RSS

Category Archives: chuyện thiền

MỤC LỤC – TRUYỆN THIỀN

*Chiếc gương và cửa sổ

*Có và Không

*Thiền Sư và Gã Lái Đò

*Không Xa Cõi Phật

Advertisements
 
 

Nhãn:

KHÔNG XA CÕI PHẬT

Không Xa Cõi Phật

Một sinh viên đại học khi viếng thăm Gasan đã hỏi ông: “Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh Thiên Chúa không?

“Không, hãy đọc kinh đó cho ta nghe,” Gasan nói.

Chàng sinh viên mở cuốn Thánh Kinh và đọc trong phần Thánh Matthew: “Và các ngươi lo nghĩ làm chi về phần đồ mặc? Hãy ngẫm xem hoa huệ ngoài cánh đồng, chúng mọc lớn lên như thế nào. Chúng chẳng hề lao khổ, chúng cũng chẳng kéo chỉ, và tuy nhiên ta nói cùng các ngươi rằng dù cho Solomon vinh quang biết mấy, cũng không ăn mặc được bằng một trong những hoa ấy… Vì vậy cho nên, chớ lo nghĩ gì cho ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo nghĩ cho mọi sự của ngày mai.”

Gasan nói: “Bất cứ người nào đã thốt ra những lời đó ta coi như là một người đã giác ngộ rồi.”

Chàng sinh viên tiếp tục đọc: “Hãy xin và cái đó sẽ cho ngươi, hãy tìm và ngươi sẽ thấy; hãy gõ và cái đó sẽ mở cho ngươi. Vì mọi người ai xin thì được, và ai tìm thì thấy, và ai gõ thì được mở cho.”

Gasan phê bình: “Thật là tuyệt vời. Vị nào đã nói điều đó thời không xa cõi Phật.”

MỤC LỤC –  TRUYỆN THIỀN


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 1, 2009 in chuyện thiền

 

Nhãn: , ,

THIỀN SƯ VÀ GÃ LÁI ĐÒ

Thiền Sư và gã lái đò

Vào triều Minh, tại Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến có vị đại quan tên là Hoàng Trọng Chiêu. Năm đó ông được vua bổ nhiệm làm chủ khảo. Bấy giờ, 6 bộ trong triều thì Bồ Điền chiếm hết 5. Một số các danh thân trong làng nhận định đây là một cơ hội tốt cho việc thi cử của Bồ Điền, bèn kêu gọi bọn con em lên kinh ứng thí. Thôi thì gà phụng lộn bầy, người thực học cũng có, người thừa cơ hội tung tiền mua danh cũng có. Những hạng người này đến kinh đô là nhắm cửa phủ Hoàng Trọng Chiêu bái phỏng. Để tránh tị hiềm, hễ những người đồng hương, Hoàng đại nhân tuyệt đối không tiếp. Nhưng rồi họ cũng có cách là tìm một vị quan lớn làm môi giới. Sau cùng, không tránh mãi được, Hoàng đại nhân đành cho họ gặp mặt, nhưng chỉ cho phép họ cử người đại diện đến gặp thôi. Hoàng đại nhân vốn đã biết ý đồ của họ nên khi gặp mặt cũng không vồn vã, chỉ hỏi một câu: “Năm nay trong nhà có khá không?”

Thì ra Hoàng đại nhân quá biết về văn tài của bọn họ, có ý muốn nhắc nhở nhưng không tiện nói trắng ra, chỉ nói câu đó để xem bọn họ hiểu như thế nào. Người đi gặp Hoàng đại nhân đoán không ra, để lại hết những quà biếu rồi đem lời của Hoàng đại nhân đoán chừng chừng là: Năm nay Bồ Điền đại mạch tiểu mạch thu hoạch được mùa, không biết việc này có liên quan đến việc thi cử không? Quả nhiên, bọn họ đoán cũng trúng một phần. Nhờ câu nói đó mà số người thực học nhiều hơn số người kém chữ nghĩa. Trong số 50 học trò Bồ Điền đi thi thì 49 người đỗ Tiến sĩ, chỉ rớt có một người. Ấy là do Hoàng đại nhân không dám lấy đậu hết, sợ mắc phải tội tác tệ.

“Đi thi 50 đỗ 49”. Bồ Điền nhân đó mà danh tiếng nổi như cồn. Mấy vị danh thân muốn khoe khoang mình trị huyện có phương pháp, bèn trên con đường ở sau huyện nha làm một đại phường bằng gỗ, trên đó treo một tấm biển khắc 4 chữ tổ bố: “VĂN HIẾN DANH BANG”. Biển treo lên rồi tin tức truyền nhanh như gió khắp cả 81 xã trong huyện. Có người biết rõ nội tình cũng có ý ngầm không phục. Có một hiền sĩ Thiền lâm cũng vì việc này mà nảy sanh ra câu chuyện văn chương kỳ thú. Thì ra, gần vùng đó có một ngôi chùa, trong chùa có một vị Cao tăng. Vị này chẳng những võ nghệ siêu quần mà cầm kỳ thi họa thứ nào cũng đạt đến mức tinh vi. Nghe tin mấy vị văn thân trong thành treo tấm biển ấy, vị sư cũng muốn đến xem cho biết. Chuyến đi đã gây kinh động biết bao người.

Hôm đó vị sư lên thành phố đi tản bộ loanh quanh, sau cùng đến trước nhà phường gỗ, ngước mắt nhìn lên tấm biển. Bốn đại tự “Văn Hiến Danh Bang” nét chữ bay bướm và sắc sảo phi thường. Trong lòng vị sư có chủ ý: Mượn cơ hội này gặp mặt các chân tài tử Bồ Điền một phen. Ông từ từ cởi chiếc áo tràng của mình ra rồi khẽ vung tay. Vù một cái, chiếc áo bay lên giá phường gỗ, vừa vặn phủ lên tấm biển nhè nhẹ lôi tuột xuống đất.

Tấm biển bị gỡ xuống là chuyện không thể được rồi, nhất thời không ít người đổ xô trước phường gỗ. Họ thấy một vị Hòa thượng từ từ đỡ tấm biển lên kẹp vào nách rồi khệnh khạng bước về phía cổ lâu. Đoàn người hiếu kỳ đến mỗi lúc một đông, đa số không muốn vây vào chuyện không đâu nên chỉ lấy mắt ngó thôi. Một số tay chân của các vị văn thân có tăm tiếng muốn ra tay ngăn cản, nhưng ngán thân thủ bất phàm của Hòa thượng, nên đành xuôi tay đứng nhìn. Hòa thượng lên đến cổ lầu đặt tấm biển lên bệ lan can, khom mình chắp tay nói với mọi người:

– Bần đạo có điều mạo muội, dám xin quý vị lượng thứ chọ Chỉ vì tấm biển này treo không được ổn, nên đành phải lấy xuống vậy.

Bấy giờ, mấy vị danh thân đã biết được sự việc cũng có mặt, hỏi Hòa thượng:

– Xin Hòa thượng cho biết thế nào là không ổn chứ?

– Tấm biển này đâu phải là ngự phong, dù cho ngự phong đi nữa cũng khó làm cho người ta khâm phục. Bần đạo đây có một câu đối, nếu quý vị đối được thì bần đạo sẽ lấy vải đỏ bao lại, trên đó gắn hoa rực rỡ rồi đích thân gắn lại chỗ cũ. Kèm theo đó, xin sắm một tiệc rượu, mời gánh hát về hát một ngày để tạ tội với quý vị. Còn như quý vị đối không được thì xin thứ lỗi cho bần tăng vô lễ. Sau ba ngày bần tăng sẽ mang đi vậy.

Mấy vị danh thân nghĩ thầm: “Cái ông Hòa thượng này được bao nhiêu tài cán mà khoe mẻ, muốn so tài học vấn với chúng ta? Thì, đây cũng là dịp chúng ta hiển lộ chân tướng cho thiên hạ biết”. Do đó, bọn họ thương lượng xong, quyết định đồng ý cuộc so tài này. Hòa thượng bảo người mua mấy tờ giấy lớn nối lại thành một bức dài rồi mới hươi đại bút viết một loáng thành một câu đối: “Nhật tiến trùng thiên, đông lôi tây điện nam bắc vũ”. Viết xong đem treo lên, bức giấy rủ từ trên xuống dưới thành một dải dài, đứng xa mấy trăm bước cũng có thể nhìn thấy. Mấy vị danh thân bình thường tự ỷ mình văn chương đầy bụng, bấy giờ nhìn thấy câu đối của Hòa thượng, ai nấy đực mặt ra lấy mắt nhìn nhau, kêu khổ thầm: “Không ngờ Hòa thượng lại có nghề tay trái”. Câu đối này xem ra thật lém! “Nhật” đối với “nguyệt”, “tiến” đối với “thoái” đều dễ tính. Còn đoạn “đông lôi tây điện nam bắc vũ” mới là khó nuốt. Thông thường, đông đối với tây, nam đối với bắc, lôi điện có thể đối phong vũ. Khó nỗi là mấy chữ đó bị Hòa thượng xài hết thì câu sau lấy gì đối lại đây? Thực ra, những vị danh thân này học vấn theo lối chánh quy không nhiều, học phần lớn những thứ vặt vãnh. Họ biết rằng mình đối không được, không lẽ thú thiệt cái dốt trước mọi người, bèn viện cớ mắc công kia việc nọ rồi từ từ rút lui về nhà.

Cứ thế ba ngày qua đi, trước cỗ lầu sĩ tử chen nhau đứng như rừng, có người phí cả tâm tư cũng không đối được. Vế liễn treo trước cỗ lầu đã ba ngày, tấm biển trên cổ lầu vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Tới ngày thứ ba, mặt trời sắp khuất núi mà vẫn chưa có ai đối được. Điều này càng làm lo lắng thêm cho các vị danh thân. Bọn họ chỉ nghĩ đến thể diện của chính mình nên không ai muốn lại đến trước cỗ lầu để bêu xấu. Có người muốn bặm gan bước ra, nhưng lại sợ thua Hòa thượng thì thêm xấu hổ với mọi người. Vì thế, họ dù có cho bọn tâm phúc đi dò la tin tức, nhưng tuyệt nhiên không ai chịu xuất đầu lộ diện cả.

Về phần Hòa thượng, thấy liên tiếp ba ngày không có người nào đối được, trong lòng cảm thấy rất là kỳ lạ. Tuy nhiên cũng nói:

– Mấy vị danh thân kia treo tấm biển này là cử chỉ mạo tên khi đời, nhưng mà chả lẽ bực chân tài tử của xứ này đều đi đâu cả? Sao không ai chịu xuất đầu lộ diện? Thôi được, khi mặt trời khuất núi, tôi đành phải vác tấm biển về vậy!

Đêm ấy, trăng sáng như ban ngày, vị Hòa thượng kẹp tấm biển dưới nách, vội vàng trở về chùa. Trước mặt ông, một dải nước khe trắng xóa cản lối. Đây là Mộc Tòng Khê, muốn qua phải nhờ đò. Hòa thượng bước lên đò, dưới nách kè kè tấm biển. Người chèo đò thấy bộ dạng ông đã biết rõ 8 – 9 phần. Mấy hôm nay, khách qua đò đều bàn luận đến chuyện Hòa thượng gỡ biển ở trong thành, người chèo đò cũng có ý muốn vào thành để xem thử, ngặt nỗi không thể rời thuyền được. Anh ta muốn hỏi thăm mọi người, nhưng lại sợ bị chê cười. Bởi lẽ anh ta xuất thân từ cảnh bần hàn, từ nhỏ tới lớn chỉ nhờ con thuyền này mà sống qua ngày, chẳng được đi học, những điều hiểu biết chẳng qua chỉ là nhờ sự dạy bảo của khách qua đò. Biết được mấy chữ làm sao dám mơ tưởng đến việc ứng đối chứ? Nay đây, anh ta thấy vị Cao tăng đã đến trước mặt mình rồi, định bụng không nên bỏ qua cơ hội ngàn năm xin cầu giáo này. Bấy giờ anh ta mới khom lưng cung kính xin Hòa thượng nói cho biết nội dung câu đối. Vị Hòa thượng thấy anh chèo đò này quá lễ phép trân trọng, lời nói khác thường, trong lòng thấy vui vui, bèn đem câu liễn ngâm qua một lượt. Anh chèo đò vẫn lay động mái chèo, con thuyền từ từ lướt lên phía trước. Trên mặt khe, gió thổi sóng nhấp nhô, bóng trăng xao xuyến, sóng vỗ mạn thuyền kêu lách tách. Trước tình cảnh này, anh chèo đò tâm cơ máy động, à lên một tiếng, rồi buộc miệng ngâm rằng: “Nguyệt lâm thủy diện, tiền ba hậu lãng, tả hữu phong”.

– “Hay, hay !”

Hòa thượng nghe anh ta đối hay quá, khen lia lịa. Không ngờ ở một cái xó xỉnh này ông lại gặp được một vị chân tài tử! Ông vội vàng thi lễ chúc mừng anh chèo đò, rồi dục anh chèo đò mau mau quay thuyền lại, hai người ngay đêm đó cùng tiến vào thành. Hòa thượng có ý muốn cho mọi người xem đây mới thực là chân tài tử! Tấm biển “Văn Hiến Danh Bang” bấy giờ thay vì treo ở trên phường gỗ nơi đường cái sau huyện nha, lại được đem treo ở bến đò vào làng.

Thăng Điền (Theo Trích từ Trung Quốc Phật Thoại)

MỤC LỤC –  TRUYỆN THIỀN

 

Nhãn: , , ,

CÓ VÀ KHÔNG

Có một vị cư sĩ đến học đạo và thỉnh vấn Trí Tạng thiền sư như sau: “Xin hỏi thiền sư thiên đường và địa ngục có hay không?”. Thiền sư trả lời “có”.

Ông ta hỏi tiếp: “xin hỏi Phật và Bồ tát có không?”

– “Có”

– “Xin hỏi có nhân quả báo ứng không?”

– “Có”

Ông ta hỏi bất cứ điều gì, Trí Tạng thiền sư đều trả lời “có”.

Sau khi nghe xong vị cư sĩ này cảm thấy hoài nghi liền phản ứng rằng: “thiền sư! Ngài nói sai rồi”.

Thiền sư ôn tồn đáp “tôi nói sai ở đâu?”

Vị cư sĩ cao giọng nói “con đã hỏi Kinh Sơn thiền sư và Ngài đều nói “không””.

– “Nói “không” như thế nào?”

– “Con hỏi: có nhân quả báo ứng không? Kinh Sơn thiền sư nói “không”; có Phật Bồ tát không? trả lời “không”; có thiên đường địa ngục không? cũng nói “không” và con hỏi những gì thì Kinh Sơn thiền sư đều trã lời “không”. Nhưng ngược lại đối với Ngài thì tất cả đều nói “có”.”

Trí Tạng thiền sư hiểu rỏ căn tánh và trình độ của vị cư sĩ ở cấp bậc nào rồi và vui vẻ nói: “Ồ! ông có vợ không?” Vị cư sĩ thưa “dạ có”; “ông có con không?” – “dạ có”; “Ông có tiền của không?” – “dạ có”; “Ông có nhà cửa xe cộ không?” – “dạ có”.

Trí Tạng thiền sư lại hỏi tiếp: “Kinh Sơn thiền sư có vợ không?” Vị cư sĩ nọ thưa “dạ không”; “Kinh Sơn thiền sư có con không?” – “dạ không”; “Kinh Sơn thiền sư có tiền của nhà cửa không?” – “dạ thưa không”.

Trí Tạng thiền sư kết luận: “vì thế Kinh Sơn thiền sư trả lời với Ông “không”. Ta Trả lời với Ông“có” vì Ông có vợ, con,…”

Vấn đề này đối với người này nói “có”, đối với người khác nói “không” như vậy có khác nhau không? Thật ra, không có gì khác cả, đạo thì chỉ có một, “có” “không” là hai mặt của đạo mà thôi. Đạo là tùy theo căn tánh của con người mà có khác nhau. Hỏi đáp và trả lời của thiền sư lúc thì “có” lúc thì “không” chỉ vì trình độ của chúng ta có khác hoặc là thứ tự hiểu biết vấn đề của chúng ta có khác nhau mà thôi.

Như Nguyện dịch (Theo zhongguofojiaowang)

MỤC LỤC –  TRUYỆN THIỀN

 

Nhãn: , , ,

CHIẾC GƯƠNG VÀ CỬA SỔ

Chiếc gương và cửa sổ

Có một người Phú ông tên là Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, thế nên Ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.

Khi gặp Thiền s.ư : “Thưa Ngài ! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”.

Vị thiền sư mời Ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi Ông thấy được gì?

– “Dạ con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi là bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủy nữa”.

Thiền sư chẳng nói gì và mời Ông ta đứng trước một chiến gương soi hỏi Ông thấy được gì?

– “Con thấy chính mình”.

Thiền Sư ôn tồn nói : “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp son phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cãm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.

Lời bạt :

Bạn là người hạnh phúc không? hay là những người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Chúng ta đâu đó đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ “dừng bước”. Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương qua của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.

Huệ Thiện việt dịch (Theo Trích Internet)

MỤC LỤC –  TRUYỆN THIỀN

 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Mười 4, 2009 in chuyện thiền, TRUYỆN NGẮN

 

Nhãn: , ,