RSS

Category Archives: trung bộ

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*Chùa tại Miền Trung – P 1

*Đình Làng Đức Nghĩa

*Đình Làng Bình An

*Chùa Núi

*Linh Quang Tự

*Linh Sơn Tự

*Cổ Thạch Tự

*Chùa Phật Quang

*Tu Viện Bát Nhã

*Thiền Viện Trúc Lâm

*Trúc lâm Tịnh Viện

*Chùa Tam Thai

*Chùa An lạc

*Chùa Thiên Lộc Thiền Tôn

*Chùa Cổ Lầm

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Trúc Lâm Tịnh Viện

*Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa

*Chùa Linh Sơn

*Chùa Ưu Đàm

*Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang

*Chùa Thiên Minh

*Chùa Thiền Lâm

*Chùa Thiền Tôn

*Chùa Núi Ông

*Chùa Túy Vân

*Tổ Đình Chúc Thánh

*Chùa Hang Đá Không Sư Ở Lý Sơn

*Chùa Từ Hiếu

*Chùa Đá Quán Âm

*Chùa từ Đàm

*Chùa Thạnh Lâm

*Chùa Thiên Mụ

*Chùa Diệu Đế

*Chùa Long Sơn

*Chùa Linh Sơn

*Chùa Linh Phước

*Linh Ẩn Tự

*Đền Thờ Bà Chúa Ngọc

*Chùa Ông

*Chùa Bà Thiên Hậu

*Chùa Khánh An

*Chùa Linh Phước

*Chùa Kim Tiên

*Chùa Thập Tháp Di Đà

*Chùa Minh Thành

*Chùa Khải Đoan

*Chùa Thánh Duyên

*Chùa Thiên Vương Cổ Sát 

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Sáu 11, 2012 in trung bộ

 

Nhãn:

CHÙA TẠI MIỀN TRUNG – VIỆT NAM -P 1

CHÙA TẠI MIỀN TRUNG – VIỆT NAM -P 1

 

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Bảy 15, 2011 in trung bộ, VIDEO - SLIDE

 

Nhãn: , , ,

ĐÌNH LÀNG ĐỨC THẮNG

Đình làng Đức Thắng khi mới khởi dựng nằm trung tâm xã Đức Thắng thuộc phủ Hàm thuận nay là phường Đức Thắng thành phố Phan Thiết.

Đình làng Đức Thắng được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XIX lúc đó chỉ là nhà tranh vách đất để làm nơi thờ Thành Hoàng làng và nơi hội họp của hội đồng kỳ mục.Mãi đến năm 1841 khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu vaøtiền bạc mới xây dựng kiên cố và bế thế, năm Ðình Mùi 1811 khởi công nhưng vì đây là ngôi đình có quy mô lớn nhất lúc bấy giờ ở Phan Thiét nên mãi đến năm 1847 mới hoàn chỉnh, kể cả các công trình phụ. Tài liệu ở đình Ðức Thắng ghi việc xây dựng đình làng Ðức Thắng từ Tân Sửu chí Ðinh Mùi.

Ðình Ðức Thắng xây dựng theo lối kiến trúc dân gian Tứ trụ tức là dùng bốn cây cột đình lớn làm cột chính, từ đây toả ra và liên kết với hết thảy các kết cấu kiến trúc bằng gõ khác. Các công trình của đình chính, nhà võ ca, nhà thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền hợp thành một tổng thể kiến trúc rộng lớn và liên kết chặt chẽ với nhau.

Ngoại thất đình đều được trang trí nghệ thuật bằng kỹ thuật đắp nổi và ghép mảnh sành tạo nên nhièu tác phẩm chặm khắc đẹp phù hợp với tín ngưỡng dân gian ở đình. Riêng phần cổ lầu trên đình chính là nơi tập trung các tác phẩm trang trí nghệ thuật, đắp nổi những bức tranh dân gian,cảnh thiên nhiên muông thú và các điển tích xưa.

Nội thất đình bài trí nhiều khám thờ, hai bên treo các câu liễn, bên trên đặt những tấm hoành, dọc theo khám thờ nhiều bao lam gỗ được nghệ nhân xưa dùng kỹ thuật chạm lộng để thể hiện đề tài, tạo nên nhiều hình thức tượng, phong cảnh thiên nhiên sinh động. Những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ này phần lớn có niên đại từ thời các vua Triều Nguyễn, trong đó một só có từ thời Tự Ðức.

Nhà thờ Tiền Hiền là nơi bài trí nhiều hoàng phi cỡ lớn, những câu liễn với những bài thơ ghép mảnh xà cừ, tất cả những bàn thờ đều chạm trổ điêu khắc thể hiện hình tượng Tứ linh. Tiền Hiền của Ðình làng Ðức Thắng có thờ nhiều người nhưng tiêu biểu là ông Trần Chất mà trong dân gian còn ghi lại sự tích và lòng can đảm của ông, vì bảo vệ quyền lợi của dân làng Ðức Thắng, ông đã chặn xe ngựa của Tả quân Lê Văn Duyệt trên đường đi kinh lý phía Nam để xin xây cầu, đặt chợ. Vì bị dừng xe vô cớ, Tả quân Lê Văn Duyệt ra lệnh chém đầu tại chỗ. Sau khi về đến Huế, xem lại tờ sớ của ông Lê Văn Duyệt mới lấy làm hối hận và xin vua ban cho ông là Tiền Hiền của làng Ðức Thắng và ra lịnh thờ phụng.

Ðình làng Ðức Thắng hiện còn lưu giữ nhiều sắc phong do các vua Triều Nguyễn ban tặng, đến nay còn rất tốt.

Xét về tổng thể kiến trúc, đình làng Ðức Thắng là ngôi đình có quy mô đồ sộ vào loại nhất ở phủ Hàm Thuận thời bấy giờ và cả khu vực Phan Thiết ngày nay. Là một trong những ngôi đình có tên trong danh sách những ngôi đình cổ của Việt Nam. Từ xưa đến nay đình làng Ðức Thắng vẫn tổ chức đều đặn các nghi lễ tế Xuân vào ngày 15-16 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào ngày 16 tháng 9 âm lịch hàng năm. Ðình làng Ðức Thắng đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1991.

Trang DTLSDLTC Bình Thuận

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , ,

ĐÌNH LÀNG ĐỨC NGHĨA

ĐÌNH LÀNG ĐỨC NGHĨA


Đình làng Đức nghĩa được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ XIX ở vị trí gần Đình làng Đức Thắng, vì những lý do khách quan về phong thổ địa lý nên dân làngdời đình lên động cát làng Thành Đức, sau khi sáp nhập làng Thành Đức với Vạn Nam Nghĩa nên mới có tên là Đức Nghĩa. Đình xây dựng trên động cát cao, phía trước có ao sen lớn.

Đình làng Đức Nghĩa có dạng kiến trúc giống như Đình làng Đức thắng, cổ lầu là nơi tập trung phần trang trí nghệ thuật đặc sắc nhất trong tổng thể đình làng. Ở đây nghệ nhân xưa đã dùng nghệ thuật ghép mảnh sứ, sành để tạo nên hình tượng “Tứ Linh” , những phần dưới của mái hạ, các bờ nóc, bờ quyết cũng được trang trí nghệ thuật làm ngôi đình vừa cổ kính vừa trang nghiêm.

Nhà thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền cũng có lối kiến trúc như đình chính nhưng chiều dài có phần kéo ra hơn. Đây là đặc trưng của kiến trúc đình làng nửa sau thế kỷ XIX ở Bình Thuận.,.

Nội thất của Đình làng Đức Nghĩa , nhất là ở phần trang trí nghệ thuật chạm khắc bên trong Đình chính với hệ thống bao lam bằng gỗ, như bức rèm như xuống các khám thờ sống động bởi những dây leo, hoa lá, chim muông từ những chạm khắc của người thợ xưa. Nghệ thuật trang trí Đình làng Đức Nghĩa cả ngoại thất và nội thất phối hợp với nhau tạo nên những đường nét kiến trúc cổ hài hoà và đạt đến đỉnh cao so với một số ngôi đình trong thời kỳ này.

Nội dung thờ phụng bên trong như một kho tàng lưu trữ hàng trăm hiện vật quý như hoành phi, liên đối, khám thờ đã được chạm trổ công phu và được lưu truyền qua nhiều thế hệ đến ngày nay.

Tiền Hiền của làng đang thờ tại Đình gồm các ông Nguyễn Văn Bàng, Trần Văn Kim, Lê Văn Hanh, Nguyễn Văn Thạnh là những đại diện cho các họ có công khai khẩn lập làng, dựng đình mà tên tuổi của họ đã được dân làng trân trọng khắc ghi trong bài vị thờ ở đình.

Đình làng Đức Nghĩa còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá Hán Nôm, trong đó có đề cập đến ruộng đất của làng, đến lịch sử văn đầu thế kỷ XIX nguồn gốc dân cư ở làng…quan trọng nhất trong số đó có 13 sắc phong của các đời vua Triều Nguyễn ban tặng cho Thành Hoàng làng cùng các vị thần khác, kể cả nữ Thần Thiên YAna Diễn Ngọc Phi của người Chăm.

Các nghi thức cúng tế chính ở đình làng vào dịp tế Xuân từ 14-16 tháng giêng Âm lịch và tế Thu từ 14-16 tháng 8 âm lịch.

Đình làng Đức Nghĩa đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1991, là một trong những ngôi đình cổ trong danh sách các ngôi đình cổ ở Việt nam.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

 

Nhãn: , , , , , ,

ĐÌNH LÀNG BÌNH AN

ĐÌNH LÀNG BÌNH AN

Xã Bình Thạnh – Tuy Phong – Bình Thuận.

Đình Bình An (Miếu Bình Thạnh) do nhân dân làng Bình An xây dựng từ cuối thế kỷ XVIII đến năm Tự Đức thứ 13 (Nhâm Thìn 1832) đình làng mới xây dựng lại kiến cố và giữ nguyên đến ngày nay. Hiện nay Đình Bình An thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, Bình Thuận. Cách thành phố Phan Thiết khoảng 110km về hướng Đông bắc.

Để xây dựng đình làng vững chãi và có vị trí tốt, theo quan niệm phong thủy xưa , các nhà địa lý dân gian đã tìm được cuộc đất tốt, nơi địa hình có dáng hình “Phượng Hoàng ẩm thủy” (chim phượng hoàng uống nước) lưng dựa vào động cát, mặt trông ra hướng biển và cách biển chừng 60m.

Đình có tất cả 11 nóc liên kết và tạo thành một tổng thể rộng lớn, mỗi công trình có một chức năng riêng biệt, nằm trên một diện tích 1400m2 được bao bọc bởi tường đá dày . Trung tâm là đình chính, tiếp đến là toà Trung Đình, toà Đại bái, tả mạc, hữu mạc, cổng tam quan, nhà thờ tiền hiền, miếu thờ binh sĩ, Hàm Tụy môn, hằng Thái môn.

Đình chính thờ Thành Hoàng làng cùng các bậc tiền bối có công khẩn hoang xây dựng làng mạc, di dân . cư dân ngày nay của làng Bình An và một số làng khác ở Bình Thạnh đều có xuất xứ từ bốn họ lớn Lê, Huỳnh, Nguyễn, Phan từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung di cư đến từ thế kỷ XVII.

Đình Bình An từ ngoại thất, nội thất mặc dầu có trùng tu mấy lần nhưng vẫn giữ nguyên được kết cấu kiến trúc vả trang trí nghệ thuật thuở mới khởi dựng. Đặc biệt hệ thống cột kèo, trính, cột trốn, trần thừa lưu được các nghệ nhân xưa chạm trổ rất công phu, mô tả sinh động phong cảnh thiên nhiên còn nguyên giá trị trên thân gỗ ở những bộ phận chính trong kết cấu gỗ ở Đình . Đình Bình An chưá đựng nhiều tư liệu, di sản Hán, Nôm thể hiện trên Hoành phi, liên đối và nhiều di sản văn hoá vật chất khác. Đình còn lưu giữ một tấm bia đá cẩm thạch khắc ghi lại những sự kiện quan trọng trong quá trình dựng đình như : chọn địa cuộc, thời gian thi công, sự đóng góp công của giá trị ngôi đình, lễ lạc Thành và một phần lịch sử làng Bình An. Đây là tấm bia đá lớn có chiều cao 1,40m, chiều rộng 0,60m là tấm bia duy nhất còn lại trong các ngôi đình ở Bình Thuận.

Tương truyền trong dân gian lưu lại rằng: cuối thế kỷ XVIII một lần Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đã đưa đoàn tuỳ tùng và vợ chạy qua vùng biển này, khi đến eo biển phía trước xây dựng đình thì vợ Nguyễn Ánh đau bụng đẻ, nhờ có bà mụ vườn ở làng Bình An đỡ đẻ mẹ tròn con vuông. Sau này khi lên ngôi vua, Gia Long tặng cho đình Bình An 2 quạt lông chim lớn màu trắng, 2 tán lợp vải vàng thuê kim tuyến, 2 Đại hồng chung mõi cái nặng 100 cân, để nhớ ơn công lao của dân giúp Nhà vua khi xưa.

Đến nay Đình Bình An là ngôi đình lớn và đẹp, tiêu biểu cho lối kiến trúc nghệ thuật dân gian ở Bình Thuận. Đình Bình An đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia 1996.

Trang DTLSDLTC Bình Thuận

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

 

Nhãn: , , , , , , ,

CHÙA NÚI

CHÙA NÚI

CHÙA NÚI tức Chùa Tà Cú xây dựng chính thức vào năm 1879 do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao 563m (hiện nay thuộc địa phận xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam). Trước kia ngôi chùa chỉ là một thảo am nhỏ bằng gỗ, tranh, nứa. Mãi sau này, từ ngôi chùa cổ ban đầu tách thêm một ngôi chùa ở bên dưới gần đó. Để phân biệt, chùa trên có tên là Linh Sơn Trường Thọ, chùa dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn và dân gian gọi chung là Chùa Núi.

Năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức (1812 – 1887) pháp danh Thông âm, từ miền Trung vào, một mình vượt núi, xuyên rừng, lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành. Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới phát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư nên đã góp công dựng. Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thì nhà sư viên tịch. Từ đó nhà chùa lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm làm ngày giỗ Tổ.

Lúc còn sống, nhà sư là thầy thuốc giỏi. Tương truyền vào năm Canh Thìn (1880), nhà sư đã cứu Hoàng thái hậu thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo bằng thuốc của mình. Vua Tự Đức đã ban sắc đặt tên chùa là “Linh Sơn Trường Thọ” và suy tôn nhà sư Trần Hữu Đức là “Đại lão Hòa thượng”. Ngôi chùa dưới “Linh Sơn Long Đoàn” được xây dựng vào cuốn thế kỷ XIX theo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch.


Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng đã có tiếng là nơi thắng cảnh từ xưa. Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm tam cấp theo con đường ngoằn ngoèo giữa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, hơi nước lạnh mát toát ra từ núi đá. Chùa Núi nổi tiếng nhờ ở phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng; mặt khác, bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đấp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ có một không hai. Đó là pho tượng khổng lồ “Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Bằng tài nghệ, kỹ thuật điêu khắc và lòng sùng kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Đình Ý chủ trì thực hiện vào năm 1962. Tượng Phật Thích Ca trong tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên tay phải, 2 chân duỗi thẳng, mặt quay về hướng tây nam, lưng dựa vào vách núi. Pho tượng dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn. Với hàng chục ngàn kg vật liệu đúc tượng, hàng ngàn lượt người đã phải vượt 4 – 5 km đường núi hiểm trở với thời gian dài vận chuyển đủ để tạo nên tác phẩm điêu khắc nghệ thuật này.

Cách pho tượng chừng 50m là nhóm tam thể phật trong tư thế đứng: tượng A di đà, tượng Quan Âm bồ tát, tượng Đại thế chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian.

Hằng năm vào bất cứ thời điểm nào, nhất là dịp xuân sang, hàng vạn người từ khấp nơi kéo đến chùa Núi viếng Phật, thưởng ngoạn cảnh non nước thiên nhiên.

Chùa Núi cùng với những cánh rừng bảo tồn thiên nhiên lân cận đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

LINH QUANG TỰ

LINH QUANG TỰ là ngôi chùa cổ nhất ở đảo Phú Quý và cũng là một trong những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi ở xã Tam Thanh.

Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay chùa đã có niên đại trên 250 năm.

Qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa được biến đổi dần về diện tích của các công trình kiến trúc và trang trí nghệ thuật. Đến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất, chùa bị cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị thiêu hủy, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm: chính điện, nhà Tiền hiền, võ ca, có dạng hình chữ Đinh. Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt theo qui cách “Tiền Phật hậu Tổ”.(1)

Lịch sử của quá trình xây dựng chùa Linh Quang bao gồm cả về mặt kiến trúc, tôn giáo và giá trị nghệ thuật của nền văn hóa biển trên đảo – gắn liền với quá trình định cư và phát triển của nhân dân trên đảo. Ở đây, vườn chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với thiên nhiên tạo cho ngôi chùa cổ nét gần gũi, thân quen mà không biệt lập. Từ trong những vòm cây dày bóng mát ấy nổi lên phần kiến trúc mái chùa với đầu đao, đuôi rắn vút cong thấp thoáng. Giữa biển khơi nhìn về đảo, ngôi chùa nổi lên như một tòa lâu đài cổ kính.

Linh Quang Tự còn lưu giữ nhiều văn tự cổ nói đến sự hình thành dân cư trên đảo, là nơi bảo tồn nhiều di sản văn hóa, sưu tập các pho tượng cổ quý. Có chăng pho tượng cổ, lớn gắn liền với những huyền thoại trên đảo trong các thế kỷ trước. Chiếc đại hồng chung ở chùa là quà tặng của chùa Trà Bang (Ninh Thuận), có niên đại ở cuối thế kỷ XVIII. Trong số những cổ tự lưu giữ ở chùa còn có 5 bức sắc của triều Nguyễn ban tặng. Hàng năm khi có những nghi lễ trọng đại, nhà chùa làm lễ thỉnh sắc mới đưa xuống.

Cảnh Linh Quang Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12 tháng 1 năm 1996.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , , , , , ,