RSS

Category Archives: miền trung

NHÀ THỜ CỔ DU SINH

NHÀ THỜ CỔ DU SINH

Nhà thờ Cổ Du Sinh tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc số 12B đường Huyền Trân Công Chúa , thành phố Đà Lạt . Ngôi thánh đường cổ này được xây dựng tam năm 1955 ,do Linh Mục Thiên Phong Bửu Dưỡng thành lập cho bà con giáo dân di cư từ miền bắc vào ,bảo là xây tạm , bởi vì Linh Mục này có mơ ước xây dựng một ngôi thánh đường mang nét kiến trúc Á Đông , nhưng cha phải vâng lời thuyên chuyển công tác quá sớm nên giấc mơ không thành .

Linh Mục Thiên Phong Bửu Dưỡng là con cháu của các vua triều Nguyễn. Sau một thời gian theo tu học ở các ngôin chùa Phật giáo ,Cha gia nhập đạo thiên chúa và theo tu học ở dòng Đa Minh,rồi được tấn phong Linh Mục .

Ngôi nhà thờ tạm cổ vẫn tồn tại cho đến nay với lối kiến trúc Á Đông . Bốn trụ cột của tháp chuông và các cột chính của nhà thờ được làm bằng gỗ , được chạm khắc như hình dáng của cây tre , cây trúc , là hình ảnh thân thương của người việt . Đường kính của mỗi cột tre , cây trúc khổng lồ này khoảng 40cm . Trên thân mỗi cây cột đều được khắc các dòng kinh thánh hay thánh vịnh bằng chữ Nôm .

Hiện nay , nhà thờ Cổ Du Sinh đã xuống cấp nhiều và đang được có kế hoạch trùng tu xây dựng lại nhưng vẫn được duy trì lối kiến trúc độc đáo nguyên thủy . Tuy nhiên ,đây vẫn là một điểm tham quan thu hút rất nhiều du khách nước ngoài đến Đà Lạt và các du khách quan tâm đến văn hóa kiến trúc cổ .

Trần Huy Hùng Cường

MỤC LỤC – ĐÀ LẠT


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH ĐÀ NẴNG

Giáo xứ Chính Trạch thuộc giáo phận Đà Nẵng ,bổn mạng là Mẹ Trưng Nữ Vương , được thành lập năm 1954. Sau hiệp định Genever có khoãng chừng một triệu người từ miền bắc di cư vào phía nam . Đa sốlà người công giáo thuộc các giáo phận miền bắc Việt Nam , trong số đó cũng có một số dân vùng lân cận duyên huyện Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình vào Đà Nẵng. Một số định cư trên mảnh đất nay gọi là Chính Trạch . Khu đất giáo xứ Chính Trạch đang sinh sống hiện nay là do cha Jeanningros ( Cố vị ) mua của thị xã Đà Nẵng vào ngày 15-1-1954 gồm ba lô đất tổng diện tích 6705m2. Iệc mua đất đã thực hiện trước khi có phong trào di cư . Địa điểm tọa lạc của giáo xứ Chính Trạch hiện nay , vào năm 1954 là một khu đất cát hoang vu , để dân di cư có chỗ tạm trú , người ta đã thiết lập lán trại bằng những dãy nhà gỗ lợp tôn lien kết với nhau . Những người di cư ai có gia đình từ 4 người trở lên thì nhận được 1 căn , còn ít thì 2 gia đình nhận một căn .Người công giáo được sự hướng dẫn của các linh mục nên được sống chung theo từng cụm gia đình . Tại Chính Trạch đa phần thuộc gốc Quảng Bình , ban đầu nơi đây chỉ có tính cách tạm cư chứkhông tính đến định cư . Nhưng sau đã trở thành định cư với những tranh chấp cả chính quyền lẫn giáo quyền . Mãi đến năm 1958 giáo quyền mới chính thức nhìn nhận là giáo xứ , với tước hiệu Nữ Vương Hoàn Vũ .


Là người sáng lập giáo xứ cha GiuSe Ngô Đình Phú , đã xây dựng một ngôi nhà thờ với chiều dài 27m , chiều rộng 8m , cao chừng 4m . Khung nhà bằng sắt .Ngài cũng xây một ngôi nhà xứ lợp ngói vào năm 1959 diện tích 12mx7m là nhà của cha xứ ở và sinh hoạt . Khi cha Gioan Baotixita nguyễn Duy Lượng được bổ nhiệm về coi xứ.Ngài vẫn duy trì các sinh hoạt mà cha GiuSe đã khởi sự . Từ cuối năm 1989 ngài cùng cộng đoàn giáo xứ tái thiết nhà thờ và khánh thành với thánh lễ cung hiến do đức giám mục giáo phận Phanxico Xavie Nguyễn Quang Sách chủ tế vào ngày 30-5-1991 . Cha Emmanual Nguyễn Tấn Lực về nhận xứvào năm đại thánh 2000 . Ngài đã chỉnh tranglại nhà thờ ,sơn lại màu trần , thay toàn bộ kính màu các cửa vì trước đây được che kín bằng những tấm tôn nhựa . Sửa và nâng cấp cung thánh , bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ thánh GiuSe . Đến thời điểm giáo xứ mừng 50 năm thành lập . Đức giám mục bổ nhiệm cha Đôminicô Trần Công Danh về coi sóc giáo xứ từ ngày 21-8-2003 . Trong quá trình phục vụ giáo xứ cha Đôminicô đã cho tái xây dựng lại các phòng học giáo lý và nhà xứ như hiện nay. Hơn thế nữa , vì nhà thờ là nơi thánh và đã cung hiến nên ngài cũng không ngớt lo toan ,mãi đến năm 2007 có điều kiện ngài cho thay toàn bộ plafond nhà thờ bằng công nghệ tân tiến , lót gạch nền ,ốp trụ bằng Alu công nghệ mới , đồng thời chỉnh trang toàn bộ bên tong nhà thờ như hiện nay . Có thể nói là xứng với nơi được cung hiến để thờ phượng Chúa

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đồng Dài

Nhà Thờ Phước Thiện

Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà Thờ Hòa NInh

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà THờ Tân Hà

Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

Nhà Thờ Bảo Lộc

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền trung

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ CÂY VÔNG

nhà thờ cây vông - nha trang

• Thành lập: 11.06.1730

• Bổn mạng: Giuse thợ

• Ðịa chỉ hiện nay: Diên Sơn, Diên Khánh – Khánh Hòa

Nằm trong phạm vi hai xã Diên Sơn và Diên Thuỷ, cực bắc Huyện hành chánh Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Giáo xứ Cây Vông một thắng cảnh hữu tình chạy dọc dài 2 km hai bên tỉnh lộ 8, tả ngạn sông cái với khu Giáo đường khang trang ở trung tâm. Ðàng trưóc thánh đường, xa xa con sông cái hiền hòa uốn khúc tiếp cận đồng lúa Ðồng Hiền tươi tốt hai mùa. Ðàng sau, bát ngát cánh đồng Ðại Ðiền trù phú bao quanh va dãy Ðại An, Hòn Ngang hùng vĩ chạy dài từ đông sang tây che chở.

Ðông giáp Giáo xứ Ðại Ðiền (từ Cầu Gỗ đến Quán Ðôi đường cái đá, và từ trường học Phú Ðiền đến nhà thờ họ Ngô, ranh giới Diên Ðiền và Diên Sơn). Tây giáp Giáo xứ Ðồng Dài (Hòn Ngang). Nam giáp Giáo xứ Hà Dừa (Sông Cái). Bắc giáp Núi Am Chúa (Diên Sơn 1, Ðại Ðiền Nam).

Gồm Xã Diên Thuỷ, Diên Sơn 2, và một phần Thị Trấn Diên Khánh.

lịch sử cách đây gần 300 năm, cho thấy giáo xứ Cây Vông là một trong các giáo xứ kỳ cựu nhất của vùng Nha Trang, được hình thành cùng một thời gian với Hà Dừa, Bình Cang. mà thánh đường và khu vườn của Nhà Gai là do Cố Giám Mục Tilopolis và các Linh mục thừa sai người Pháp cùng với sự đóng góp của giáo dân đã mua từ những năm 1730. Nhà Gai, Hà Gai, Nà Gai hay Lò Gai nằm trên khu đất tục danh xứ Tiên Hương, thuộc thôn Phú cốt trên bờ tả ngạn sông cái, xây mặt vào núi Hòn Ngang. Di tích nền thánh đường, nghĩa địa hiện nay vẫn còn và gần đó mấy sào đất thổ là tài sản của giáo xứ.Lúc bấy giờ chưa có cha sở.

Năm Tự Ðức ngũ niên 1851, sắc chỉ triều đình cấm đạo, giáo dân chạy tản mác. Nhà thờ bị đốt phá bình địa. Thời gian sau, tình hình lắng dịu, giáo dân tề tựu về xây cất lại thánh đường ở thôn Ðại Ðiền Tây, trên vùng đất của Ông Nguyễn Nay, bấy giờ do Cha Lão làm cha sở tiên khởi.

Năm Văn Thân nổi lên chống Pháp, Ðồng thời bách hại Công giáo, trong khi cố Minh Ganier lãnh đạo giáo dân Hà Dừa di tản vào Sài Gòn thì giáo dân Cây Vông một số lánh nạn ngoài Hòn Khói (Ninh Hoà ) Tu Bông (Vạn Giã) hoặc đón tàu đi Qui nhơn, một số còn lại theo Cha Lão lẫn trốn trên núi Hòn Ngang hay chạy trốn trong nhà người lương ở thôn Ðại Ðiền Nam ngày đêm núp trong mái (loại lu lớn) dùng chứa đường, bỏ trống. Thánh đường lại bị đốt phá. Việc tiếp tế cho cha Lão và các chức việc trên núi thật gây go, nguy hiểm. Lúc đầu giáo dân còn đưa cơm trong ống tre, sau hết gạo, phải lấy trấu rang nghiền nát bỏ vào ống tre đưa lên cho Ngài nấu cháo ăn với lá cây và thịt rừng Khi tạm yên, cha con tề tựu nhau về chung nhau xây cất thánh đường mới trên khu đất hiện nay. Cha Lão đã qua đời và được an táng trong thánh đường. Cũng từ đó, Cây Vông không còn cha sở nữa, giáo dân phải đi dự lễ khi ở Bình Cang, khi ở Hà Dừa, (đời Cố Ngoan và cố Bình) hoạ hoằn mới có một Cha về dâng Thánh lễ chúa Nhật một lần. Mãi đến năm 1910, cố Quới được thuyên chuyển về hà Dừa, luân phiên một tuần ở Hà Dừa, một tuần ở Cây Vông, giáo dân mới được thường xuyên dự lễ. Cố Quới coi sóc Hà Dừa, kiêm cả Cây vông và Ðại Ðiền. Ngài qua đời năm 1924

nhà thờ cây vông nha trang 2

Trận cuồng phong năm nhâm tý 1912 tàn phá khốc liệt Khánh Hòa đã làm sập đổ ngôi thánh đường. Ðến năm 1913, cố Quới cho xây cất lại đồ sộ hơn, cột kèo, bàn thờ được chạm trổ tinh vi, tồn tại đến ngày nay.

Bão năm nhâm tuất 1922 làm hư tiền đưòng và mãi đến 1939, Cha Stêphanô Phan văn Bính, với sụ cộng tác đắc lực của chức việc và giáo dân, nhất là ông câu nhì Nguyễn Ðiểu (vẽ kiểu và đôn đốc) đã trùng tu lại tiền đường, có tháp chuông kiên cố, song phải đợi đến năm 1952, tháp chuông mới có chuông, do ông Antôn Nguyễn Lâu (đệ tử cố Quới) dâng cúng.

Năm 1938, Cố Quý (P.Tourte) đến làm cha sở trong vòng 6 tháng. Chính Ngài tự tay cưa đục, sửa chữa lại bàn thờ gọn gàng hơn.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Chánh Tòa  Đà Lạt

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

*Nhà Thờ Hà Dừa

*Nhà Thờ Đá Cổ SaPa

*Nhà Thờ Phú Thượng

*Nhà Thờ Trà Cổ

*Nhà Thờ Trung Lao

*Nhà Thờ Khoái Đồng

 

Nhãn: , , , , , ,

NHÀ THỜ HÀ DỪA

hà dừa nha trang

Ðông giáp Giáo xứ Bình Cang (Ngã Ba Cải lộ tuyến, ranh giới Xã Diên Toàn). Tây giáp Giáo xứ Ðất Sét (Huyện Khánh Vĩnh). Nam giáp Giáo xứ Cư Thịnh (Cầu Lùng) và Giáo xứ Ðồng Hộ (Cầu Ông Ðường). Bắc giáp Giáo xứ Cây Vông (Sông Cái) và Giáo xứ Ðồng Dài.

Gồm các Xã: Thị trấn Diên Khánh, Xã Diên Toàn, Xã Diên Thạnh, Xã Diên Lạc, Xã Diên Thạnh, xã Diên Bình, Xã Diên Hòa, Xã Diên Phước

Có dịp đên Diên Khánh, sau khi đi qua khỏi Tây Môn thành Khánh Hòa (một di tích lịch sử do Tướng Võ Tánh xây dựng cách đây hơn thế kỷ để chống Tây Sơn, sau này là cơ sở đầu não tỉnh Khánh Hòa của Nam Triều), rồi theop tỉnh lộ 4 lần về hướng tây khoảng trên 100m, du khách sẽ gặp một ngôi thánh đường đồ sộ, nguy nga; tháp chuông cao ngất và tường xây chung quanh, đó là thánh đường giáo xứ Hà Dừa

Hà Dừa.không hiểu danh từ này có tự bao giờ và trong bối cảnh lịch sử ra sao, nhưng theo truyền thuyết thì xưa kia hai bờ sông mọc toàn loại dừa nước nên mới có tên Hà Dừa, tức là xứ có nhiều dừa hay là sông dừa (Hà là sông, dừa là cây dừa).

Giáo xứ Hà Dừa là một trong những giáo xứ có lâu đời tại Khánh Hòa, hầu hết giáo dân không là dân nguyên quán mà có lẽ từ những tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, được qui tụ bởi phong trào Nam tiến thời Chúa Nguyễn

Hà Dừa xưa có chung thánh đường với giáo xứ Cây Vông ở Hà Gai (thuộc Xã Diên Lâm hiện nay) một vài di tích vẫn còn trong vùng đất ông Lập, nội tổ ông Nguyễn Bàn, sau bị đốt phá mới di chuyển về khuân viên hiện nay thuộc làng Trường Thạnh.

Thánh đường đầu tiên được thành lập trên khuôn viên hiện tại nhưng chắc chắn là có trước khi Võ Tánh xây thành Khánh Hòa và đến năm 1870, Cố Bửu (Geffroy) kiến tạo lại theo kiểu Á Ðông, tuy nhỏ nhưng rất đẹp., có hai cửa ngõ lầu giống cửa thành. Còn thánh đường hiện thấy được xây dựng bằng hai thời kỳ, đầu tiên năm 1893 do Cố Ngoan (Saulcoy), Ngài vận động giáo dân đốn gỗ, phái ông chức Tích đi Làng Sông và Kim Châu lấy kiểu chạm trổ, Cha Nhuận vẽ sơ đồ. Năm 1917, Cố Quới (Salomez) mới xây tháp chuông, đóng trần nhà thờ, làm nhà xứ.

năm 1924 Cố Nghiêm (Guéno) đến, mở rộng thánh đường, xây thành, mua hai chuông.và đến năm 1932 mới đem hai chuông lên tháp

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

*Nhà Thờ Domaine De Marie

*Thánh Địa La Vang

*Nhà Thờ Chánh Tòa  Đà Lạt

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

 
 

Nhãn: , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ ĐẠI ĐIỀN

nhà thờ đại điền

Với diện tích: 45 cây số vuông, gồm các Xã Diên Phú, Diên Ðiền, một phần Thị Trấn Diên Khánh và Vĩnh Phương.

Ðông giáp Giáo xứ Phù Sa (Quốc lộ I + đường đất từ Quốc lộ đến cầu Xuân Phong) và Bình Cang (Sông Cái). Tây giáp Giáo xứ Cây Vông (từ Cầu Gỗ cũ đến Quán Ðôi đường cái đá, và từ trường học Phú Ðiền đến nhà thờ họ Ngô, ranh giới Diên Ðiền và Diên Sơn). Nam giáp Giáo xứ Hà Dừa (Sông Cái từ Cầu Gỗ cũ đến Cầu Mới. Bắc giáp Giáo xứ Lương Sơn (Ðèo Rù Rì).

Giáo xứ Ðại Ðiền bắt đầu nguồn gốc từ các bậc tiền nhân đến lập nghiệp, Nơi đây là núi xanh,rừng rậm, đồng hoang,họ đã thiết lập ngôi nhà nguyện đầu tiên bằng mái tranh vách đất vào năm 1820, cách ngôi thánh đường hiện nay độ 400 mét về phía Tây Bắc thộc Ðại Ðiền Ðông thuộc xã Diên Ðiền.

Năm 1868,đời Tự Ðức 21,trải qua cơn bắt đạo, giáo dân tản mát,có số bị bỏ xuống giếng nay được gọi là” Giếng lạng”; có số bị cột đá thả xuống sông,ngôi nhà nguyện bị thiêu rụi.

Vào năm 1890,cơn bách hại lắng dịu, bà con tề tựu về và xây cất lại nhà nguyện với quy mô rộng lớn hơn trên phần đất tục danh là “Ðồng Dưa” nơi thánh đường hiện nay.

Tháng 9 năm 1912 Nhâm Tý, một cơn bão khốc liệt đã làm sập đổ ngôi nhà nguyện một lần nữa. Năm 1913, được sự trợ giúp của cố Quới, Cha sở Hà dừa, Cây vông, cùng với các ông Phan tấn Kim, Nguyễn Nhân, Nguyễn Thạch, bà con giáo dân hợp lực xây cất lại ngôi thánh đường theo lối kiên trúc Tây phương,với quy mô rộng lớn và chắc chắn hơn, với bộ sườn cấu kết bằng danh mộc,mái lợp ngói âm dương,tường bằng vôi gạch.Vì số giáo dân quá ít,đời sống vật chất khó khăn, nên công trình không thể hoàn thiện được. Ðến năm 1937, giáo dân hoàn thiện tháp tiền đàng với chiều cao 11m và đặt thánh Phanxicô Xaviê làm quan thầy.

Năm đình chiến 1954, Linh mục Phêrô Nguyễn thanh Quý từ Vườn Vỗng Quy Nhơn vào Nha trang và được ÐGM Piquet chỉ định làm cha sở Ðại Ðiền. Trong thời gian quản xứ, Ngài đã cho đại tu bổ lại ngôi thánh đường,thay mái ngói, bắn thêm chiều cao, nới thêm chiều rộng chiều dài. Ngoài ra, Ngài còn khuyến khích trồng dừa, đào ao nuôi cá, vét giếng. Sau 4 năm quản xứ, ngài trở về Quy Nhơn.

Năm 1987 – 2001: Lm Giuse Nguyễn Hoàng Kim. Trong thời gian quản xứ, Ngài đã xây cất một ngôi thánh đường mới, một nhà xứ 2 tầng, một nhà hội dài 20mét, một nhà tre; tu bổ,sửa chữa nhà bếp, tường rào; lát đá chung quanh thánh đường. Sau một thời gian dài hoạt động tích cực cho giáo xứ, Ngài ngã bệnh va sức khoẻ ngày một yếu dần. Năm 1997, Ðức giám mục giáo phận Phaolô Nguyễn văn Hòa chỉ định Lm Phêrô Trần văn Ðiện làm phó xứ để giúp ngài.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Cha Tam

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ ĐỒNG HỘ

nhà thờ đồng hộ nha trang

Thuộc vùng núi với diện tích giáo xứ: 24 Km2,gồm các Xã Suối Tiên, Suối Cát, Suối Tân.

• Ðông giáp Quốc Lộ IA.

• Tây giáp Núi Hòn Chuông.

• Tây Bắc giáp Giáo xứ Hà Dừa (Cầu Ông Ðường).

• Nam giáp Giáo xứ Lập Ðịnh (Cầu Lỡ, cách Xóm Bầu 1,5 km).

• Tây – Nam: giáp vùng núi Suối Tiên (thắng cảnh du lịch).

• Bắc giáp Giáo xứ Cư Thịnh (Cầu Suối Ðá).

• Gồm các Xã Suối Tiên, Suối Cát, Suối Tân.

• * Có Họ lẻ Suối Dầu.

Năm 1926 có ba gia đình gốc Bình Cang đến Ðồng Hộ khai phá tìm đất làm ăn sinh sống. Gia đình Ông Giuse Nguyễn HoỔ. Gia đình Ông Gioan Nguyễn đình Thái và Gia đình Ông Tôma Nguyễn Nên

Năm 1930 ngôi nhà nguyện đầu tiên được xây dựng bằng mái tranh vách đất. Linh mục Nhuận, người gốc Hà Dừa, tuổi quá 70 xin về hưu dưởng ở Ðồng Hộ: dâng thánh lễ, ban các bí tích nâng đỡ bà con trong thời gian đầu.

Năm 1933, Linh mục Nhuận qua đời, nên các Linh mục Thạnh, Phước, Linh, Chiếu thỉnh thoảng đến dâng lễ và ban các bí tích.

Năm 1936 ngôi nhà nguyện bằng ngói và tường gạch được xây lên, thay thế cho ngôi nhà nguyện cũ và nhận Ðức Mẹ núi Camêlô làm lễ bổn mạng (16.07) và Ðồng Hộ từ nay là họ nhánh của giáo xứ Hà Dừa và các Linh muc quản xứ Hà Dừa cứ vài tháng lên Ðồng Hộ cử hành thánh lễ và ban các bí tích một lần.

Những năm đầu của thập niên 40, có mặt của dòng Phanxicô tại Ðồng Hộ: Như Linh mục Alix, Linh mục Phượng.

Năm 1947 các tu sĩ dòng Phanxicô được thuyên chuyển di nơi khác vì lý do chiến tranh.

Năm 1959, được phép của Ðức Giám Mục Marcel Piquet, ban chức việc Ðồng Hộ do Ông Nguyễn Chánh là câu trưởng và toàn thể bà con giáo dân chung sức góp công góp của, cùng với ân nhân xa gần, một ngôi nhà nguyện thứ ba được hình thành, rộng rãi, không trang và đẹp hơn được xây dựng nên và hoàn thành vào năm 1960, dài 24m, rộng 10m, mặt tiền cao 17m.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

*Nhà Thờ Domaine De Marie

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ ĐỒNG DÀI

nhà thờ đồng dài nha trang

Giáo dân Ðồng Dài trước đây đến từ các giáo xứ: Chợ Mới, Cầu Ké, Bình Cang. Vì cuộc sống vật chất, nhất là để bảo vệ đức tin trong những năm tháng sóng gió thời Văn Thân, ông bà tổ tiên đã di tản lên đây sinh sống và lập nghiệp. Dần dần con số tăng lên và đã trở thành giáo họ, rồi giáo xứ.

Giáo xứ Ðồng Dài nằm trong ” cụm” Hà Dừa và Ðất Sét. Trước đây Ðồng Dài đã từng là họ lẻ Hà Dừa và Ðất Sét, có lúc Ðất Sét là họ lẻ của Ðồng Dài.

Giữa năm 1870-1890: Nhà nguyện đầu tiên được dựng trên đất của ông Nguyễn Cơ, trước mặt sông.

Năm 1890: có thêm nhà thờ Ðất Sét. Linh Mục Quới quản xứ Hà Dừa, phụ trách hai nhà nguyện Ðồng Dài và Ðất Sét.

Giữa 1890: xây dựng lại nhà thờ ở bờ sông, nay gọi là nhà thờ cũ, Linh mục phụ trách Ðất Sét và Ðồng Dài.. 1936: Linh mục Bính ở Hà Dừa xây dựng lại nhà thờ Ðồng Dài 1960: dời địa điểm và xây lại nhà thờ khang trang như hiện nay. Ngài cũng dựng lại năm nhà thờ: Ðồng Trăng, Ðất Sét, Cây Sung, Giang Mấu, Bến Khế.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Chợ Quán

*Nhà Thờ Cửa Bắc

*Nhà Thờ Đá Phát Diệm

*GoThic Ngoài Đồng

*Nhà THờ Cam Ly

*Nhà Thờ Dòng CHúa Cứu Thế – Huế

*Nhà Thờ Tân Định

*Đức Mẹ Bãi Dâu

*Tượng Chúa KiTo Vua Trên Đỉnh Tao Phùng

*Nhà Thờ Thủ Đức

 

Nhãn: , , , , , , , ,