RSS

Category Archives: KIẾN TRÚC THIÊN CHÚA GIÁO

NHÀ THỜ THÁNH TÂM – GÒ CÔNG

100_8391
Địa chỉ: 49 Nguyễn Trãi, phường 2, Gò Công, Tiền Giang
Chánh xứ : Linh mục Phêrô Nguyễn Phước Tường
Phó xứ     :Linh mục Phaolô Phạm Ngọc Hiền
pherotuong@yahoo.com

This slideshow requires JavaScript.

 
 

Nhãn: , , , , ,

NHÀ THỜ CỔ DU SINH

NHÀ THỜ CỔ DU SINH

Nhà thờ Cổ Du Sinh tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc số 12B đường Huyền Trân Công Chúa , thành phố Đà Lạt . Ngôi thánh đường cổ này được xây dựng tam năm 1955 ,do Linh Mục Thiên Phong Bửu Dưỡng thành lập cho bà con giáo dân di cư từ miền bắc vào ,bảo là xây tạm , bởi vì Linh Mục này có mơ ước xây dựng một ngôi thánh đường mang nét kiến trúc Á Đông , nhưng cha phải vâng lời thuyên chuyển công tác quá sớm nên giấc mơ không thành .

Linh Mục Thiên Phong Bửu Dưỡng là con cháu của các vua triều Nguyễn. Sau một thời gian theo tu học ở các ngôin chùa Phật giáo ,Cha gia nhập đạo thiên chúa và theo tu học ở dòng Đa Minh,rồi được tấn phong Linh Mục .

Ngôi nhà thờ tạm cổ vẫn tồn tại cho đến nay với lối kiến trúc Á Đông . Bốn trụ cột của tháp chuông và các cột chính của nhà thờ được làm bằng gỗ , được chạm khắc như hình dáng của cây tre , cây trúc , là hình ảnh thân thương của người việt . Đường kính của mỗi cột tre , cây trúc khổng lồ này khoảng 40cm . Trên thân mỗi cây cột đều được khắc các dòng kinh thánh hay thánh vịnh bằng chữ Nôm .

Hiện nay , nhà thờ Cổ Du Sinh đã xuống cấp nhiều và đang được có kế hoạch trùng tu xây dựng lại nhưng vẫn được duy trì lối kiến trúc độc đáo nguyên thủy . Tuy nhiên ,đây vẫn là một điểm tham quan thu hút rất nhiều du khách nước ngoài đến Đà Lạt và các du khách quan tâm đến văn hóa kiến trúc cổ .

Trần Huy Hùng Cường

MỤC LỤC – ĐÀ LẠT


 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÁNH TÒA MỸ THO

NHÀ THỜ CHÁNH TÒA MỸ THO

Nhà Thờ Chánh Toà Mỹ Tho hiện tại là ngôi nhà thờ thứ ba của họ đạo Mỹ Tho được khởi công xây dựng tại họ nhánh Vĩnh Tường ngày 11-8-1906 bởi cha Régnier (Cha Gẫm) ngay trước nhà thờ này, bên kia đại lộ Bourdais, nay là đại lộ Hùng Vương. Đến năm 1910 công việc xây dựng nhà thờ được hoàn tất.

Ngôi nhà thờ khá đồ sộ, uy nghiêm, với chiều cao 24m, chiều dài 53m, chiều rộng hơn 17m, một gian chính và hai gian phụ hai bên. Kết cấu chính của tòa nhà được xây theo lối cột tròn chống đỡ, mái vòm được trang trí bằng nhiều hoa văn, họa tiết tinh xảo.

Tháp chuông nhà thờ đầu tiên được dựng bên hông nữ. Đến năm1958, cha sở Phaolô Nguyễn Minh Chiếu đã di dời chuông lên tháp cao bên nam. Đến năm 1995, vì sợ đổ chuông có thể gây hư hại cho ngôi thánh đường cổ xưa, cha Giuse Nguyễn Văn Chúc cho xây dựng lại một tháp chuông khác tách rời nhà thờ, tức là tháp chuông hiện nay. Ngày 16.2.1995, Đức Cha Anrê Nguyễn Văn Nam đặt viên đá đầu tiên. Sau hơn 9 tháng xây dựng, tháp chuông mới được khánh thành ngày 30.11.1995.

Dịp Năm Thánh 2000, Đức Giám Mục Giáo Phận Phaolô Bùi Văn Đọc đã cử hành Lễ Cung Hiến Nhà Thờ Chánh Tòa Mỹ Tho ngày 21.01.2000 và chọn ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời làm ngày lễ Bổn mạng thứ hai của Nhà Thờ Chánh Tòa Mỹ Tho.

Để chuẩn bị mừng kỷ niệm 100 năm ngày xây dựng nhà thờ và mở Năm Thánh, linh mục Giacôbê Hà Văn Xung đã xin ý kiến Đức Giám Mục để trùng tu và nới rộng nhà thờ. Lễ khởi công trùng tu được cử hành ngày 14.06.2006. Công việc trùng tu gồm việc thay mái ngói – nới rộng 2 bên hong nhà thờ – xây dựng lại phòng thánh – cải tạo tháp chuông – đặt đàng Thánh Giá xung quanh nhà thờ.

Sau 9 tháng thi công, vào ngày 21-05-2007, Đức Giám Mục Giáo Phận đã dâng lễ tạ ơn và khai mạc Năm Thánh mừng kỷ niệm 100 năm xây dựng nhà thờ.

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Tân Định

Đức Mẹ Bãi Dâu

Tượng Chúa KiTo Vua Trên Đỉnh Tao Phùng

Nhà Thờ Thủ Đức

Đức Mẹ TaPao Bình Thuận

Nhà Thờ Ba Chuông

Nhà Thờ Cầu Kho

Nhà Thờ Cha Tam

Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

Nhà THờ Huyện Sỹ

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền nam

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH ĐÀ NẴNG

Giáo xứ Chính Trạch thuộc giáo phận Đà Nẵng ,bổn mạng là Mẹ Trưng Nữ Vương , được thành lập năm 1954. Sau hiệp định Genever có khoãng chừng một triệu người từ miền bắc di cư vào phía nam . Đa sốlà người công giáo thuộc các giáo phận miền bắc Việt Nam , trong số đó cũng có một số dân vùng lân cận duyên huyện Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình vào Đà Nẵng. Một số định cư trên mảnh đất nay gọi là Chính Trạch . Khu đất giáo xứ Chính Trạch đang sinh sống hiện nay là do cha Jeanningros ( Cố vị ) mua của thị xã Đà Nẵng vào ngày 15-1-1954 gồm ba lô đất tổng diện tích 6705m2. Iệc mua đất đã thực hiện trước khi có phong trào di cư . Địa điểm tọa lạc của giáo xứ Chính Trạch hiện nay , vào năm 1954 là một khu đất cát hoang vu , để dân di cư có chỗ tạm trú , người ta đã thiết lập lán trại bằng những dãy nhà gỗ lợp tôn lien kết với nhau . Những người di cư ai có gia đình từ 4 người trở lên thì nhận được 1 căn , còn ít thì 2 gia đình nhận một căn .Người công giáo được sự hướng dẫn của các linh mục nên được sống chung theo từng cụm gia đình . Tại Chính Trạch đa phần thuộc gốc Quảng Bình , ban đầu nơi đây chỉ có tính cách tạm cư chứkhông tính đến định cư . Nhưng sau đã trở thành định cư với những tranh chấp cả chính quyền lẫn giáo quyền . Mãi đến năm 1958 giáo quyền mới chính thức nhìn nhận là giáo xứ , với tước hiệu Nữ Vương Hoàn Vũ .


Là người sáng lập giáo xứ cha GiuSe Ngô Đình Phú , đã xây dựng một ngôi nhà thờ với chiều dài 27m , chiều rộng 8m , cao chừng 4m . Khung nhà bằng sắt .Ngài cũng xây một ngôi nhà xứ lợp ngói vào năm 1959 diện tích 12mx7m là nhà của cha xứ ở và sinh hoạt . Khi cha Gioan Baotixita nguyễn Duy Lượng được bổ nhiệm về coi xứ.Ngài vẫn duy trì các sinh hoạt mà cha GiuSe đã khởi sự . Từ cuối năm 1989 ngài cùng cộng đoàn giáo xứ tái thiết nhà thờ và khánh thành với thánh lễ cung hiến do đức giám mục giáo phận Phanxico Xavie Nguyễn Quang Sách chủ tế vào ngày 30-5-1991 . Cha Emmanual Nguyễn Tấn Lực về nhận xứvào năm đại thánh 2000 . Ngài đã chỉnh tranglại nhà thờ ,sơn lại màu trần , thay toàn bộ kính màu các cửa vì trước đây được che kín bằng những tấm tôn nhựa . Sửa và nâng cấp cung thánh , bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ thánh GiuSe . Đến thời điểm giáo xứ mừng 50 năm thành lập . Đức giám mục bổ nhiệm cha Đôminicô Trần Công Danh về coi sóc giáo xứ từ ngày 21-8-2003 . Trong quá trình phục vụ giáo xứ cha Đôminicô đã cho tái xây dựng lại các phòng học giáo lý và nhà xứ như hiện nay. Hơn thế nữa , vì nhà thờ là nơi thánh và đã cung hiến nên ngài cũng không ngớt lo toan ,mãi đến năm 2007 có điều kiện ngài cho thay toàn bộ plafond nhà thờ bằng công nghệ tân tiến , lót gạch nền ,ốp trụ bằng Alu công nghệ mới , đồng thời chỉnh trang toàn bộ bên tong nhà thờ như hiện nay . Có thể nói là xứng với nơi được cung hiến để thờ phượng Chúa

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đồng Dài

Nhà Thờ Phước Thiện

Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà Thờ Hòa NInh

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà THờ Tân Hà

Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

Nhà Thờ Bảo Lộc

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền trung

 

Nhãn: , , , , , , ,

LỜI NGUYỀN Ở CHÙA KHÔNG SƯ

Lời nguyền ở chùa không sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo Phật và khói nhang, tượng Phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng Phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng Phật, cái gì liên quan đến nhà Phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên…

Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí… Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ – chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

Người giữ… “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất Phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề.

Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng Phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Như đoán được suy nghĩ của khách, ông kể rằng: Kể từ khi ngôi chùa này có mặt trên doi đất hình con cá chép này thì tổ tiên nhà ông là những Thủ từ truyền từ đời này qua đời khác, những khi có việc làng, trùng tu hay lễ hội thì ông lại bàn giao cho làng sử dụng. Lúc hội làng sắp mở, làng bắt đầu cắt cử đội bảo vệ chùa, chọn ông chủ lễ phải là người “đức cao vọng trọng”. Thường người được chọn là bậc cao niên, hai ông bà còn song toàn, phải thượng thọ, được ăn yến lão.

Khi hội làng vừa xong, lại bàn giao ngôi chùa này cho ông Thủ từ. Nên, mọi lịch sử, biến đổi đều do Thủ từ ghi chép lại trong cuốn “Hành thiện xã chí”, Ông vừa làm nhiệm vụ khói nhang cho đức Phật.

Ông Thủ từ cho biết: “Bố tôi kế nghiệp của ông tôi, ông tôi kế nghiệp của cố… đã qua 20 đời nhà tôi làm nghề Thủ từ. Và đến đời tôi, cũng phải ghi chép đầy đủ mọi cái diễn ra, từ cái nhỏ, đến cả tên tuổi, ngày tháng năm sinh của các Thủ từ. Nên cũng từ đó, ngôi chùa có bao nhiêu bí mật đều nằm trong cuốn “Hành thiện xã chí” cả, nhưng số người được tiếp cận tính đến nay thì rất hiếm”.

Cuốn “Hành thiện xã chí” còn ghi, cách đây mấy trăm năm, chùa đã từng có rất nhiều vị sư hành khất đến, ở được một thời gian, thấy trong người khó ở, lại khăn gói ra đi bởi nhiều điều không ngộ ra giáo lý của ngôi chùa, cũng bởi trong người có một cái gì đó rối rắm như tơ vò mà ra đi không giải thích lý do gì. Ông Thủ từ cho biết: “Cách đây vài năm, có một vị sư khăn gói từ Thái Bình lên, quyết tâm xin ở lại tu đạo và cũng là nghiên cứu, hóa giải lời nguyền nhưng rồi cũng phải ra đi.

Lúc đó, Thầy bảo tôi là bị nhức đầu, suy nhược thần kinh, không đủ khả năng để tịnh cái tâm, phải đi mới yên ổn”.

Từ đó, câu chuyện về chùa không sư lại tăng thêm phần kỳ bí, nhưng đến giờ chưa một nhà làm khoa học, học thuật hoặc nhà sư nào hóa giải nổi tính khí huyền thoại của ngôi chùa. Còn ông Thủ từ kín đáo ấy, có bao nhiều bí mật về ngôi chùa lạ, ông mãi giấu những điều bí mật thuộc về giới đạo chăng?

Lịch sử chùa không sư

Trong cuốn “Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập” có ghi, chùa Hành Thiện do thánh Không Lộ Thiền sư (1016- 1094) xây cất. Thiền sư Không Lộ xuất thân trong một gia đình họ Dương, làm nghề ngư phủ, lớn lên ông xuất gia theo thiền sư Lôi Hà Trạch. Truyền thuyết còn kể lại rằng, khi viên tịch, ông hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên khúc gỗ trầm hương biến thành tượng.

Thánh tượng này còn được lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, không cho ai được thấy dung nhan của ngài. Cứ phải qua 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử để làm lễ trang hoàng tượng thánh. Nên rất nhiều du khách đến chùa muốn xem “mặt ngài” cũng phải đợi 12 năm mới có dịp.

Nói thêm về phần chọn người tắm rửa, trang hoàng cho ngài cũng phải thuộc những người có nhân phẩm, ăn chay, mặc quần áo mới. Sau khi rước thánh ra từ cấm cung mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho ngài. Nhưng họ buộc phải giữ bí mật cho đến khi chết mang đi về những điều đã thấy khi trang hoàng cho ngài. Điều đó càng tạo nên lớp sương mù bí hiểm bao bọc lấy ngôi chùa nhiều huyền thoại này…

Nghiên cứu thêm về lịch sử của chùa

Chùa Hành Thiện mang dấu tích của chùa Keo ở làng Dũng Nhân, Giao Thủy, Nam Định. Vì năm 1061, Không Lộ Thiền sư dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng, theo thời gian, chùa bị nước làm cho xói mòn. Đến 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích của ngôi chùa. Dân làng Keo phải rời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng (Về sau, dựng nên chùa Keo Thái Bình). Còn một phần xuống Xuân Trường, Nam Định, dựng chùa Hành Thiện và tồn tại cho đến tận bây giờ.

Bao giờ giải được “lời nguyền”? Chúng tôi đã cố gắng vén một chút về bức màn bí ẩn này, thế nhưng đến nay cũng chỉ biết được về lịch sử ngôi chùa: Chùa là một trong hai ngôi chùa gắn với tên tuổi của nhà sư Không Lộ. Ông có công truyền bá rộng rãi đạo Phật trong dân gian. Khởi nguồn về mô hình của Chùa Hành Thiện được tính từ hồi 1062, thời Tiền Lý, người ta di dân đến xây mô hình chùa ở làng Dũng Nhuệ- Giao Thủy.

Sau đó về đất Hành Thiện vào năm 1588, sang Thái Bình năm 1611, về mặt quy mô chùa Keo Thái Bình lớn hơn chùa Keo Hành Thiện, bề thế hơn nhưng cấu trúc lại sao chép như nguyên vẹn; Cả hai chùa đều dựng bằng gỗ Lim, kết với nhau bằng mộng tre, mộng vược…. và mang cấu trúc thời Tiền Lê, thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh vượng nhất ở nước ta.

Trải qua ngàn năm Bắc thuộc, rồi đến thời kỳ kháng chiến chống pháp, chống Mỹ, chùa Hành Thiện vẫn uy nghi, nhiều phen bọn thực dân Pháp có ý đồ phá, mà do sự tích kỳ bí về chùa quá lớn đến nỗi họng súng của bọn giặc cũng không dám nhóm ngó tới. Ngày xưa, Thái Bình, Nam Định là những nơi nằm trong các dự án di dân dưới các triều đại phong kiến.

Dân hai bên sông Hồng chạy lũ, kéo theo đủ nét văn hóa, phong tục, từ văn minh lúa nước đến tín ngưỡng đạo Phật mà cụ thể là đem theo cấu trúc cũng như mô hình chùa chiền đến vùng đất mới. Đói kém, mất mùa, thiên nhiên bạc đãi, thú dữ… là những thế lực mà con người sợ. Thế nên người ta tôn sùng ngài Không Lộ Thiền sư, người đi đâu, đem ngài theo đó để thờ cúng, như một biểu tượng của sự che chở tinh thần.

Nên khi chùa Hành Thiện được dựng lên, những cái gì thuộc về nguyên sơ mà người ta đem đến đều được tôn sùng, giấu kín để thờ phụng, thì đến nay, nhiều thứ còn lại thuộc về di sản đó đang là điều bí mật, không được công bố cho dư luận cũng là điều thường thấy ở các chùa chiền. Nhưng đó cũng là yếu tố để tạo nên những huyền thoại về thánh thần nơi cửa Phật…

Còn về vấn đề sao các sư không sống được ở chùa, trong một số sách, trong đó có cuốn “Hành Thiện xã chí” của gia tộc Thủ từ cũng có đề cập đến: “Có thể, do không quen với thổ nhưỡng, chướng khí… Mà cụ thể là cơ địa con người, nhà sư đạo cao cũng là người, thì không hợp chất đất, nguồn nước… là phải.

Thì sinh ra ốm đau, bệnh tật, ở lâu có sư bị “viên tịch” ngoài ý muốn là phải”.

Như vậy, mới có chuyện sinh ra các sư đến lưu trú, hành đạo, tu đạo trong chùa sẽ bị ốm, bệnh, chết… rồi bỏ đi chăng? Về cơ sở lý thuyết này, đến nay vẫn chưa có nhà khoa học, tổ chức nào nghiên cứu cụ thể, sát với thực tế, vấn đề “lời nguyền” trong truyền thuyết làm cho câu chuyện về “chùa không sư” thêm phần huyền bí.

Dẫu chùa không sư, không vãi, không tiếng mõ vang âm nhưng ngôi chùa vẫn tồn tại với thời gian. Du khách đến đây ngoài tìm lại bản chất con người nơi cửa chùa ra, còn tìm về huyền thoại, tín ngưỡng của cha ông ta- những điều chưa biết chăng?

Các bài đã đăng :

**Chùa Đại Bi

*Chùa  Dục Khánh

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Tiêu Sơn Tự

*Chùa Thượng Đồng

*Chùa Bạch Liên

*Chùa Bất Nhiễm

*Chùa Phúc Linh

*Chùa Giác Viên

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 14, 2009 in miền bắc

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TÒA LẠNG SƠN

nhà thờ chánh tòa lạng sơn

Kiến trúc nhà thờ được kết hợp bởi kiểu nhà sàn các dân tộc Miền núi phía Bắc và bộ mái cong kiểu cung đình Việt nam. Có diện tích chiều ngang ba mươi mét và sâu hai mươi lăm mét cả hành lang, có ba lối để lên sàn nhà thờ, nhà thờ có hai mái bộ xếp lên nhau khoảng cách bằng một bức tranh kính mầu, mái trên tượng trưng cho Trời, mái dưới tượng trưng cho Con Người, sàn móng vuông tượng trưng cho Đất, theo quan niệm Thiên, Địa, Nhân, Hoà, nghĩa là con người được hoà giải với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô qua Mầu Nhiệm Thập giá. Cây tháp chính năm tầng được xây dựng liền với tiền sảnh nhà thờ ngụ ý nói đến Mầu nhiệm Năm Sự Sáng và năm yếu tố tổng hợp, vũ trụ quan Đông phương: Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ.

Hai hướng Bắc-Nam của nhà thờ xây hai tháp nhỏ có hai tầng, mỗi tháp treo một đèn lồng bằng gỗ thắp sáng; phía bắc ngầm nói đến ý trền giáo lên tỉnh Cao bằng và Hà Giang, phía nam nói đến công việc truyền giáo cho tỉnh Lạng sơn. Tất cả các mái nhà thờ và mái các tháp, đầu mái hơi cong lên, và được lợp ngói âm dương màu xanh, diễn tả tâm hồn siêu thoát muốn vươn lên tới Chúa và ngầm hiểu về con thuyền của nền Văn hoá Nông nghiệp Việt nam.

Cảnh đẹp thiên nhiên ở đây hài hoà với công trình kiến trúc, từ cổng tam quan chay theo trục lộ Văn Miếu tiếp nối với đường Tổ sơn, tạo cho người xem cảm giác dễ chịu. Đây là dãy tường thành cao hai mét, được trang trí bằng những hoạ tiết thuyền, chim Lạc Việt, hạt giống, trái tim, và thập giá. Tất cả đều muốn nói lên việc truyền giáo ở Việt nam và tỏ lòng kính nhớ tổ tiên Lạc Hồng.

Từ hướng tam quan theo lối chính đến tiền sảnh nhà thờ, con đường lớn rộng năm mét, dài ba mươi mét, nằm giữa khoảng sân tiếp nối đường kiệu hình bát giác, có những lối đi nhỏ dẫn đến tượng đài Đức Mẹ và thánh Đa Minh. Phía trước tiền sảnh nhà thờ, có đặt mười hai trống đồng ngầm nhắc mọi người nhớ đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp của cha ông.

Từ sân nhà thờ theo hướng Nam, du khách có thể đến xem tượng đài Đức Mẹ theo những lối mòn qua những ụ đất thấp. Tượng đài được chạm bằng một phiến đá quí màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một tấn, do các nghệ nhân điêu khác nổi tiếng của vùng Non nước (Đà nẵng) thực hiện. Tượng được tạc theo hình dáng một phụ nữ người Tầy và đặt trong một hang đá nhỏ với quần thể núi non thấp, hình thác Bản Dốc, một địa danh lừng lẫy của tỉnh Cao bằng.

Đối diện với tượng đài Đức Mẹ là tượng đài Thánh Đa-Minh, bổn mạng của nhà thờ. Tượng Thánh nhân cũng được tạc trên một tảng đá quý màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một tấn do các nghệ nhân nói trên thực hiện. Gương mặt Thánh nhân tươi trẻ mang vóc dáng và hình hài Việt nam, tay phải cầm ngọn đuốc cháy sáng, tay trái mang sách Thánh Kinh. Thánh nhân đứng trên thửa ruộng bậc thang như đứng trên cánh đồng truyền giáo để chiếu sáng Đức tin và rao giảng Tin mừng, theo lý tưởng dòng tu ngài đã thành lập là Dòng Anh em giảng thuyết (O.P: Ordo Praedicatorum).

Khi đến tiền sảnh nhà thờ, du khách có thể nhìn xem tác phẩm Nước thanh tẩy chạm vằng đá trắng, rộng ba mét rưỡi, dài mười hai mét trải dài trên mặt sàn cầu thang. Tác phẩm chia làm ba phần: phần một gợi nhớ tầu ông No-ê trên biển khơi lênh láng. Ong No-ê đang ló đầu ra khỏi tầu để xem có thấy chim bồ câu trở về báo hiệu trận lụt sắp qua hay không. Phần hai nhắc lại cảnh ông Mô-sê đưa người Do thái vượt qua Biển đỏ cùng với hành trang và gia súc. Nước rẽ ra sừng sững như từng thành hai bên tả hữu. Phần ba mượn hình ảnh xe nước (cũng gọi là cọn) của dân tộc miền núi. Cọn nước muốn liên tưởng đến phép rửa, nguồn mạch sức sống mới do Chúa Kitô mang lại cho những ai tin và đón nhận Người.

Giếng rửa tội hình Thánh giá được ghép bằng đá quí đào lấy ngay ở sảnh chính, lòng giếng ghép bằng đá trắng, mặt trên được bao phủ bằng những tảng đá cuội rộng một mét rưỡi, dài ba mét, sâu bảy mươi lăm phân cùng bảy bậc lên xuống. Giếng này mô phỏng giếng làng của dân địa phương.

Bình phong được dùng để che cửa chính nhà thờ theo quan niệm truyền thống cung đình Việt nam, làm cho ngôi nhà thờ được kín đáo theo luật phong thuỷ, đồng thời cũng tỏ lòng kính trọng nơi tôn nghiêm. Đây là một phiến đá trắng diễn tả biến cố Chúa Giêsu sau khi được ông Gioan làm phép rửa tại sông Giođan.

Những hàng cột vuông vững chắc ngoài hành lang có các bệ đỡ đầu cột, kết hợp với hình Thánh giá nhỏ cùng xà dây như hai cánh tay giang ra để đón những hình người đau khổ chịu đóng đinh. Cửa chính nhà thờ là tấm vách gỗ chạm hai Thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô. Thánh Phê-rô tay cầm chìa khoá, đang ngước mắt lên trời. Dưới hồi cửa là hình con gà đang gáy. Còn Thánh Phao-lô, tay ôm sách Thánh, nét mặt đăm chiêu. Bên dưới hồi cửa có chạm thanh kiếm sắc và những bông hồng.

Cửa hông mặt tiền nhà thờ, về phía nam là hình Thánh Gio-an và Lu-ca, về phía bắc là hình Thánh Mát-thêu và Mác-cô. Bốn vị này mang khuôn mặt Việt nam, mặc y phục Nùng, tay cầm bút nghiên.

Thánh Mát-thêu mang hình mặt người, vì Tin Mừng thứ nhất bắt đầu từ gia phả Chúa Giêsu theo bản tính loài người. Thánh Mác-cô theo hình mặt sư tử, vì đầu sách Tin Mừng thứ hai nói về Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta là tiếng kêu trong hoang địa có sư tử, cầm thú. Thánh Lu-ca mang hình bò mộng vì đầu sách Tin Mừng thứ ba nói đến tư tế Gia-ca-ri-a dâng chiên bò tế lễ Thiên Chúa. Thánh Gio-an mang hình chim ưng, vì đầu sách Tin Mừng thứ bốn nói về Ngôi Lời Nhập thể chứa đựng Mầu nhiệm siêu việt tựa cánh chim bay cao vút.

Phần còn lại là các cửa ra vào bên hông và cửa sổ. Tất cả những thứ này đều mang hình Thánh giá, hoa hồi và hạt giống.

Cung Thánh được bao bọc bằng gỗ màu gụ gợi ý trầm tư, với rèm trang trí chạm hình thiên thần, cây trường sinh, sồi Mam-rê, bách tùng và những trái đào trường thọ. Kiểu cách này ngụ ý diễn tả sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Anh sáng nhẹ nhàng phát ra từ những tấm kính mầu là có ý tạo ra một bầu khí êm ả, thích hợp cho sự cầu nguyện riêng tư thầm kín, ngoài những buổi cử hành phụng vụ cộng đồng.

Bàn thờ là một phiến đá quí. Màu trắng nổi bật, dài hai mét năm mươi phân, rộng chín mươi phân, cao chín mươi sáu phân được chạm khắc tinh vi bằng những hoạ tiết như bánh trường sinh, nho, lúa miến, hoa hồi theo nghệ thuật truyền thống và hiện đại. Bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong cung Thánh.

Giảng đài đặt tại phía nam gian cung Thánh, làm bằng một phiến đá quí màu xanh, chạm hình cọn nước đang quay, ngụ ý nói Lời Chúa như nước chảy, được kín múc để tưới vào cánh đồng khô cạn là tâm hồn con người. Cọn nước là một phát minh của dân tộc miền núi.

Nhà Tạm làm bằng gỗ, được thiết kế theo mẫu nhà sàn của các dân tộc vùng núi miền Bắc và đặt ở phía nam cung Thánh. Cửa chính nhà Tạm chạm hình trái tim đang bốc lửa cháy.

Hương án Lời Chúa được thiết kế theo kiểu đình làng Việt nam, đặt tại phía bắc cung Thánh với bốn cột thông thoáng. Giữa cột đình có một ngai nhỏ để sách Thánh Kinh. Đình làng là nơi qui tụ dân chúng thì hương án Lời Chúa cũng là nơi tập hợp tín hữu lại để nghe Lời Chúa.

Thánh giá này nhỏ, được chạm bằng gỗ quí, cao bảy mươi phân, rộng năm mươi phân diễn tả cảnh Chúa chịu chết đang hấp hối trên thập giá. Thánh giá được gắn vào một cây trúc, đặt ở phía bên trái cạnh bàn thờ và có thể làm Thánh giá để đi kiệu.

Huy hiệu Giám mục được chạm bằng tấm đá màu trắng đục, rộng năm mươi phân, cao bảy mươi phân, được đặt bên phải cung Thánh kèm theo khẩu hiệu Chạnh lòng thương với các họa tiết trái tim, hoa hồng, chuỗi Mai-khôi.

Bức tranh sơn dầu, diễn tả Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và thập giá có kích thước cao hai trăm năm mươi phân và rộng hai trăm ba mươi phân, tả cảnh Đức Giêsu Ki-tô chịu khổ hình thập giá, hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu ngước mắt lên cùng Chúa Cha, vẻ tha thiết nguyện cầu, cạnh một khoảng cách nhỏ tượng trưng Chúa Thánh Thần. Chúa Cha đầy lòng trắc ẩn, đang nhìn Chúa Con thắm thiết yêu thương; các Đấng có khuôn mặt giống nhau.

Mặt bằng trần gỗ với diện tích bảy trăm năm mươi mét vuông, giật lên bảy cấp, được trang trí chạm khắc mười sáu lồng đèn gỗ, toả ánh sáng vàng. Đỉnh trần cao nhất là hình hoa hồi tám cánh, nơi có hình vòng tròn đồng tâm diễn tả lửa tình yêu và cánh thiên thần bay lượn, xoay quanh hình chén cứu độ.

Hai mươi kính mầu cửa sổ có kích thước một trăm năm mươi phân trên hai trăm phân diễn tả mầu nhiệm Mai khôi, bao bọc chung quanh nhà thờ, bắt đầu từ tay phải Cung Thánh, đi từ Năm Sự Vui đến Năm Sự Sáng. Các Mầu nhiệm này được trình bày theo các nét văn hoá Việt-Nùng.

Hai bức hình có kích thước rộng một thước bốn mươi lăm, dài hai thước bốn mươi được gắn tại hai bức tường nhỏ phần cuối nhà thờ: phía Bắc là tấm phù điêu Người gieo giống, diễn tả cô gái Nùng đang vãi hạt giống trên thửa đất gồ ghề, sỏi đá; bức thứ hai là phục vụ, diễn tả cảnh Chúa Giêsu đang rửa chân cho các Tông đồ. Các vị mặc y phục miền núi.

Mười bốn bức sơn mài dài bảy mươi phân rộng năm mươi phân diễn tả cảnh Đức Mẹ và các nhân vật ăn mặc theo lối Việt-Nùng. Những bức tranh này do các nghệ sĩ Hội Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.

Chuông cao một mét chín mươi, được đúc bằng đồng thau, do các nhóm nghệ nhân thuộc phường đúc xứ Huế thực hiện, trên chuông có khắc hoa văn các dân tộc miền núi, lời thánh vịnh và thơ công giáo. Chuông được treo tại tầng thứ hai của cây tháp.

Trên đây là những nét chính về kiến trúc nhà thờ chánh toà giáo phận Lạng sơn – Cao Bằng. Ngôi thánh đường này được cung hiến vào ngày mồng hai tháng 10 năm 2004.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

*Nhà Thờ Hà Dừa

*Nhà Thờ Cây Vông

*Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Phương Chính

*Nhà Thờ Hàm Long

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TÒA HÀ NỘI

nhà thờ chánh tòa hà nội

Nhà thờ Lớn Hà Nội hay Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, là một nhà thờ cổ tại Hà Nội. Nơi đây thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân Hà Nội thuộc Tổng giáo phận Hà Nội.

Nguyên thủy, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Thánh Giuse (Saint Joseph) do vào năm 1678, Giáo hoàng Innocentius XI tôn phong Thánh Joseph (cha của nuôi của Chúa Jesus) làm Thánh Bảo trợ nước Việt Nam và các nước lân cận. Chính vì vậy, ngôi thánh đường lớn nhất ở Hà Nội được tôn phong là “Nhà thờ lớn kính Thánh Giuse”. Lễ khánh thành được tổ chức đúng vào lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi (1887).

Nhà thờ tọa lạc tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nằm trên một khu đất rộng, liền kề với Tòa Tổng giám mục Hà Nội, Đại chủng viện Hà Nội, Dòng mến thánh giá Hà Nội.

Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothique trung cổ Âu châu, rất thịnh hành trong thế kỷ XII và thời Phục hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà Thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời. Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.

Phía sảnh trong nhà thờ, có một cửa đi lớn, hai cửa nhỏ hai bên tháp. Các cửa đi và toàn bộ các cửa sổ đều cuốn nhọn theo nghệ thuật Gothique, kết hợp với các cửa cuốn nhọn là những bức tranh Thánh bằng kính màu rất đẹp và hài hòa tạo ra nguồn ánh sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Khu cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống, chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh vi độc đáo. Ở tòa gian chính có tượng thánh Giuse bằng đất nung cao hơn 2m.

Nhà thờ còn có một bộ chuông Tây, gồm bốn quả chuông nhỏ và một quả chuông boòng lớn, trị giá 20.000 franc Pháp thời đó. Đặc biệt là chiếc đồng hồ lớn gắn giữa mặt tiền nhà thờ. Đồng hồ có báo khắc, báo giờ, hệ thống chuông báo được liên kết với 5 quả chuông treo trên hai tháp.

Trung tâm quảng trường phía trước nhà thờ có đài Đức Mẹ bằng kim loại, xung quanh nhà thờ có đường kiệu, bồn hoa, phía sau có hang đá. Hiện nay toàn bộ không gian và cảnh quan nhà thờ bị chen lấn bởi sự phát triển của đô thị, mất đi sự tương xứng với quy mô đồ sộ của nhà thờ.

Ngày thường, nhà thờ có 2 thánh lễ, ngày Chủ nhật có 7 thánh lễ. Ngoài ra, nhà thờ còn tổ chức lễ rước thánh Quan thày của địa phận Hà Nội là Thánh Giuse vào ngày 19 tháng 3 hàng năm.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

*Nhà Thờ Hà Dừa

*Nhà Thờ Cây Vông

*Nhà Thờ Trung lao

*Nhà Thờ Cù Lao Giêng

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Ba Chuông

*Nhà Thờ Cầu Kho

 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,