’, nên khi người Huế nói ‘’Linh Mụ”, “thiên Mụ”hay “thiêng Mụ” thì người nghe đều hiểu là muốn nhắc đến chú này .

Một số người còn đặt tên cho chùa là Tiên Mụ (hay bà mụ thần tiên) cách gọi này không được giới nghiên cứu chấp nhận.

 


 

Dưới thời chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong , chùa được xây dựng lại quy mô hơn . năm 1710 , chúa Quốc cho đúc một chiếc chuông lớn , nặng tới trên hai tấn , gọi là Đại Hồng Chung ,có khắc một bài minh trên đó .Đến năm 1714 chúa Quốc cho đại trùng tu chùa vì hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như Điện Thiên Vương ,Điện Đại Hùng , nhà thuyết pháp , lầu tàng kinh ,phòng tăng , nhà Thiền …mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Chúa Quốc còn đích thân viết bài văn , khắc vào bia lớn ( cao 2m60 rộng 1m2)nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây , việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bài kinh Phật đưa về đặt tại lầu tàng kinh , ca tụng triết lý của đạo phật , ghi rõ sự tích của Hòa Thượng Thạch Liêm , người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật Giáo ở đàng trong .Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn , trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp .

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó , chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ đàng trong . trải qua bao biến cố lịch sử . Chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn tế trời , dưới triều Tây Sơn ( khoảng năm 1788) rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới các triều vua nhà Nguyễn .Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ”của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long ,bà nội vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn , xây thêm ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên ), đình Hương Nguyên và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp , đình và các bài thơ văn của nhà

 

Tháp Phước Duyên

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ . Tháp cao 21m , gồm 7 tầng , được xây dựng phía trước chùa vào năm 1844.Mỗi tầng tháp đều có tượng Phật .Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng ,nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng .Phía trước tháp là đình Hương Nguyện , trên nóc đặt pháp luân ( bánh xe pháp luân , biểu tượng phật giáo , Pháp luân đặt trên đình Hương Nguyện quay khi có gió thổi) . trận bão năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề ,nhiều công trình bị hư hỏng trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn (nay vẫn còn dấu tích ) .năm 1907 Vua Thành Thái cho xây dựng lại , nhưng chùa không còn to lớn như trước nữa .Hai bên tháp có hai nhà tứ giác ,một nhà để bia và một nhà để quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu .


 

PHÁP LAM HUẾ

ĐỨC CHÍNH

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

LĂNG KHẢI ĐỊNH ( ỨNG LĂNG )

LĂNG KHẢI ĐỊNH

Vua khải Định tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo , sinh ngày 8-10-1885 ( 1/9 Ất dậu ) là con trai trưởng của vua Đồng Khánh.Sau khi vua Duy tân bị đày đi Phi Châu , người Pháp đưa Bửu Đảo lên ngôi vua ở tuổi 31 , trở thành vị vua thứ 12 của triều Nguyễn , lấy niên hiệu Khải Định.

Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế.

Từ khi lên ngôi , vua Khải Định dành nhiều công sức để lo việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng. Mà quên đi trách nhiệm của vị Thiên tử , giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của thực dân pháp , chấn hưng kinh tế nước nhà . Khải Định trị vì được 9 năm đến năm 1925 thì băng hà , thọ 40 tuổi . Vua Khải Định chỉ có một người con là vua Bảo Đại .

Để xây dựng sinh phần cho mình, Khải Định đã tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý cuối cùng đã chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Ở vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.

Lăng khởi công ngày 4 tháng 9 năm 1920 do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy và kéo dài suốt 11 năm mới hoàn tất. Tham gia xây dựng lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng… Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động này của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt

So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn hơn: 117 m × 48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise…, cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu… để kiến thiết công trình.

Về tổng thể, lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao có 127 bậc cấp. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… đã để lại dấu ấn trên những công trình

Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông – Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định.

Vào lăng phải vượt qua 37 bậc cấp hai bên thành đắp rồng rất lớn , trên sân có hai dãy Tả- Hữu tong tự , ở hai bên xây kiểu chồng diêm hai lớp , tám mái , nhưng các vì kèo được làm bằng xi măng cốt thép . Vượt 29 bậc nữa đến bái Đình ( sân chầu ) , giữa là nhà bia xây kiểu bát giác , chất liệu bê tông cốt thép , phong cách cổ kim , trong đặt bia đá . Hai bên sân , mổi bên có hai hàng tượng hướng mặt vào giữa sân. Bên những bức tượng với hình dáng giống như tượng ở các lăng khác , có thêm 6 cặp tượng lính túc vệ được đặt đối xứng . Các tượng này làm bằng đá hiếm và đều có khí sắc . hai cột trụ biểu cao to , rất uy nghi . Trên cùng là điện thờ , từ bái Đình lên khu điện thờ phải qua 15 bậc nửa . Điện khải Thành là phòng chính của cung Thiên Định , liên hoàn với nhau , toàn bộ nội thất ba phòng giữa ở cung thiên Định đều trang trí phù điêu ghép bằng gốm, sứ hay thủy tinh màu , trên trần là bức tranh cửu long ẩn hiện trong mây , trên các bức tường đều trang trí tranh ghép kính sứ , dưới nền lát gạch men hoa , tạo nên một không gian nghệ thuật .

Toàn bộ trang trí bên trong cung Thiên Định không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, nghệ thuật mà còn đề cập đến vấn đề nhận thức, chủ đề tư tưởng của công trình và ý muốn của nhà vua. Bên cạnh các đồ án trang trí rút từ các điển tích Nho giáo và cuộc sống của chốn cung đình, còn có những đồ án trang trí của Lão Giáo và đặc biệt là hàng trăm chữ Vạn – một biểu trưng của nhà Phật được đắp bằng thủy tinh xanh trên tường hậu tẩm. Phải chăng đó là sự thể hiện “Tam Giáo đồng hành” trong tư tưởng của vua quan và Nho sĩ đương thời? Phải chăng nhà vua cũng mong muốn được thư nhàn lúc về già và được nhập Niết Bàn, được siêu thoát sau khi băng hà ? Hay đó là sự bế tắc về tư tưởng của Khải Định nói riêng và tầng lớp quan lại thuở đó. Tất cả là những gợi mở đầy thú vị để du khách chiêm nghiệm mỗi khi tham quan công trình này.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Nhờ những đóng góp của ông và bao nghệ nhân dân gian tài hoa của nước Việt, lăng Khải Định đã trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.

Cho dù bị lên án dưới nhiều góc độ khác nhau, lăng Khải Định đích thực là một công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế, xứng đáng với đôi câu đối đề trước Tả Trực Phòng trong lăng:

“Tứ diện hiến kỳ quan, phong cảnh biệt khai vũ trụ.

Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư.

(Bốn mặt đều là kỳ quan, phong cảnh mở ra một vũ trụ biệt lập.

Muôn năm hun đúc nên vượng khí, núi sông giúp đỡ mãi hoài).”

Phòng sau của điện Khải Thành là Chính Tẩm . Một cái bửu tán mềm mại như bay trong gió , nhưng ít ai biết được rằng nó được làm bằng bê tông cốt thép chứ không phải là nhung lụa . Dưới bửu tán là tượng vua Khải Định bằng đồng kích thước bằng người thật , đúc tại Pháp năm 1920 . Tượng do 2 người Pháp là P.Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua. . Trong cùng là khám bài thờ đặt bài vị của ông .

Lăng Khải Định là một công trình kiến trúc nghệ thuật khác hẳn với phong cách lăng tẩm của các vua triều Nguyễn trước đó . Đây là một công trình có giá trị lịch sử -kiến trúc- nghệ thuật ở giai đoạn đầu thế kỷ 20.

Trang Di Sản Huế

 

 

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

TỬ CẤM THÀNH

TỬ CẤM THÀNH

tử cấm thành huế 2

Vòng tường thành thứ 3 của Kinh đô Huế, giới hạn khu vực làm việc, ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia. Tử Cấm thành nguyên gọi là Cung Thành, được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 (1803), năm Minh Mạng thứ 2 (1821) đổi tên thành Tử Cấm Thành. Thành có bình diện hình chữ nhật, cạnh nam, bắc dài 341m, cạnh đông, tây dài 308m chu vi 1300m. Tường thành xây hoàn toàn bằng gạch vồ, dày 0,7m, cao 3,7m. Ở mặt trước, phía nam là cửa chính Đại Cung Môn, kết cấu hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói lưu li vàng. Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng (trước năm 1821 mang tên Tường Lân). Thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở thêm cửa Văn Phòng. Mặt đông có hai cửa Hưng Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường (ở mặt này cũng mở thêm cửa Cấm Uyển nhưng rồi lại lấp). Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Tất cả các cửa thành ở ba mặt đông, tây, bắc đều xây bằng gạch và vôi vữa, mái chồng nhiều tầng, làm giả ngói. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia làm nhiều khu vực. Nay hầu như không còn ,sau đây là một số công trình chính

*ĐẠI CUNG MÔN : là tòa nhà 5 gian có công năng như một cái cổng ở mặt hướng nam, nơi dành riêng cho vua qua lại , nay không còn .

*ĐIỆN CẦN CHÁNH : nằm đối diện Đại Cung Môn , 7 gian hai chái, là nơi vừa làm việc hàng ngày và thiết thường triều 4 lần trong một tháng. Công trình này được xây dựng tinh xảo nhất ,đẹp nhất ở kinh thành Huế , nay không còn

*TẢ VU , HỮU VU : là hai ngôi nhà 5 gian hai chái , là nơi các quan ngồi chờ khi lâm triều

*ĐÔNG CÁC VÀ TỤ KHUÊ THƠ CÁC :nằm phía sau Tả Vu , là hai thư viện lưu giữ những tài liệu đặc biệt , sách quý của vua ,các công trình này không còn

*ĐIỆN VĂN MINH VÀ VÕ HIỂN :nằm ở hai bên điện Cần Chánh , là nơi vua họp riêng với các quan văn , quan võ , các công trình này không còn

*ĐIỆN CÀN THÀNH : tòa nhà 9 gian 2 chái , nơi ở và sinh hoạt riêng của bà Hoàng Qúy Phi ,vợ chính của vua , công trình này không còn

*ĐIỆN DƯỠNG TÂM :nằm ở phía bên trái viện sân điện Khôn Thái , là nơi vua đến nghỉ ngơi , thư giãn khi rảnh rỗi , công trình này không còn

*LỤC VIỆN : Là 6 viện nằm bên phải điện Khôn Thái ,: Đoan Chính , Đoan Huy , ĐoanTrang , Đoan Tường , Đoan Thuận và Đoan Hòa, là nơi ở và sinh hoạt của các bà vợ vua từ cấp Tần trở xuống, các công trình này không còn

*VIỆN TỊNH QUANG :nằm phía trái điện Khôn Thái , nơi xem hát của vua

*LẦU KIẾN TRUNG :tòa nhà dành riêng cho vua Khải Định , sau là cả gia đình vua Bảo Đại , công trình nảy không còn

*LẦU NGỰ TIỀN VĂN PHÒNG :nằm bên trái lầu Kiến Trung , là nơi làm việc của nhân viên văn phòng giúp việc vua, công trình này không còn

*THÁI BÌNH LÂU VÀ DUYỆT THỊ ĐƯỜNG :là nơi vua đọc sách , nghỉ ngơi , nghe hát

ĐỜI SỐNG TRONG TỬ CẤM THÀNH:

Hoàng đế:

Làm việc: Vua làm việc một mình tại chái đông viện Cấn Chánh, có vài thị nữ đứng hầu để mài son, đốt thuốc, dâng trà hay truyền lệnh cho các quan. Sớ tấu từ các tỉnh gửi về, nếu không quan trọng thì giao cho các đại thần ( về sau là các Bộ), chỉ có sớ tấu quan trọng mới dâng cho vua. Điện Cần Chánh là nơi thiết triều, tiếp đón các sứ bộ hay tổ chức tiệc tùng trong các dịp khánh hỷ.

Ăn, ngủ: Vua ăn và ngủ ở điện Càn Thành. Vua ăn mỗi ngày ba bữa, có năm cung nữ đứng hầu. Thực đơn mỗi bữa 50 món, mỗi món do một đầu bếp nấu. Thức ăn đựng trong một bình kín, bên ngoài có nhãn ghi tên thức ăn, Đến đời Khải Định chỉ còn 35 món. Theo lệ vua chỉ ăn một mình, Hoàng qúi phi cũng không được ăn chung. Đến đời Duy Tân, vua cho phép Quý phi là bà Mai Thị Vàng ngồi ăn chung. Vua Bảo Đại cũng cho Hoàng hậu Nam Phương và các hoàng tử, công chúa cùng ăn chung.

Hàng ngày có 30 cung nữ hầu vua, chia nhau canh gác; chỉ có năm người luôn ở cạnh vua để trang điểm, thay quần áo, chải chuốc móng tay, xức dầu, vấn khăn lụa…Khi vua ngủ, năm người này quạt hầu, đấm bóp, têm trầu, vấn thuốc và một người hát nhỏ để ru vua ngủ.

Tiêu khiển: Vua Minh Mạng ưa cảnh biển. Vua Tự Đức thường chơi “Đầu hồ”, vua Duy Tân thường chơi “đánh lũ” với các cô em của phi. Thĩnh thoảng vua cởi ngựa ra khỏi Tử Cấm thành để dạo chơi. Vua Thiệu trị yêu các danh lam thắng cảnh. Vua Tự Đức thích săn bắn, có lần gặp trận lũ nên về muộn, bị mẹ là bà Từ Dũ quỡ trách. Các vua triều Nguyễn thích xem hát hội ở Duyệt Thị Đường. Đây là nhà hát lớn nhất trong hoàng cung dành riêng cho vua và hoàng hậu. Vua Thành Thái không chỉ đánh trống chầu giỏi mà thỉnh thoảng còn lên sân khấu diễn tuồng.

Vương phi, Cung phi

Hoàng quí phi( cũng như Hoàng hậu) ở trong cung Khôn Thái. Vua Minh Mạng chia phi tần ra làm chín bậc: nhất giai phi, nhị giai phi, tam giai tần, tứ giai tần, ngũ giai tần, lục giai tiệp dư, thất giai quí nhân, bát giai mỹ nhân, cửu giai tài nhân. Dưới cùng là cung nữ.

Cung Khôn Thái là nơi dành riêng cho Hoàng quí phi. Điện Trinh Minh là nơi ở của các bà phi. Viện Thuận Hy là nơi ở của các bà tần. Ngoài ra còn có các viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Trang và Đoan Trường là chổ ở của Tiệp dư, Quí nhân, Mỹ nhân, Tài nhân và cung nữ.

Cuộc sống của các phi tần trong Tử Cấm thành rất nhàn hạ nhưng mức sống cao hay thấp tùy theo cấp bậc và sự sủng ái của vua. Có những cung nữ trẻ trung, xinh đẹp, duyên dáng được vua sủng ái có thể nhảy một lần 3,4 bậc. Từ khi được tuyển vào cung, các phi tần không được gặp cha mẹ, người thân, trừ một vài trường hợp đặc biệt được trò chuyện với mẹ qua một bức màn sáo trong khi cha phải đứng chò ngoài sân. Người Huế có câu” Đưa con vô nội” có hàm ý là đã mất con.

Thái giám (Hoạn quan):

Ở Việt Nam, thái giám đã có từ triều Lý đến triều Nguyễn. Trong việc tuyển chọn thái giám, người ta ưu tiên những trẻ em “ái nam ái nữ”. Người dân nào sinh con có khuyết tật ở bộ phận sinh dục, được gọi là “Ông Bộ”, thì phải khai với quan sở tại để khám xét rồi làm sớ tâu lên vua. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con đến 12 tuổi rồi được Bộ Lễ đưa vào cung tập sự làm thái giám. Làng nào có thái giám sẽ được miễn phu phen, tạp dịch và sưu thuế. Cha mẹ đứa bé làm thái giám được triều đình ban thưởng trọng hậu. Nếu trẻ “ái nam ái nữ” không đủ số, người ta mới tuyển những người tình nguyện tinh thân ( tự hoạn hay tự yếm). Khi vào cung, các thái giám phải trải qua một thời gian học tập các nghi thức để biết cách phục vụ vua và các phi tần. Công việc mệt nhọc nhất của các thái giám là lo chuyện ân ái của vua. Mỗi đêm, thái giám nộp danh sách các phi tần cho vua chọn. Thái giám sẽ treo lồng đèn đỏ trước cung của cô nào được vua chấm. Cô phải tắm rửa sạch sẽ, thái giám mang một tấm chăn vào quấn quanh người cô, mắt nhắm nghiền, không một mảnh vải che thân, vác qua những dãy hành lang dài hun hút đến phòng vua, nhẹ nhàng đặt lên giường rồi lui ra ngoài khép cửa lại. Thái giám phải ghi chép tỉ mỉ họ tên, ngày giờ phi tần được vua lâm hạnh để sau này nếu có thai thì tính xem có đúng ngày tháng hay không. Một số thái giám được điều sang phục dịch các cung phi góa bụa của các vua đời trước tại các lăng tẩm. Dưới triều Gia Long, các thái giám vẫn được tham gia quốc sự như Tả quân Lê Văn Duyệt. Nhưng sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt, ngày 13.3.1836, vua Minh Mạng ban bố một tờ dụ khắc vào bia đá ở Văn Miếu, quy định các thái giám tuyệt đối không được tham gia triều chính.

Để phân biệt với các quan lại, thái giám được cấp một trang phục riêng bằng lụa xanh dệt hoa trước ngực, đội mũ cứng hoặc khăn đóng. Thái giám cũng có nhiều cấp bậc. Khi sống, họ phục dịch trong Tử Cấm thành. Khi đã già yếu, họ phải rời hậu cung ra dưỡng bệnh hoặc nằm chờ chết tại một tòa nhà ở phía bắc hoàng thành gọi là cung Giám Viện. Do thiếu thốn về tình cảm, các thái giám thường tìm đến nhau lúc tuổi xế chiều. Cũng có những thái giám gian díu với những cung nữ đã bị thất sủng để tìm chút hơi ấm của cuộc đời, nhưng họ không bao giờ có con với nhau. Trên đồi Dương Xuân ( nay thuộc làn Thủy Xuân), cách hoàng thành 5 km về phía tây nam, có một ngôi chùa tên là chùa Từ Hiếu, còn gọi là “chùa Thái giám”. Từ Hiếu là ngôi chùa có cảnh trí thơ mộng, đường vào chùa đầy thông reo vi vút. Trước chùa có một con suối nhỏ chảy róc rách quanh năm. Các thái giám về già hoặc bị thất sủng thường đến đây tu hành. Ngày nay, bên phải chùa Từ Hiếu vẫn confkhu nghĩa trang thái giám gồm 23 ngôi mộ và hai ngôi mộ gió ( chưa chôn ai). Trước cổng nghĩa trang phủ đầy rêu cón dựng một tấm bia từ đời Thành Thái thứ 3 do Cao Xuân Dục soạn, ghi lại tâm trạng của thái giám rất cảm động:” Trong khi sống, chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên bình. Khi đau ốm, chúng tôi lui về đây để lánh mình va sau khi chết, chúng tôi sẽ được chôn chung ở đây. Dù sống hay chết, chúng tôi vẫn tìm thấy ở đây sự yên bình”.

Triều Nguyễn có một vị hoạn quan nổi tiếng là Tả quân Lê Văn Duyệt (1763-1832), một khai quốc công thần, nay mộ ông còn tại TPHCM, dân gian gọi là Lăng Ông Bà Chiểu.

TẠI SAO ĐẶT TÊN TỬ CẤM THÀNH?

Người xưa tin rằng ở trên trời, Ngọc Hoàng thượng đế cũng có cung điện như ở dưới trần, nhưng quy mô to lớn hơn, rực rỡ, lộng lẫy hơn. Cung điện ấy được gọi là Tử Vi Viên. Vua ở dưới cõi trần tin rằng mình là con của Trời(thiên tử) nên chỗ ở của vua cũng được gọi là “Tử”. Vậy chữ “Tử” nghĩa là gì ?

chữ “tử” trong Tử Cấm thành chỉ có nghĩa là “màu tía” ( đỏ và tím trôn lẫn nhau) tương tự như màu mận chín, chứ không có nghĩa là chết.

Vậy “Tử Cấm thành” có nghĩa là tòa nhà màu tía ,nơi ở của vua và hoàng tộc,

Trang Di Sản Huế .

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Mười Một 6, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , ,

TẢ VU , HỮU VU

tả vu 1

Tả Vu và Hữu Vu là hai công trình phối thuộc của Điện Cần Chánh trong Tử Cấm Thành của Kinh thành Huế. Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc. Tả Vu và Hữu Vu đều được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Hữu Vu được trùng tu vào năm 1977, và Tả Vu vào các năm 1986, 1987-1988.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 6, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , , , ,

VẠC ĐỒNG

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.


Theo sử sách, từ năm 1631 đến năm 1684, chúa Nguyễn Phúc Chu (1631 – 1635) và chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687) đặt tại Phước Yên (1626 – 1636) và Kim Long (1636 – 1687) chứ chưa chuyển về Phú Xuân. Tức là 11 chiếc vạc đồng này xuất hiện vào thời gian này; tuy nhiên, người ta chưa xác định được đặt chỗ nào. Hiện nay, 11 chiếc này có đến 7 chiếc đặt tại hoàng cung, 3 chiếc đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, một chiếc đặt tại Lăng Đồng Khánh.

Tất cả những chiếc vạc có kích thước to lớn, từ vài trăm đến vài ngàn cân, theo giả thiết, tác giả của những chiếc vạc này chính là do Cruz – người Bồ Đào Nha sống tại Phường Đúc – Huế, lấy vợ người Việt Nam và là người được xem là sáng tạo nên ngành đúc nổi tiếng. Ông là người giúp chúa Nguyễn đúc vũ khí và vạc đồng để tỏ rõ uy quyền của dòng họ Nguyễn.

Trừ chiếc làm năm 1659, 10 chiếc làm sau có kiểu dáng tương tự nhau và gồm loại 4 quai và loại có 8 quai.

Loại vạc 4 quai gồm có 6 chiếc, trong đó có 2 chiếc đúc vào năm 1659, các chiếc còn lại vào các năm 1660, 1662, 1667 và 1673 (tức các chiếc số 2, 3, 4, 5, 10 và 11 theo thứ tự liệt kê trên). 4 quai được đặt gần trên miệng và cao vượt miệng, xoắn hình dây thừng. Phần thân vạc chia thành nhiều ô và được trang trí khác nhau hoàn toàn, tuy nhiên vạc nào là cặp thì trang trí hòan toàn giống nhau.

Loại vạc 8 quai gồm có 4 chiếc đúc vào các năm 1670, 1672 (2 chiếc) và 1684 (tức các chiếc số 6, 7, 8 và 9 theo thứ tự liệt kê trên).Đặc điểm chung của loại vạc này là 8 quai được đặt dưới miệng vạc một đoạn và cao không quá miệng vạc. Các chiếc quai kiểu này đều tạo hình đầu rồng có cổ vươn ra từ thân vạc, trông khá sinh động. Phần thân vạc không chia thành lớp hay ô hình học để trang trí như loại vạc 4 quai mà chỉ trang trí phần trên, phía gần quai vạc. Mô típ trang trí cũng khác kiểu vạc 4 quai rất nhiều. Nhưng cũng như loại vạc 4 quai, những chiếc cùng một đôi thì có mô típ trang trí gần tương tự nhau.

Tất cả 11 chiếc vạc trên dĩ nhiên đều không có chân đúc liền thân. Hiện nay, trừ 3 chiếc vạc đang đặt trước điện Long An được kê trên bộ chân (3 chiếc kiểu chân kiềng) bằng gang được tạo dáng khá đẹp và hài hoà với phần thân, các chiếc vạc còn lại đều được đặt trên các chân bằng đá Thanh khá mộc mạc. Có lẽ các bộ chân này đều được làm lại trong thời Nguyễn.

Vạc thứ nhất

Vạc được đúc năm 1631, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, hiện đang được đặt ngay trước hiên điện Long An (hiện là toà nhà trưng bày chính của Bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế). Đây là một chiếc vạc có hình dáng rất lạ, tương tự một chiếc nồi kích thước lớn, cổ thắt bụng phình to, trên cổ có 4 quai được tạo dáng khá đẹp. Trên thân vạc có đề niên đại “Tuế thứ Tân Mùi nhuận trọng xuân”, tức năm 1631. Trọng lượng vạc là 560 cân. Vạc này do người Việt Nam đúc.

• Văn tự khắc trên vạc:

Tuế thứ Tân Mùi nhuận trọng xuân nguyệt cát nhật tạo

Trọng ngũ bách lục thập nhất cân

Vạc thứ hai

Chiếc vạc thứ hai được đúc năm 1659, hiện được đặt phía trước điện Kiến Trung, bên trong Tử Cấm Thành Huế. Vạc có 4 quai. Trên miệng vạc có ghi rõ năm đúc là Thịnh Đức thứ 7 và trọng lượng chiếc vạc là 2.154 cân (khoảng 1.378kg). Trên miệng đỉnh có khắc dòng chữ “nhất song” (nghĩa là một đôi) nhưng hiện còn chỉ 1 chiếc.

• Văn tự khắc trên vạc:

Thịnh Đức thất niên tạo đỉnh

Đồng nhị thiên nhất bách ngũ thập tứ cân

Vạc thứ ba

Chiếc vạc thứ ba này cũng được đúc vào năm 1659, nhưng không đề niên hiệu vua Lê mà đề niên đại theo can chi (Kỷ Hợi niên tứ nguyệt tạo đỉnh), trọng lượng của vạc chỉ là 560 cân, nhưng nó lại có cùng kiểu dáng và hình thức trang trí với chiếc vạc đặt trước điện Kiến Trung. Cùng niên đại và cùng hình dáng, kiểu thức trang trí. Vạc có 4 quai. Trên miệng chiếc vạc thứ 2 này còn khắc 3 chữ “Nội phủ tướng”.

• Văn tự khắc trên vạc:

Kỷ hợi niên tứ nguyệt tạo đỉnh

Nội phủ tướng

Đồng ngũ bách lục thập cân.

Vạc thứ tư và thứ năm

2 vạc này hiện đang được đặt trước sân điện Cần Chánh, bên trong Tử Cấm Thành. Đây là 2 chiếc vạc có kích thước và trọng lượng lớn nhất trong các vạc thời chúa Nguyễn. Chiếc thứ nhất đúc năm 1660 (năm Thịnh Đức thứ 8), trọng lượng 2.482 cân; chiếc thứ hai đúc năm 1662 (Thịnh Đức thứ 10), trọng lượng 2.425 cân; cả hai đều có đường kính miệng trên 2,2 m, cao trên 1 m. Hai chiếc vạc này có hình dáng và kiểu thức trang trí rất giống nhau, có 4 quai, trên miệng vạc đều khắc 2 chữ Hán “Nhất Song” (một đôi).

• Văn tự khắc trên vạc:

Thịnh Đức bát niên nhị nguyệt tạo đỉnh

Đồng nhị thiên tứ bách bát thập nhị cân

Thịnh Đức thập niên tạo đỉnh

Đồng nhị thiên tứ bách nhị thập ngũ cân

Vạc thứ sáu

Chiếc vạc thứ sáu đúc vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), hiện đặt ở phía trước, bên phải Duyệt Thị Đường, nặng 938 cân.

• Văn tự khắc trên vạc:

Cảnh Trị bát niên bát nguyệt tạo chú

Đồng cửu bách tam thập bát cân

Vạc thứ bảy

Là chiếc cùng đôi với chiếc vạc đặt ở Duyệt Thị Đường và nó được đúc sau đó 1 năm (1671), hiện được đặt ở góc sân phía đông điện Thái Hoà. Chiếc vạc còn lại nặng 896 cân, hình thức trang trí gần giống như chiếc kia.

• Văn tự khắc trên vạc:

Cảnh trị thập niên lục nguyệt tạo chú

Đồng bát bách cửu thập lục cân

Vạc thứ tám và thứ chín

Đôi vạc này dễ nhận biết vì từ hình dáng đến kích thước đều tương tự nhau, tuy nhiên, niên đại đúc của chúng lại lệch nhau đến 13 năm. Đó là hai chiếc vạc đặt trước sân điện Càn Thành. Chiếc bên trái (nhìn từ trong ra) đúc năm Chính Hoà thứ 5 (1684), nặng 1395 cân; chiếc bên phải đúc năm Cảnh Trị thứ 10 (1671), nặng 1.390 cân. Cũng như hai chiếc vạc đặt trước sân điện Cần Chánh, hai chiếc vạc này có lẽ đã được đặt tại đây từ rất sớm.

• Văn tự khắc trên vạc:

Cảnh Trị thập niên chính nguyệt tạo chú

Đồng nhất thiên tam bách cửu thập cân

Chính Hòa ngũ niên lục nguyệt tạo chú

Đồng nhất thiên tam bách cửu thập ngũ cân

Vạc thứ mười

Được đặt trong khuôn viên phần tẩm điện lăng Đồng Khánh, phía đầu hồi nhà Hữu Vu (của điện Ngưng Hy). Vạc loại 4 quai, đúc năm Dương Đức thứ 2 (1673), nặng 1.013 cân. Tuy trên miệng vạc có đề 2 chữ Hán “nhị song” (tức 2 đôi) nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm ra loại vạc cùng cặp.

• Văn tự khắc trên vạc:

Dương Đức nhị nhiên lục nguyệt tạo đỉnh.

Đồng nhất thiên tam thập cân

Vạc thứ mười một

Hiện đặt phía trước hiên, bên trái điện Long An, được đúc vào năm Đinh Tỵ (1667). Chiếc vạc này nặng 560 cân, có 4 quai, trên miệng có đề nhất song nhưng chưa tìm ra chiếc cùng đôi với nó. Điểm đáng chú ý ở chiếc vạc này là trên miệng vạc có khắc 3 chữ tiền chính cung tức nguyên xưa nó được đặt trước cung điện chính của phủ chúa.

• Văn tự khắc trên vạc:

Đinh tỵ niên tứ nguyệt sơ lục nhật tạo đỉnh

Đồng ngũ bách lục thập cân

Vạc đồng thời Minh Mạng

4 vạc này đặt tại điện Hòa Khiêm, trong khu vực lăng Tự Đức. Bốn chiếc được đặt đối xứng với nhau, lấy trục đối xứng là đường Thần đạo của phần tẩm điện và gần như lấy điểm đối xứng là vị trí đặt chiếc đỉnh đồng đốt vàng mã hình chữ nhật đặt gần như ở chính giữa sân. Theo thứ tự từ trong (phía điện Hòa Khiêm) ra ngoài, từ trái qua phải, 4 chiếc vạc này gồm:

• Chiếc thứ 1 được đúc vào năm 1825, nặng 430 cân;

• Chiếc thứ 2 cũng được đúc cùng năm với chiếc trên, nặng 435 cân;

• Chiếc thứ 3 được đúc vào năm 1828, nặng 352 cân;

• Chiếc thứ 4 được đúc cùng năm với chiếc thứ 3, nặng 399 cân. Minh Mạng lục niên nhị nguyệt cát nhật Võ Khố phụng tạo); hai chiếc sau thì chỉ đề năm đúc và trọng lượng chứ không ghi đơn vị đứng ra đúc.

Tuy về trọng lượng 4 chiếc vạc trên có khác nhau, về hình thức và kích thước thì gần như tương tự. 4 quai đặt thấp dưới miệng vạc, quai tạo kiểu đầu rồng, thân vạc hình chum, thân trơn, không trang trí, chân đế hình tròn, làm bằng đá Thanh.

Giá trị

Vạc đồng tại kinh thành Huế xưa kia không chỉ có 15 cái mà có rất nhiều]. Vạc đồng phản ánh một thời kỳ huy hoàng của ngành đúc đồng Huế, mang giá trị lịch sử cao. Tuy chỉ còn 15 cái, một số khác bị thất lạc và bị biến mất theo thời gian. Tuy nhiên với 15 cái vạc đồng này, du khách có thể tìm hiểu về ngành đúc đồng một thời và ngành mỹ thuật trên đồ đồng. Bộ sưu tập 15 chiếc vạc đồng được xem là bộ sưu tập nhiều nhất và độc nhất về loại nay và được xem là bảo vật của quốc gia.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI



 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 6, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , ,