RSS

Category Archives: truyện ngắn hay

LY HÔN

LY HÔN

Dịch giả : Nguyễn Mạnh Tùng

Suy đi tính lại mãi, Mai Lan mới đi đến quyết định ly hôn với chồng. Từ khi lấy Dương Tiểu Sơn, cô thật khổ vì chồng. Dương Tiểu Sơn quen thói la cà, cờ bạc, đề đóm không chịu làm ăn gì. Cô đã tốn không biết bao nhiêu công sức khuyên nhủ chồng nhưng Dương Tiểu Sơn vẫn chứng nào tật ấy chẳng thèm chú ý gì đến việc lập nghiệp hưng gia.

Lấy chồng đã hơn ba năm mà mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà đều một mình cô lo liệu. Mới hai mươi bốn tuổi, có chồng cũng như không, chẳng trông mong gì được ở chồng, sức chịu đựng của Mai Lan có hạn nên cô quyết định đem chuyện ly hôn ra nói với chồng. Nào ngờ, chồng cô rất thoải mái trả lời: “Ly thì ly, đi hết đường núi này thì làm gì chẳng có miếu!”.

Thế là hai vợ chồng dắt nhau đến tòa án huyện.

Vào phòng tiếp hồ sơ của tòa án huyện. Dương Tiểu Sơn khúm núm mời trưởng phòng Đỗ một điếu thuốc lá Song Hỉ và nói:

– Thưa trưởng phòng Đỗ! Chúng tôi muốn được ly hôn.

Trưởng phòng Đỗ mệt mỏi nhận tờ đơn, miệng nói luôn:

– Nộp năm trăm đồng!

Mai Lan giật mình khi nghe trưởng phòng Đỗ nói thế. Tất cả vốn liếng của cô chỉ có một trăm năm mươi đồng. Số tiền đó cô phải dành dụm, tằn tiện mãi mới có, mang đi những mong mua một con lợn giống.

Dương Tiểu Sơn gãi đầu, gãi gáy, anh ta thì một xu dính túi cũng không có. Bao thuốc Song Hỉ kia cũng là vừa mua chịu ở cửa hàng bà bác trong làng.

Trưởng phòng Đỗ mặt lạnh lùng nói:

– Đưa đơn thì phải có tiền, không thì thôi. Về đi! Khi nào có tiền thì hẵng đưa đơn, nghe chưa!

Mai Lan nói với chồng:

– Lệ phí này mỗi người chịu một nửa.

Về nhà, Mai Lan lại cặm cụi chở rau lên phố bán. Tằn tiện mãi mới gom đủ hai trăm năm mươi đồng. Dương Tiểu Sơn thì sáng nào cũng dậy sớm vác thuổng đào lươn, bắt chạch.

Gần nửa tháng sau, họ lại dắt nhau lên tòa án. Lúc ấy, trưởng phòng Đỗ vừa đưa xác nhận ly hôn cho một đôi vợ chồng trẻ khác. Thấy vợ chồng Mai Lan, ông ta lạnh lùng hỏi:

– Việc gì?

Mai Lan vội nói:

– Chúng tôi xin ly hôn.

Cô vừa đưa đơn vừa móc túi lấy ra năm trăm đồng đưa lên bàn. Đỗ trưởng phòng thu tiền và đưa cho cô một tờ khai rồi ông ta lại cúi xuống cắm cúi xem cái gì đó.

Đợi mãi không thấy ông ta nói gì, Mai Lan liền giục:

– Thưa trưởng phòng Đỗ việc của chúng tôi…

Trưởng phòng Đỗ lúc đấy mới ngẩng đầu lên nói:

– Các người cho ly hôn là dễ thế nào? Phải để cho người ta xem xét rồi thụ lý chứ!

Hai vợ chồng lại lủi thủi ra khỏi tòa án. Ra đến cổng, họ lại gặp người đàn ông vừa nãy được trưởng phòng Đỗ giao cho tờ xác nhận ly hôn. Nhìn vợ chồng Mai Lan, anh ta đắc ý nói:

– Đúng là ngon ơ! Hôm qua tôi đưa đơn, hôm nay đã có ngay xác nhận ly hôn.

Mai Lan ngạc nhiên hỏi anh ta:

– Thật vậy à?

Anh ta bô bô:

– Rõ là quê một cục chẳng hiểu gì. Việc ly hôn bây giờ mà không ghép vào đơn hai bông “vua hoa sen” thì có mà đến mồng thất cũng không có giấy xác nhận!

Dương Tiểu Sơn hỏi:

– Tức là bốn trăm đồng à?

Về nhà, Mai Lan lại đi bán rau. Dương Tiểu Sơn lại đi bắt lươn, móc chạch đến tối mịt mới lê cái thân dính đầy bùn đất về. Mai Lan lại thấy vui trong lòng. Anh ta đến tiền ly hôn cũng không có.

Lại nửa tháng nữa trôi qua. Hai vợ chồng lại lẳng lặng lên đường. Dương Tiểu Sơn lưng cứ còng xuống, đau ê ẩm không đứng thẳng lên được. Anh ta gầy rộc đi. Chẳng hiểu sao, Mai Lan cứ chân nọ vấp chân kia trên đường đi. Đi được chừng năm dặm, Mai Lan bỗng nói với chồng.

– Chẳng phải chúng ta đã phí phạm mất hơn nghìn đồng rồi à?

Tiểu Sơn nói:

– Biết làm sao được!

Mai Lan nói:

– Số tiền ấy có thể mua được bốn, năm con lợn giống ấy chứ!

Tiểu Sơn im lặng một lát rồi nói:

– Lại mua lợn về nuôi à?

Mai Lan lại nói:

– Mua được đến ba trăm con vịt ấy chứ lỵ!

Tiểu Sơn giục:

– Đi thôi! Đừng thừa lời nói những chuyện vớ vẩn ấy nữa.

Mai Lan nhìn chồng nói:

– Tiểu Sơn! Hay là mình không ly hôn nữa nhé!

Tiểu Sơn ngạc nhiên nhìn vợ rồi nói:

– Thế là mất toi năm trăm đồng. Rõ là tiếc đứt ruột!

Mai Lan nói:

– Mất năm trăm mà thay đổi được con người anh thì cũng đáng.

Dương Tiểu Sơn bỗng nước mắt tràn mặt, nói:

– Mai Lan! Em tha lỗi cho anh, anh thề sẽ không sống như trước nữa.

Hai vợ chồng quay gót trở về, lòng hân hoan vui sướng theo hướng nhà thẳng tiến.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 5, 2009 in truyện ngắn hay

 

Nhãn: , , , ,

CAO LƯƠNG ĐỎ

CAO LƯƠNG ĐỎ

Theo lịch cũ ,mồng chin tháng tám năm 1939 ,cha tôi ,người mang dòng máu thổ phỉ vừa hơn mười bốn tuổi ,ông gia nhập vào đội quân của Tư Lệnh Dư Chiêm Ngao, mà sau này trở thành anh hùng truyền kỳ danh tiếng khắp trong thiên hạ,đi phục kích đoàn xe ô tô Nhật Bản trên đoạn đường Giao Bình ,Bà nội tôi tiễn họ tới đầu thôn , bỗng Dư Tư Lệnh hô : “ Nghiêm ! “, nội liền đứng nghiêm và dặn dò cha tôi : “Đậu Quan , hãy nghe lời cha nuôi nghe con ! “. Ông im lặng cúi đầu không một lời đáp lại .

Đoàn người đi trong đêm mù sương ,bí mật hành quân trên những thửa ruộng cao lương đỏ của quê hương Cao Mật . Ôi Cao Mật ,nơi tôi yêu nhất mà cũng là nơi tôi ghét nhất , mãi sau này lớn lên học hành giác ngộ , tôi mới hiểu ra không nơi nào trên trái đất lại đẹp nhất và xấu nhất như Cao Mật ,cực kỳ siêu thoát mà cũng cực kỳ thế tục , sạch sẽ nhất và bẩn thỉu nhất , anh hùng hảo hán nhất và đầu trộm đuôi cướp nhất ,nơi biết uống rượu nhất và cũng là nơi biết yêu đương nhất , Cao Mật với bạt ngàn cao lương đỏ , huy hoàng ,dào dạt , uyển chuyển và dậy sóng biết bao .

Năm tôi tròn mười sáu tuổi ,cô thiếu nũ vừa xuân thì ,phát tiết dung nhan , thắm màu hoa nguyệt ,buồn rười rượi bước lên kiệu hoa ,dập dềnh trên biển máu cao lương , đỏ như không thể nào đỏ hơn nữa . Cố tôi gả nội tôi cho chủ nộ họ Đơn , về làm vợ thằng con trai độc tự Biển Lang . Tuổi xuân rực rỡ của nội khiến bà khát khao được ngã vào lòng một chàng trai vạm vỡ đàn ông ,giải khuây bao nỗi trầm uất , cô tịch trong chiếc kiệu hoa ô uế này . Nội chịu không nổi cái cảnh tù túng giữa bốn bức màn vải đỏ , với bàn chân nhỏ xíu nhọn tựa búp măng , bà tách mảnh rèm kiệu thành khe hở và trộm ngó bên ngoài , hai đòn cáng kiệu bong loáng đè lên bốn tấm vai bạnh của những người phu kiệu , mà nơi họ bốc mùi mồ hôi chua loét , mùi mồ hôi đàn ông quyến rũ nội , khiến từng vòng , từng vòng sóng xuân lăn tăn ,lăn tăn dậy lên nơi lòng bà , rạo rực lạ thường .. Một trong bốn phu kiệu hôm đó sau này là ông nội tôi , người có tên Tư Lệnh Dư Chiêm Ngao lẫy lừng .

Đám phu kiệu đưa nội tôi ra tới đường cái quan , bao la một cảnh đồng rộng song dài , những thanh niên lực lưỡng bắt đầu nghĩ cách trêu chọc cô dâu , họ chạy nhanh làm cho nội ngồi trên kiệu lắc lư , điên đảo , nôn hết nước xanh nước vàng , bảo họ đi chậm lại thì cả bốn đều thưa rằng , phải vượt qua hang Cóc trước lúc trời tối kẻo có cướp . Nội tôi khóc thút thít không phải vì bốn anh phu kiệu chơi khăm bà , mà vì tới người chồng sẽ động phòng hoa chúc đêm nay – Đơn Biển Lang,một bệnh nhân kinh phong, con trai độc nhất của Đơn Đình Tú , tay bá hộ giàu lên nhờ nấu rượu cao lương , nhẽnao2 bà phải trao than cho hắn , nội tôi càng nghĩ càng khóc thành tiếng khiến phu kiệu Dư Chiêm Ngao động long trắc ẩn và mơ hồ thấy cả một vầng sang ngày mai . Đoàn người vừa đến hang Cóc thì quả nhiên có cướp , một tay thổ phỉ cao to , lưng mang bao vải đỏ cồm cộm những tiền là tiền , hét lớn : “ Mãi lộ ! “ . Đám phu kiệu vâng lời có bao nhiêu dốc hết để tìm cách thoát nạn . Nhưng tên cướp vén màn vải gọi nội tôi bước ra và hạ lệnh : “ Đi theo tao xuống ruộng cao lương kia ! “ . Nội thản nhiên , cương nghị và liếc nhìn phu kiệu Dư Chiêm Ngao . Hiểu ý người đẹp , họ Dư bất thần song phi đá lăn tay thổ phỉ , đoàn người xô tới bóp cổ hắn chết tươi . Dư Chiêm Ngao dìu nội lên kiệu , họ cười với nhau thật huy hoàng và cao quý , bà xé toang màn kiệu , tự do hít thở không khí , tự do ngắm tấm lưng trần lực lưỡng đàn ông của Dư Chiêm Ngao ,người mà cháu chắt chúng tôi đang ngày đêm hương khói phụng thờ …..

Cha tôi như một liên lạc viên dẫn đoàn quân luồn giữa ruộng cao lương ,tay ông luôn nắm chặt khẩu sung lục to quá cỡ đeo lủng lẳng bên hông .Họ đến nơi phục kích thì cũng vừa đàng đông ửng hồng ,nhưng trên con lộ chưa thấy một chiếc xe nào của giặc cả . Dư Tư Lệnh bảo mọi người hãy tạm nghỉ trong ruộng cao lương và nói với cha tôi :” Đậu Quan,quay về nhờ mẹ làm cho ít bánh , khoảng trưa thì đem ra và dặn mẹ con cùng đi nữa nghe “ . Cha tôi chạy một mạch tới nhà , ông ôm lấy nội , người con gái hoàng hoa thời ấy nay đã là thiếu phụ phong sương , “ Mẹ , cho nhiều trứng vào bánh nhe “ . “ Ừ ,bọn giặc vẫn chưa đến à ? “ “ Chưa mẹ ạ ,Dư Tư Lệnh dặn mẹ gánh bánh ra cho ông và binh lính đó “ .Xong nhiệm vụ ,cha tôi chạy như bay về bên Tư Lệnh báo cáo : “ Trưa nay nhất định có bánh “ > Nói chưa dứt lời thì cha tôi phát hiện từ xa bốn con bọ hung sắt bò trên đường lộ ,ông kêu lên : “ Tư Lệnh xem kìa , xe giặc “ .

Nội “ nhận lệnh “ và liền hô hào con nhào bột làm bánh , đúng giờ hẹn bà vận chiếc áo màu đỏ thắm , trên vai kĩu kịt một gánh những cái bánh còn nóng hổi , thoăn thoắt hướng về cầu đá ,nơi Tư Lệnh đang chờ . Từ ngày đi lấy chồng , nội tôi vẫn giữ được vẻ yêu kiều của thiếu nữ , công việc nặng nhọc chẳng mấy đến tay cho nên gánh bánh khao quân đã hằn lên vai nội một vệt bầm khá sâu , màu tím đỏ ấy là biểu trưng cho hành vi anh dũng kháng Nhật mà nội mang theo khi từ giã cõi đời .

Đoàn quân tập trung hỏa lực nhắm vào xe giặc đang tiến dần tới điểm chết , nhưng bỗng có tiếng sung nổ , đạn từ chiếc xe đi đầu nã ra , cha tôi ngoái nhìn và trông thấy nội như cánh bướm hồng chấp chới , ông chưa kịp kêu lên : “ Mẹ …” thì nôi đã ngã nhào .Cha tôi vọt khỏi ổ phục kích chạy về phía nội , Dư Tư Lệnh đành cho nổ sung tiêu diệt đoàn xe . Mặt nội úp xuống đất , máu đỏ như màu rượu cao lương ọc trào lên từ hai lỗ đạn trên lưng . Cha tơi lật người nội trở lại , dung mạo vẫn đoan trang , mái tóc vẫn óng mượt , phẳng phiu dưới hai cái kẹp sừng , vài hạt cao lương bay đậu xuống đôi môi của nội . Cha tôi đặt nội nằm trên những thân cao lương , nhì miệng nội dần dần biến sắc , cha nấc lên từng tiếng . Nội thì thào : “Cha con đâu ? “ , “ Cha nào hở mẹ ? “ , “ Dư Tư Lệnh , cha nuôi ấy “ , “ Ông đang đánh giặc ở đằng kia “ , “ Người đó mới là cha đẻ của con …” ,Cha tôi gật đầu , lặng nhìn phút lâm chung của nội . Hai phát đạn từ sau lưng xuyên qua bầu vú , bộ ngực trắng nõn của bà giờ đã rực hồng , bà vui sướng trông rõ những bong cao lương đung đưa ,trông rõ khuôn mặt người con trai , tác thành bởi một cuộc tình thắm đỏ như cao lương quê hương , bà mỉm cười e ấp và có vẻ như thẹn thùng xấu hổ nhớ lại quá vãng thật ngọt ngào và đẹp đẽ …

Đơn Biển Lang quả đã mắc bệnh kinh phong , hai đêm ở nhà chồng nội tôi thức trắng với con dao trong tay , sang ngày thứ ba cố tôi say túy lúy dẫn nội về , bà giận lắm . Nội tôi ngồi vắt vẻo trên mình con la , vừa rẽ qua quãng đường cong thì một bóng đen bỗng ào ra , bồng nội chạy mất hút vào ruộng cao lương ken dầy như rừng rậm . Nội không còn sức lực nào mà vùng vẫy nữa và bà cũng chẳng muốn vùng vẫy làm gì , thậm chí còn quàng tay qua cổ bong áo đen để người ấy bồng bà nhẹ nhàng , thoải mái hơn .Ba ngày sống giữa rừng cao lương , nội tôi như qua một giấc mơ , thấm đậm lẽ đời nhân thế .Người ấy tháo tấm vải đen che mặt , hiện nguyên hình , nội thầm kêu lên trời ơi và nước mắt lưng tròng vì sung sướng . Chàng cởi tấm áo ra làm chiếu , chân đạp mấy cây cao lương rạp xuống làm giường , rồi nhẹ nhàng bồng nàng đặt lên đó , nàng nhìn chàng vạm vỡ , cường tráng ,bỗng ngây ngất trong lửa tình rạo rực dồn nén mười sáu năm qua , chàng mạnh bạo lột mọi xiêm y và nàng mãn nguyện hưởng niềm khoái lạc .Họ yêu nhau như vậy suốt ba ngày liền và cha tôi chính là kết tinh của cuộc tình cuồng nhiệt , thống khổ đó . Sau ba ngày đêm ái ân tột đỉnh , ông bà tôi chia tay nhau , ông đưa bà ra đến bờ đường và thoắt một cái đã biến mất giữa muôn trùng biển máu của cao lương đỏ … để hôm nay trở thành Dư Chiêm Ngao trở về nhận con và thăm lại tình nhân .

Còn nội , nội vẫn nằm đó trên đệm cây cao lương như mười mấy năm trước , nhưnh đã mệt lắm rồi .,phải chăng cái chết đang dần tới ,phải chăng ta không còn có thể nhìn thấy trời này , đất này nữa sao , thế còn con ta , người tình của ta ? Hỡi Trời , người nào có dạy con trinh tiết là gì , chính đáng là gì , thế nào là lương thiện , thế nào là ác tà ,con chỉ hành động theo cách nghĩ của con .Con yêu hạnh phúc , con yêu sức mạnh , con yêu cái đẹp , than này là của con , con có quyền làm chủ nó , con không sợ phạm tội , con không sợ trừng phạt , con không sợ rơi xuống mười tám tầng địa ngục của Người . Nhưng con không muốn chết , con muốn sống ,con muốn nhìn thế giới này …

Nội tôi vẫn không rời mắt những ngọn cao lương đỏ , đung đưa ,mông lung , chúng kỳ ảo ,chúng rên la ,chúng kêu gọi có lúc như người thân , có lúc như ma quỷ ,như đàn rắn quẩn quanh người nội , chúng cười , chúng khóc , xanh đỏ trắng đen biến hóa khôn lường … Cha tôi chạy nhanh về phía Dư Tư Lệnh , hốt hoảng , thất thanh : “ Mẹ nhớ cha , cha ơi “ , “ Con ngoan của ta , hãy cùng cha diệt nốt mấy thằng chó đẻ này đã “ .Trận mạc tan khói sung , cha con vội chạy tới bên người thiếu phụ thì bà không còn sống nữa , nhưng khuôn mặt vẫn rạng rỡ cao quý dành riêng cho tình nhân cao lương đỏ , ông nội tôi vuốt mắt bà ,rồi chặt ngã bao cây cao lương phủ đầy lên thi thể người quá cố .

Nắng chiều chiếu xiên qua chiến trường , dưới kia dòng sông một màu đỏ , trên này cánh đồng cũng đỏ bởi ruộng cao lương . Cha tôi tha thẩn nơi bờ đê , cúi nhặt chiếc bánh và đưa cho nội , “ Cha ơi , cha ăn đi , bánh của mẹ con làm cho cha đó “ . Tư Lệnh Dư Chiêm Ngao cắn từng miếng bánh hòa với dòng lệ tuôn trào , lần đầu tiên người anh hùng đã không cầm được nước mắt .

MẠC NGÔN ( Quản Mô Nghiệp )

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
3 phản hồi

Posted by trên Tháng Chín 23, 2009 in truyện ngắn hay

 

Nhãn: , , , , , ,

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ VÀ MỘT NGƯỜI NỬA NGƯỜI ĐÀN ÔNG

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ VÀ MỘT NGƯỜI NỬA NGƯỜI ĐÀN ÔNG

1 .

Tiểu đoàn trưởng Trần Hoài Hải tiến lên phía trước trận địạ xuất phát của đại đội chủ công và quan sát . Lảo Sơn ,chiến sĩ thông tin báo cáo của anh , viên tham mưu do bộ tư lệnh trung đoàn cử tới để hiệp sức chỉ huy đã đến .

Anh quay đầu ngoái nhìn và bỗng kinh ngạc vì đó là viên tham mưu huấn luyện La Nhất Minh mà anh không muốn xáp mặt .Hoài Hải vọng lại Đại Thanh Sơn phía sau lưng mình , trạm cứu thương trung đoàn đóng quân nơi ấy , và cô ta , cô ta chắc cũng đang ngóng trông anh ? Mười lăm năm trước , Trần Hoài Hải và La Nhất Minh cũng mặc quân phục một ngày . Tình cảm và tuổi quân của họ cùng nhau trưởng thành , phát triển . Nhưng đến hôm nay , Hoài Hải mới phát hiện ra rằng , quá ư tín nhiệm , quá ư hiểu biết lẫn nhau cũng là một sai lầm . Tình hữu nghị khi đã leo lên đến tột đỉnh thì bạn bè sống với nhau , tiếp xúc với nhau quả là vô vị .Bạn là mình , mình là bạn , sống với bạn , sống với bạn của bạn đều tự nhiên thế cả . Anh và nhũng người như anh đều không bị rang buộc gì tất .

Trần Hoài Hải chưa kết hôn . Người mà anh tiếp xúc nhiều nhất , hiểu nhau nhất trong những phụ nữ quen biết chính là vợ của bạn . Hôm ấy La nhất Minh lên sư đoàn bộ dự hội nghị , lúc ăn trưa , Trần hoài Hải đã lục tìm món ăn gì ngon nhất và cô ta đang nấu món ăn đó cho anh .Một hạt bụi bay váo mắt cô ,cô nhờ Hoài Hải :

– Giúp em với anh ! – Hoài hải vén mi mắt cô lên và thổi mạnh , anh có vẻ lung túng và tự nhiên đỏ mặt khi ở ngoài ô cửa sổ thấp thoáng bóng người .

Và một đề tài bàn luận vô cùng lãng mạn đã ra đời , mỗi ngày mỗi thêu dệt , càng hoàn chỉnh càng đẹp đẽ , chàng ôm hôn đôi mắt nàng.Sự thể nào như vậy , nhưng giả thử có thật đi nữa thì đề tài này đâu sánh bằng một câu chuyện khác .

Vợ của La Nhất Minh thực sự thích anh ta .

Có thể như vậy không ? Bạn bè và thượng đế là những thần thánh không được xem thường . Vợ bạn phải long mình , ấy là lúc thần thánh bắt đầu xuống giá , hơn nữa , mình phải lòng vợ bạn , thì thần thánh kia quả là mốc meo .

Nhưng anh ta cũng rất tề phía thích cô ấy kia mà .

Cô ấy chính là vợ của La Nhất Minh . Liên tục quay lưng về phía sau , nhìn lên Đại Thanh Sơn . Cũng như ta , La Nhất Minh giờ này đã trở thành một ứng viên tử vong . Anh ta đã nghe lời đồn đại ấy chưa ? Rất có thể là chưa . Người đời thường nói những ông chồng bị lừa hay trốn vào trong trống , ai lừa La Nhất Minh ? ta chăng ?

2.

Liên tục bốn đợt xung phong của đại đội củ công đều thất bại , không một người lính nào sống sót trở về , họ đều gục ngã ngay ở sườn núi .Trần Hoài hải nhận định rằng , tất cả chiền sĩ của anh đã trúng đạn ở phần ngực . Những quân nhân thời Tần Thủy Hoàng cùng có một nhận thức , bị thương sau lưng là một nỗi nhục đối với người lính , Trần Hoài Hải thật sự tôn sùng quan điểm đó .

Cuộc chiến đã tới điểm tận cùng của sự tàn khốc , cán bộ từ cấp đại đội trở lên chỉ còn lại ba người : Trần Hoài Hải , La Nhất minh và quyền cán sự mà trước trận đánh Phòng Chính Trị cử xuống . Số chiến sỹ còn lại không là bao , nhanh chóng tập kết co cụm nơi chiến hào , ai sẽ dẫn đầu chi đội cảm tử này xung phong tiến lên , tiêu diệt địch ? Trần Hoài hải muốn nhận nhiệm vụ , nhưng không thể được , sứ mạng của anh hiện nay vẫn chưa phải là xung phong , quyền cán sự cũng thế , cán bộ chỉ huy quân sự vẫn còn , nhẽ nào lại dám đẩy một cán sự chính trị tiến lên trước ?

Nếu nói như vậy thì lần này đến lượt Nhất Minh . Nhất Minh ? Hoài Hải do dự, không phải đã có kẻ đàm tiếu : Rồi hãy xem , hắn sẽ dung mọi cách để chiếm đoạt người đàn bà ấy về tay mình . lại có người quả quyết : Nhất Minh thật hẩm hiu đen đủi , và giờ này họ sẽ nói sao ? Hoài Hải nghĩ ngợi và đau đớn vô cùng ,nhưng đây là chiến trường cơ mà . Anh ta phải chết , kể cũng oan uổng , vợ anh ta không yêu anh ta , yêu người khác ,thế mà anh ta cứ mê si tưởng là mình đang được yêu . Trần Hoài Hải bỗng cảm thấy tự mình đã có thể lý giải một cách sâu sắc tâm tình người Nga ở thế kỷ trước: Đừng nhắc đến Puskin nữa , cái chết nhà thơ khiến tất cả chúng ta đều nhận rõ lỗi lầm của mình đối với ông .

La Nhất Minh đang nheo mắt ngước nhìn đỉnh núi cao nhất của Lão Sơn – một ngọn núi đỏ au , thần sắc thật thê lương .Nhất Minh có khuôn mặt hấp dẫn như con gái , và lát nũa thôi khuôn mặt ấy sẽ không còn chút sinh khí mà vĩnh viễn ngửa nhìn trời xanh .

Thời gian gần đây , Trần Hoài Hải luôn bị dày vò bởi tâm trạng mắc lỗi chịu tội với bạn bè , anh biết người đàn bà đó đã chiếm một vị trí như thế nào nơi tâm khảm Nhất Minh và trong mớ bung xung đó Hoài Hải có hơi giận cô ta , vì cô ta phải long mình và tự giận mình , vì mình cũng phải long cô ta. Sau mỗi lần giận hờn như vậy ,anh tự nhạn thấy mình vùa nợ Nhất Minh một cái gì đó .

Đã nhiều lần Tần Hoài Hải định bạo gan nói chuyện này cho La Nhất Minh biết , nhưng hễ xáp mặt nhau là chủ ý lại thay đổi . Không phải Hoài Hải thiếu dũng khí , mà không nỡ làm như vậy , vì anh không muốn mình là người đứng ra đọc bản án tử hình cuộc hôn nhân của họ .

Trước khi vượt khỏi chiến hào xung phong lên Lão Sơn , anh cảm thấy không thể không nói , bởi ra giữa sa trường , rất có thễ cả hai sẽ vĩnh viễn nằm lại đó , bởi Hoài Hải chưa mở miệng thì Nhất Minh đã báo cho bạn bè là cô ấy đang mang thai , Nhất Minh vùa nói vừa sung sướng đến run người , khiến Hoài Hải ruột đau như cắt .

3 .

Đợt xung phong thứ năm bắt đầu , viên cán sự do phòng chính trị cử xuống vẫy sung cầm quân , Trần Hoài Hải giữ La Nhất Minh ở lại , đẩy viên cán sự chính trị tiến lên trước một bước . Hoài Hải nói nhỏ với Nhất Minh : Tôi giúp bạn lần này !

Trận ác chiến thật tàn khốc , hơn bốn mươi chiến sỹ áo lên , hò la , xông tới , quyết chiếm cho được đỉnh núi , đã nhiều người phải gục ngã ,nhưng viên cán sự cùng một vài chiến sỹ lại vươt5 tới chiến hào của địch .Trần Hoài Hải đang định bụng dẫn toàn bộ binh lính còn lại thừa thắng xung phong diệt địch ,thì bỗng những tiếng la hãi hùng vang lên , anh nhìn về phía Lão Sơn và một cảnh tượng làm cho máu trong toàn thân anh đông cứng . Địch quẳng lên cái xác người từ chiến hào của họ , lăn trên sườn núi ,đó là viên cán sự , tiếp theomột vài xác nữa cũng bị quẳng như vậy .

Mắt Trần Hoài Hải đỏ hoe , anh bật khóc .

Dưới chiến hào , những người lính lại tập kết , co cụm , Hoài Hải hiểu rõ rằng ,đây là trận cuối cùng nếu không tiếp tục xông lên thì hơn hai mươi chiến binh này cũng bị tiêu diệt và anh sẽ là người chết đầu tiên . Trần Hoài Hải đã hạ một mệnh lệnhmà bản thân anh cũng cảm thấy cảm động và khẳng khái , cử La Nhất Minh lui về tuyến sau báo cáo tình hình với sở chỉ huy trung đoàn .Anh muốn cho Nhất Minh được sống .

Bỗng đằng kia chiến hào vang lên tiếng sung , tiếp sau là những lời chửi rủa , cãi cọ , ồn ào . Chuyện gì vậy ? Trần Hoài Hải nhào tới . La nhất Minh ở chỗ đó , bàn tay trái nắm chặt cánh tay phải , giữ cho vết thương bớt trào máu , đầu Nhất Minh cúi gục , lãnh đủ những lời xỉ vả của đám binh lính , nhất là anh thương binh quấn đầy băng trên đầu :

– Đồ hèn !

– Đồ phản bội !

– Trời ! La Nhất Minh, tự sát thương ? Thật như vậy sao Nhất Minh ?

Trần Hoài Hải hét lên vì sự ô nhục của người lính , của chiến hữu . Người chiến bại chết một lần , nhưng kẻ phản bội chết đến ngàn lần , thời Tần Thủy Hoàng các nhà quân sự quan niệm như vậy và ngày nay người ta vẫn kế thừa điều răn đó . Trần Hoài hải đã luôn bảo ban chiến binh của mình dừng bao giờ phản bội .Thế mà giờ đâ sỹ quan La Nhất Minh lại vi phạm sự ô nhục ấy , con người này nhẽ nào là bạn của mình trong mười lăm năm qua , Trần Hoài Hải suy nghĩ và cảm thấy bộ mặt hắn thật xa lạ , uổng công anh vừa tỏ lòng xin lỗi hắn , anh có quyền giết hắn , có quyền ra lệnh người khác giết hắn, sinh mạng hắn hoàn toàn nằm trong bàn tay anh , lần đầu tiên Trần Hoài Hải nắm quyền sinh quyền sát như vậy ,nhưng kẻ phản bội sắp bị trừng phạt kia lại là bạn anh, đau lòng lắm , và tự nhiên Hoài Hải cũng cảm thấy nhẹ nhàng , thoải mái , thế mới lạ !

Trần Hoài Hải lại nhớ tới cô ấy . Anh cảm thấy rằng mình đang thuyết giáo nghĩa khí , một loại nghĩa khí hiện đại , mặc dầu quyền uy của anh rất hữu hạn , Trần Hoài Hải hạ lệnh :

– La Nhất Minh , đợt xung phong cuối cùng sẽ bắt đầu , anh phải tiến lên phía trước , nếu anh còn thụt lùi một bước , là tôi bắn , rõ chưa ?

Cũng là ăn đạn, nhưng như vậy tráng liệt hơn nhiều .Hoài Hải quay về vị trí chỉ huy và thầm nghĩ :Tôi lại giúp bạn một lần nữa !

4.

Trần Hoài Hải yêu cầu hỏa lực yểm trợ cho anh và đồng đội xung phong lần cuối , pháo binh điện báo đợi mười phút chuẩn bị .

– Hoài Hải – từ đằng xa chiến hào La Nhất Minh kêu lên tên bạn ,giọng nói nghe thật thảm thương

– Chuyện gì vậy ? Hoài hải bước tới .

– Mình…có lỗi , mình không sợ chết , nhưng cô ấy đã có mang ,mình không thể vứt bỏ mẹ con họ , không thể , không thể , mong cậu hiểu cho mình .

– Câm mồm !

Mày đã phá tan nát gia đình mày , pha tất cả ,không phải vì mày sẽ chết mà là danh dự , danh dự mày biết không ,danh dự còn quý báu hơn cả cuộc sống , mày vì cô ấy, không , mày đã hại nàng . !

Nhớ tới nàng , nhớ tới cô ấy , Trần Hoài Hải lại xốn xang vô hạn .Lần đó cãi nhau với chồng , cô bổ nhào vào phòng anh , ôi cái miệng mếu máo mới dễ thương làm sao , anh khuyên cô :

– Đã yêu Nhất Minh thì em cũng nên nhường nhịn anh ấy chứ .

– Vì sao ? – cô lắc đầu bĩu môi – nhưng anh ấy đâu phải là người tốt nhất – rồi cô đắm đuối nhì anh , và anh cũng hơi nghịch một tí :

– Vậy ai là người tốt nhất ?…

Còn giờ này ,anh muốn nói với cô , rằng chồng em đâu còn là người tốt nhất , có lẽ xấu nhất mới là đúng , hắn hoàn toàn không phải là một gã đàn ông !

Cũng lần đó , trong lời lẽ ngây thơ đáng yêu cô bỗng thốt ra :

– Anh thật dễ sợ – Trần Hoài Hải ngầm hiểu ý tứ câu nói tưởng rất vu

Vơ của nàng và định bụng : Em cũng vậy . Anh sợ cô , và sợ nhất tấm lòng không chân thực của mình ,rồi tự bức mình không được nhìn cô ta , bởi con mắt cũng có thể phạm tội .

Anh cảm thấy xấu hổ , chỉ vì một người đàn bà bình thường mà mất hết chí khí , hy vọng , văn nhã và vẻ nam nhi .

Trời đất chao đảo ,lòng người tựa như tơ vò .

5 .

Lão Sơn mịt mù khói súng ,hàng ngàn trái pháo đã nã xuống trận địa bên địch , sườn núi bồng bềnh như sóng bể . Trần Hoài Hải vẫy khẩu súng ngắn và hét lớn : xung phong ! đứng bên cạnh anh là La Nhất Minh và người lính bị thương trên đầu . Lệnh ‘ xung phong ‘’ vùa dứt , không phải Nhất Minh vọt lên trước mà là người lính kia . Anh ta tiến được hai bước thì khựng lại và như ai đẩy , người lính nghiêng ngả rồi cuối cùng đổ xuống , phần ngực nát tươm . Ấy là lúc một phát đạn vèo qua , La Nhất Minh cũng nhào lên , bất động , súng đã bắn trúng anh …

Nhất Minh , bạn ngã xuống , nhưng ngã về phía trước , nên bạn không bao giờ ngã . Phía sau chúng ta , cả Đại Thanh Sơn đều nhìn thấy bạn đã lao tới đích của thế kỷ và cô ấy phải trông rõ hơn ai hết , bởi nơi đây nàng có đến hai người đàn ông. Bạn ơi ,dù sao thì mình cũng sửa được lỡi lầm , mình giúp bạn khắc họa một hình tượng hoàn chỉnh về bạn biết ngần nào !

Đạn từ Lão Sơn như mưa bão ập xuống , các chiến sỹ của Trần Hoài Hải lần lượt ngã xuống , lao vòng đất mẹ và anh cũng không thể ngoại lệ , vết thương ở đùi trào máu khiến anh chỉ còn cách lết lên phía trước , anh hung hãn như con sư tử mà Hemingway miêu tả , trườn bò một cách khó khăn chực ngấu nghiến kẻ thù đã hãm hại anh . Lại một loạt đạn nữa tìm ngực anh xuyên thủng , mặt Hoài hải úp xuống đất , cuối cùng thì anh mới nhận ra , là mình bất lực mất rồi , không thể xung phong , không thể tiến lên được nữa . Báo cáo trung đoàn trưởng , trung đoàn trưởng thấy đó , tất cả chúng ta đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng , không một ai bị bắt làm tù binh , không một ai là vô dụng , còn em , người mà anh yêu , người đã yêu anh , em hãy nhớ , anh là kẻ ham hố , mỗi một bước đi đầy dục vọng …Trần Hoài Hải hôn mê .

Anh vẫn chưa chết , chưa chiến đấu đến hơi thở cuối cùng , khi tỉnh cơn mê thì nhận ra mình đang đung đưa trên tấm lưng ai đó . Người nào đã cứu anh , không phải toàn quân đều hy sinh rồi kia mà ? Trần Hoài Hải định thần và tim anh như ngừng đập – La Nhất Minh , ngã tong tư thế lhông chết ngay thì cũng trọng thương .

Trần Hoài Hải lại hôn mê và tỉnh giấc với ý nghĩ sợ hãi , dùng tàn lực trườn không lưng La Nhất Minh , lật mình và nhìn hắn từ đầu đến chân , chỉ mỗi vết thương ô nhục trên cánh tay phải mà thôi . Ôi con chuột cống , Hoài Hải lạnh cả người , anh rùng mình :

– La Nhất Minh , ngẩng đầu lên , hãy nhìn đi !

Hãy nhìn đi, một sườn núi chất đầy thi thể !

Vì những con người kia , vì sự hy sinh của họ , Trần Hoài Hải không thể tha cho hắn một lần nữa , anh rút súng . Bạn ơi , sao bạn tệ vậy , bộ mặt thanh tú kia chỉ là một lớp da , bạn cứu tôi , nhưng bạn đâu cứu nổi mình , những gì đồn đại , những gì là ghen tuông , tất cả đều trở thành rác bẩn nơi sườn núi đầy máu và thi thể này , hãy nói đi , nói lời cuối cùng trước khi tôi bóp cò .

La Nhất Minh câm lặng , nhìn Trần Hoài Hải không chút đau khổ , cái chết đã rõ ràng và nổ súng .

6.

Trung đoàn cho quân chi viện , Lão Sơn đã về ta , câu đầu tiên mà trung đoàn trưởng và cán bộ tham mưu hỏi Trần Hoài Hải chỉ là :

– Tại sao anh lại giết La Nhất Minh ?

– Hắn phản bội , tự sát thương và giả chết

– Tự sát thương sao còn có thể xung phong , ai nhìn thấy anh ta có hành vi đó ? – Mọi người tỏ vẻ nghi ngờ .

– Tôi ! chưa đủ hay sao ? và một người nữa , đang nằm kia nhưng đã vĩnh viễn câm lặng . Các người sẽ nghĩ gì về lời khai trung thực của tôi , chắc là trung đoàn trưởng cho là tôi sắp chết nên mới hỏi nhu thế chăng , thôi hãy chút bỏ bộ mặt bảo mẫu của ông đi .

Trung đoàn trưởng soát người Trần Hoài hải và sờ thấy súng , liền ra lệnh : hạ vụ khí , Hoài Hải thản nhiên rút khẩu súng ngắn , viên sỹ quan tham mưu vội nằm xuống tránh đạn , không , khẩu súng ngắn không nổ phát đạn nào mà chỉ quẳng rơi xuống đất .

Hoài hải đã rõ những gì đang đợi anh . Giúp một người đàn bà thổi bụi vu6ống trong mắt , tình tiết ấy được thêu dệt nên câu chuyện ôm hôn , lan nhanh như thể dòng sông , huống hồ bây giờ giữa thanh thiên bạch nhật đã nã đạn hạ thủ tình địch , thì đâu còn là dòng sông nữa mà trở thành đại dương , trở thành hồng thủy ,trong biển cả đó ta như mỗi con thuyền , nhớ khi xưa còn có em sóng chèo , nhưng giờ đây giữa nước to gió lớn biết bầu bạn cùng ai ?

Anh lại nghĩ tới cô ấy , có thể vì chuyện này mà anh mất hết tín nhiệm trong toàn sư đoàn , nhưng anh không thể mất em , em đã hiểu anh , em đã hiểu người bị anh giết , hắn không phải là đấng nam nhi , hắn chỉ là một người nửa đàn ông , hãy đến với anh hỡi em yêu , sợ gì hỡi em khi hoàng hôn của thế kỷ đang ập xuống .

Trần Hoài Hải được đưa về trạm cứu thương , anh nhìn cô , cô nhìn anh , ánh mắt thật phức tạp chứ không hề băng giá , khác với mọi người , đó là một điểm xanh lục giữa mùa đông tuyết trắng . Cô bước tới phía Hoài Hải trước bao vẻ mặt dò xét , cùng với hai người hộ lý cô băng bó cho anh . Mũi Hoài Hải nóng bừng . Hỡi em ,tên em đâu phải là Nhược Giả , lòng dũng cảm của em khiến các anh,bao đấng nam nhi phải thẹn thùng ưỡn ngực . Người hiểu anh , hình như mình em , hình như chỉ là em .

Trong khi chờ đợi chuyển về tuyến sau , Hoài hải kể hết mọi tình tiết ở Lão Sơn , cô ngồi yên như một pho tượng , lạnh lùng , câm ngắt ,lắng nghe .Đau những phút giây im ắng như cõi chết ,cô muốn nói nhưng lại ngừng và cuới cùng đành mở miệng :

– Em đang định báo cáo lên thượng cấp , tước trận đánh anh ấy có nói với em rằng ,sẽ dùng cách tự sát thương để rời khỏi chiến trường .

– Thật không em ? – Cô lắc đầu ,và Hoài Hải tự cảm thấy mình đã nhục nhã vô cùng , anh hét lên :

– Em làm gì thế ,những gì anh nói em tin không ?

– En tin – Trong ánh mắt nàng ,chàng thấu tỏ một câu trả lời hoàn toàn khác .

Hoài Hải hoảng loạn . Trên chiến trường máu chảy thành sông, xương chất thành núi mà anh chẳng sợ hãi, lòng anh mới thực sự mông lung ,bởi giữa đại dương bao la này anh không có một ai sóng chung mái chèo . Em cũng như mọi người mà thôi , trong cái giống nhau chỉ hàm chứa một chút khác biệt . Em yêu anh , nhưng không hiểu anh , người hiểu anh , chỉ mỗi mình anh. Hoài Hải ngước nhìn trời xanh ,dòng lệ tràn ra từ hai hốc mắt sâu thẳm .

LƯU Á CHÂU

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
 

Nhãn: , , , , ,

LÁ RỤNG VỀ ĐÂU ?

LÁ  RỤNG VỀ  ĐÂU ?

Thu Nguyệt

“Ðợi gió!” – Tôi suýt trả lời như thế với câu hỏi bất ngờ cất lên phía sau:

– Con đang đợi ai à?”

– Dạ thưa thầy, không ạ! – Tôi kính cẩn chắp tay chào thầy trụ trì – Con đang suy nghĩ để hoàn tất bức tranh này thôi. Thầy xem, những chiếc lá này con phải vẽ chúng rơi vào khoảng nào là đẹp nhất ạ?

Tôi mở cho thầy xem bức tranh tôi vẽ đường đi của gió, có mấy chiếc lá bồ đề đang bay lơ lững chưa rõ hướng rơi. Thầy cười hiền lành, chân tín:

– Thì lá rụng về cội chớ về đâu con !

Tôi cuốn bức tranh lại, nói như với chính mình

– Giá mà được như vậy ! Nhưng không biết …

Tôi bỏ lửng câu nói và thầy mỉm cười, nhẹ nhàng đi vào trong.

Năm ngoái, tôi đến ngôi chùa này để vẽ. “Chùa trong thành phố” là đề tài mà tôi ấp ủ. Những ngôi chùa cổ kính, rêu phong, nằm tách biệt với đô thị ồn ào đã đi vào tác phẩm của biết bao bậc đàn anh, tôi biết khả năng mình không chen vào lối mòn ấy được, nên cố tự tìm cho mình một lối đi khác. Tĩnh lặng trong sự ồn ào, đó là điều không dễ. Cuộc sống công nghiệp gấp gáp, một làn khói nhang quyện lẫn vào trong khói xe có làm cho người ta vài phút giây lắng lại ?

Chùa nằm trong vòng vây của đủ loại tiếng ồn. Những âm thanh hòa trộn vào nhau tạo ra một cái gọi là “âm thanh phố thị”, mà khi đã quen, ta như không còn nghe thấy nó nữa. Khoảng sân rộng vuông vắn, ngay ngắn những hàng cây kiểng được chăm sóc kỹ càng. Giữa sân là một cây bồ đề cổ thụ rợp bóng. May mà người ta không thể chăm sóc nó theo kiểu chăm sóc những cây kiểng nhỏ kia. Nó tha hồ vươn ra, xòa xuống những tán lá vàng, xanh, rách, lành… lẫn lộn, để khi có những cơn gió dạo qua thì còn có cái để mà rụng rơi.

Buổi trưa hôm ấy thật là vắng vẻ. Bất chấp những âm thanh của phố ong ong ngoài kia, tiếng chim trong vòm lá trong trẻo cất lên làm cho ta có cái cảm giác yên ắng thật tuyệt vời. Chùa cũng là một cơ sở phật học cho nhiều tăng ni về đây học tập nên rất đông người, chỉ có buổi trưa thì đôi lúc còn được yên tĩnh. Tôi đang sung sướng tận hưởng những giây phút hiếm hoi, lắng nghe tiếng gió, tiếng chim, thả rộng tầm mắt mà không vấp bóng người… thì lại thấy thấp thoáng dưới cội cây bồ đề dáng một chiếc áo lam. Một vị tu sĩ trẻ khỏang 20 -25 tuổi đang cúi lượm những chiếc lá trên sân. Tôi thầm chán nản nghĩ: Lại một sự chăm sóc quá đáng! Mảnh sân đã quá sạch sẽ rồi, có mấy chiếc lá rơi để coi chơi mà cũng đi nhặt sạch! Nhưng hay kìa! Vị ấy chỉ nhặt qua loa vài chiếc lá bỏ vào gốc cây rồi đi vô. Tôi thầm cám ơn sự lười biếng, cẩu thả ấy. Thế nhưng hôm sau, rồi hôm sau nữa, đúng vào giờ ấy, vị tu sĩ kia lại đi ra và lập lại công việc như hôm trước. Tôi quan sát kỹ thì thấy vị ấy nhặt lá một cách rất trang nghiêm, và hình như chỉ vừa đúng 8 chiếc lá, không hơn không kém.Cúi nhặt, nhìn ngắm, rồi cẩn thận xếp vào gốc…

Ðến ngày thứ sáu thì tôi không nén nổi tò mò. Sau vài ngày làm quen và tìm hiểu, tôi được biết:

Ðạo Trí – pháp danh của vị ấy – vào chùa từ năm 6 tuổi. Ðược thầy hết lòng thương yêu vì tính tình ôn hòa, kiên nhẫn, chịu khó. Suốt mười hai năm ở trong thiền viện, Ðạo Trí là niềm hy vọng của thầy, của các huynh đệ, bởi đạo hạnh và công phu tu.

Năm ấy, thiền viện mở khoá tập tu cho tăng ni sinh một số chùa. Dịp này Ðạo Trí đã quen với Tâm Nhân. Hai người nhanh chóng trở thành bạn thân với nhau bởi Tâm Nhân tỏ ra gần gũi và rất đồng điệu với Ðạo Trí. Tuổi mới lớn, ở thiền viện lâu năm, chung quanh là thầy và các huynh trưởng, dẫu yêu thương nhưng luôn nghiêm khắc, Ðạo Trí không có dịp bày tỏ những suy nghĩ vu vơ lãng mạn của mình. Như một trái gòn, ém trong mình một số lượng bông mà chính nó cũng không thể rõ hết, nay được nứt võ, trở mình, nó nghĩ rằng nếu được sổ tung ra, thì chắc nó sẽ nặng hơn trọng lượng mà nó có. Tuổi mười tám dễ dàng kết thân và trở thành bạn tâm đầu ý hợp với những ai tỏ ra ra quí phục, biết lắng nghe và tỏ ra đồng điệu với mình. Tâm Nhân đã mang đến cho Ðạo Trí những điều mà ở thiền viện mọi người không có. Tất cả những nỗi lòng, tâm sự, ước mơ…(mà trước đây Ðạo Trí không nghĩ rằng mình cũng có những điều như thế) được trút ra. Một cây bút chì khi nằm trong tay đứa học trò lớp vỡ lòng, nó chỉ viết ra được những chữ cái, đến khi gặp một kiến trúc sư thì nó tưởng rằng mình có thể làm nên những ngôi nhà! (Mà quên rằng trên đầu mình còn có một cục tẩy và bên cạnh còn có sẵn một cái dao gọt viết.!)

Thế rồi Ðạo Trí trốn thầy “ xuống núi” theo Tâm Nhân về ngôi chùa này để đi học.

“Phải học hành đàng hoàng trước đã, đó là điều chắc chắn đúng trong thời đại ngày nay, người tu sĩ cần phải có một trình độ học vấn uyên thâm mới mong đem đạo pháp đến gần với cuộc sống hiện đại, công việc hoằng pháp mới thuận lợi được; thầy đang còn trẻ và với khả năng của mình, nếu được học hành đến nơi đến chốn sẽ tiến rất xa…” đó là lời khuyên của Tâm Nhân.

Không biết Ðạo Trí sẽ tiến xa đến đâu, nhưng trước mắt là cách sống và suy nghĩ của Ðạo Trí đã phải khác trước. Bước đầu là hình thức bên ngoài: Cũng vẫn ba màu áo ấy nhưng chất liệu vải nay đã khác; cũng vẫn chỉ đôi dép đỡ chân nhưng nay phải êm hơn; từ chiếc xe đạp cà tàng để đến trường, nay vì thời gian gấp gáp, phải thay bằng chiếc xe máy mới theo kịp giờ giấc học tập từ lớp Phật học đến các môn học bên ngoài: Anh văn, Hán văn, vi tính, ..v..v… Có gì quan trọng đâu, đó chỉ là phương tiện, chấp làm gì! Tỏ ra kham khổ quá mà chi, mình phải hòa đồng với mọi người xung quanh chớ.

Ðạo Trí đã bước đầu thành công, học hành rất tốt. Vậy mà… mỗi khi có dịp gặp lại các huynh đệ cũ, nghe những lời phân tích, trách cứ… Ðạo Trí lại cảm thấy buồn, thấy hình như mình đã sai, đã chạy theo vọng tưởng nhiều quá. Khổ tâm nhất là khi gặp lại thầy, thầy không nói gì cả, không trách mắng cũng không khuyến khích, vẫn điềm đạm từ bi nhìn Ðạo Trí như ngày nào; nhưng không hiểu sao Ðạo Trí không thể yên tâm được! Những câu nói của mọi người cứ như một cuộn băng cứ quay đi quay lại rối tinh trong đầu: “Ðã được Hoà Thượng tự thân tận tình chỉ dạy, đường thẳng không đi lại đi đường vòng.” … “Học viện đã nhiều hơn tu viện, người của tu viện lại chạy ra học viện!” … “Liệu đã đủ bản lĩnh để vừa học vừa tu?”… “Trường lớp như một cái tiệm uốn tóc, người có tóc vào đó, khi bước ra chưa chắc ai cũng được một mái tóc đẹp, huống chi mình là người đã cạo trọc đầu !” … “Con đường nào cũng được, miễn về đích là tốt, hãy đi đúng con đường mà mình đã chọn, đừng nhảy lung tung”….

Nghiệp phước khó đoán! Thôi thì tùy duyên vậy. Ðể tự nhắc nhở mình, Ðạo Trí quyết định làm một việc: Mỗi trưa, sau giờ quả đường, khi mọi người đã đi nghỉ cả, Ðạo Trí lại ra gốc bồ đề, nhặt lấy tám chiếc lá gom vào gốc cây…thể hiện lòng mong mỏi, triết lý sống của mình.

Không biết công việc ấy Ðạo Trí thực hiện được bao lâu, bởi sau đó tôi phải đi công tác xa một năm. Tôi ấp ủ bức tranh và mong ngày trở lại chùa. Và giờ đây tôi đang đứng chờ… Ðã quá cái giờ mà Ðạo Trí đi ra nhặt lá, vẫn chưa thấy bóng người đâu. Ðạo Trí đã trở về thiền viện? Ðạo Trí đã đi học xa? Ðạo Trí đã đủ vững, không còn cần đến cái việc tự nhắc nhở mình một cách lãng mạn, giáo điều như vậy nữa. Hay là Ðạo Trí đã… chính điều này làm tôi không dám hỏi thăm về Ðạo Trí. Tôi sợ…

Vài cơn gió thoảng qua, những chiếc lá bồ đề lại rơi một cách nhẹ nhàng thanh thản. Khi đã chắc chắn rằng không còn có Ðạo Trí ra nhặt lá nữa, tôi đứng tần ngần thầm gởi ước mong vào những cơn gió. Cơn gió nào sẽ đưa những chiếc lá kia về cội, cơn gió nào sẽ thổi chúng bay xa ? …

Và có lẽ bức tranh của tôi sẽ là bức tranh với những chiếc lá đang bay lơ lững chưa biết sẽ về đâu.

Rời chùa ra về, khi bước qua cội bồ đề, tự dưng tôi cúi xuống nhặt lấy tám chiếc lá. Chưa biết vì sao và để làm gì.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 

Nhãn: ,

LẶNG LẼ

Lặng Lẽ

Gã thanh niên xin thọ giáo Thiền Sư chỉ cửa sổ thiền đường bảo:

– Hãy nhìn cảnh vật bên ngoài với tâm lặng lẽ.

Từ đó mỗi ngày anh đến thiền đường thực hành lời dạy, quả nhiên tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng ; một đám mây trôi qua trên bầu trời, những giọt sương long lanh đầu ngọn cỏ, con chim hót trên cành, đóa hoa vàng mới nở, gió thoảng, lá bay… nhất nhất đều hiện ra trước cái nhìn trong sáng hồn nhiên và lặng lẽ. Anh sung sướng nhủ thầm: “Thế là mình đã thể nhập vạn pháp”.

Rồi một buổi sáng mùa xuân, bên cửa sổ thiên đường bỗng hiện bóng dáng một giai nhân tuyệt sắc. Giữa muôn hoa rực rỡ, giữa ánh nắng bình minh, nàng xuất hiện như một tác phẩm nghệ thuật toàn bích và sống động.

Tim anh đập mạnh, trí anh bàng hoàng, tâm anh giao động đến nỗi thiếu nữ đã đi qua tự bao giờ mà tưởng chừng như bóng dáng vẫn còn lảng vảng đâu đây, khi ẩn khi hiện, khi còn khi mất…

Mây, nắng, cỏ, cây ngoài cửa sổ đều trở nên mờ ảo, chừng như chỉ còn lại đâu đó một bóng hình như hư như thực.

Chợt nhớ lời Thầy dạy. Anh giật mình định thần nhìn ra cửa sổ. Cảnh vật lại hiện ra, nhưng chẳng bao lâu lại chìm đi sau một bóng hình mờ ảo. Anh buồn bực, nhủ thầm: “Thế là mình đã đánh mất tâm thể vạn pháp”.

Không sao giải quyết được sự xung đột nội tâm này, anh quyết định gặp Sư để trình bày tâm bệnh, xin lời chỉ dẫn.

Sư nói:

– Hãy nhìn hình bóng bên trong với tâm lặng lẽ.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 

Nhãn: ,

CÁI GÌ TRÂN QUÝ NHẤT

CÁI GÌ TRÂN QUÝ NHẤT

Thích Hải Tín

—o0o—

Thuở xưa, trong một thành nọ, có một ngôi chùa tên là Viên Âm, mỗi ngày có rất nhiều người đến thắp hương lễ Phật, nên chùa cũng rất hưng thịnh. Trên xà ngang (đòn tay) ở nóc chùa có con Nhền Nhện (Tri Thù) giăng tơ làm tổ. Do vì mỗi ngày đều chịu nhiều khói hương và sự kiền thành lễ bái xông lên, cho nên con Nhền Nhện đã có Phật tánh. Trải qua hơn một ngàn năm tu luyện, Phật tánh của Nhền Nhện cũng đã tăng lên nhiều.

Một ngày nọ Ðức Phật quang lâm đến chùa Viên Âm, thấy hương khói nơi này rất thịnh vượng, Phật rất hoan hỷ. Lúc rời chùa, bất ngờ nhìn lên, thấy con Nhền Nhện trên xà ngang, Phật dừng lại, nói với Nhền Nhện rằng: “ Ta và ngươi có duyên mới gặp nhau, thấy ngươi tu luyện ở đây hơn ngàn năm rồi, không biết ngươi đã có kiến giải hay thấu triệt gì chưa, vậy Ta muốn hỏi ngươi một vấn đề, có được không?” Nhền Nhện gặp được Phật Nhền Nhện rất vui mừng, liền đồng ý lời Phật nói.

Ðức Phật hỏi Nhền Nhện rằng: “Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện suy nghĩ một hồi rồi đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Ðức Phật khẽ gật đầu rồi rời khỏi chùa Viên Âm.

Như vậy 500 năm đã trôi qua, Nhền Nhện vẫn tu luyện trên xà ngang của chùa Viên Âm. Tánh Phật của Nhền Nhện ngày càng sáng ra. Một ngày nọ Phật tổ lại đến chùa, nói với Nhền Nhện rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi vẫn khỏe chứ? vấn đề 500 năm trước, ngươi có hiểu biết gì sâu rộng chưa?” Nhền Nhện đáp rằng: “Bạch Phật, con cảm thấy cái trân quý nhất trên đời này vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Ðức Phật nói: Ngươi tiếp tục tu luyện và suy nghĩ thêm đi, Ta sẽ tiếp tục đến tìm ngươi”.

Năm trăm năm nữa lại trôi qua, một ngày nọ, gió mạnh nổi lên, gió thổi một giọt nước cam lộ bay và vướng vào ổ lưới Nhền Nhện. Nhền Nhện nhìn giọt cam lộ, thấy nó trong suốt óng ánh rất đẹp, bèn sanh ý ưa thích. Nhền Nhện mỗi ngày ngắm nhìn giọt cam lộ rất vui vẻ, nó cảm thấy rằng đây là những ngày vui vẻ nhất trong hai ngàn năm nay.

Bỗng nhiên một cơn gió mạnh thổi đến, giọt nước cam lộ kia cũng bị gió thổi đi mất. Nhền Nhện trong phút chốc cảm thấy mất đi cái gì đó, cảm thấy cô đơn buồn tẻ khó chịu. Lúc này Phật tổ lại đến, hỏi Nhền Nhện rằng: “Nhền Nhện à, năm trăm năm nay ngươi suy nghĩ kỹ vấn đề: Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện nghĩ đến giọt cam lộ, vẫn đáp với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái quý nhất là vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Phật nói rằng: “Hay lắm, ngươi đã kiến giải như vậy, hiểu biết như vậy, vậy Ta cho ngươi đi một vòng ở thế gian vậy”.

Như vậy, Nhền Nhện đầu thai làm một tiểu thơ giàu có, làm con của một gia đình quan đại thần, cha mẹ cô ấy đặt cho cô ấy một cái tên là Tri Nhi (Bé Nhền Nhện), đến năm 16 tuổi Bé Nhền Nhện đã trở thành một thiếu nữ thướt tha yểu điệu đẹp đẽ sạch sẽ cảm động lòng người.

Một ngày nọ, vua trong nước quyết định tổ chức tiệc mừng công cho tân khoa bảng vàng trạng nguyên Cam Lộc ở phía sau hoa viên. Trong buổi tiệc có rất nhiều thiếu nữ trẻ tuổi đến tham dự, có cả tiểu công chúa Trường Phong của vua. Trong buổi tiệc chàng trạng nguyên Cam Lộc, đem tài nghệ của mình ra cống hiến, như thi từ ca phú, tất cả thiếu nữ trong buổi tiệc không ai không bị tài nghệ của chàng trạng nguyên kia thuyết phục. Nhưng Bé Nhền Nhện không có gì tỏ ra lo lắng hay ganh tỵ gì, vì cô ấy biết, đây là nhân duyên Phật tổ thưởng cho cô ấy.

Mấy ngày sau, kể ra thì cũng lạ thật, lúc Bé Nhền Nhện đưa mẹ đi thắp hương lễ Phật, cũng lúc ấy Cam Lộc cũng đưa mẹ đến lễ Phật. Sau khi thắp hương lễ Phật xong, hai người mẹ đứng một bên thăm hỏi chuyện trò, Bé Nhện và Cam Lộc vừa đi trên hành lang vừa trò chuyện, Bé Nhền Nhện rất vui vẻ nghĩ rằng, cuối cùng mình cũng được ở bên cạnh người mình yêu thích, nhưng Cam Lộc không có biểu hiện với sự vui thích của cô ấy. Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) nói với Cam Lộc rằng: “Lẽ nào bạn chưa từng nhớ sự việc trên mạng lưới nhền nhện ở chùa Viên Âm mười sáu năm về trước hay sao?!” Cam Lộc rất kinh ngạc, nói rằng: “Bạn Tri Nhi ơi, bạn rất đẹp, cũng làm cho người ta thích, nhưng sức tưởng tượng của bạn hơi phong phú một chút.” Nói xong hai người chia tay nhau, cùng với mẫu thân rời chùa.

Tri Nhi về đến nhà, trong lòng nghĩ rằng: “Phật tổ đã an bài chuyện hôn nhân như vậy, vì sao không làm cho anh ấy nhớ lại chuyện trước đây? Vì sao Cam Lộc không có cảm giác gì với mình?” Mấy ngày sau, vua ban lệnh, tân khoa trạng nguyên Cam Lộc kết hôn cùng với công chúa Trường Phong, Thái tử Chi Thảo kết hôn với Tri Nhi. Tin này đối với Tri Nhi như là sét đánh giữa trời quang, cố ấy nghĩ mãi mà nghĩ cũng không thông, vì sao Phật tổ đối với cô ấy như vậy?!

Trong mấy ngày sau khi biết tin tức như vậy, cô ấy không ăn không uống gì, tính mạng rất nguy kịch sớm chiều. Thái tử Chi Thảo vừa hay được tình hình của Tri Nhi, bèn vội vàng chạy đến, bổ nhào đến bên cạnh giường của Tri Nhi, nói với Tri Nhi đang thoi thóp chút hơi tàn rằng: “Ngày ấy, trong các tiểu thư ở sau hoa viên, ta mới gặp nàng đã đem lòng yêu quý, ta đã khổ nhọc khẩn cầu phụ hoàng, phụ hoàng mới đáp ứng lời khẩn cầu của ta. Nếu nàng chết rồi, thì ta cũng không thiết sống nữa”. Nói xong, bèn rút gươm định tự tử.

Ngay lúc này, Phật tổ đến, Ngài nói với thần thức của Tri Nhi sắp thoát khỏi thân xác rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi đã từng nghĩ qua, Cam Lộ (hay Cam Lồ tức Cam Lộc) do ai mang đến bên cạnh ngươi vậy? Là do gió (công chúa Trường Phong) mang đến, cuối cùng cũng do gió mang nó đi. Cam Lộc là thuộc về công chúa Trường Phong, người ấy chẳng qua chỉ là khúc nhạc chen vào trong cuộc đời của ngươi mà thôi. Nhưng lúc ấy Thái tử Chi Thảo là cây cỏ nhỏ ở trước chùa Viên Âm, người ấy đã gặp ngươi hai nghìn năm rồi, đã ái mộ ngươi hai nghìn năm rồi, nhưng ngươi lại chưa từng cuối đầu nhìn qua người ấy. Này Nhền Nhện, bây giờ Ta lại hỏi ngươi, trên đời này cái gì là trân quý nhất?”

Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) sau khi nghe những chân tướng này, bỗng nhiên đại triệt đại ngộ, cô ấy bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.”

Vừa nói xong Phật liền ra đi, thần thức của Tri Nhi cũng đã trở lại thân xác của Tri Nhi, cô ấy từ từ mở mắt ra, thấy Thái tử Chi Thảo đang muốn tự vẫn, cô ấy lập tức đánh thanh gươm rơi xuống đất, và ôm chặt Thái tử vào lòng…

Thiền Tư Thiền Ngộ:

Trên đời này rất nhiều người cố chấp việc truy cầu những gì mình đạt không được hoặc đã mất đi, mà bỏ đi, đánh mất đi hạnh phúc trước mắt có được, như những gì có ở trong tay mình, điều này thật rất không đáng biết bao?! Trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái gì “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Tám 28, 2009 in truyện ngắn hay

 

Nhãn: ,

CÁNH HẠC NON NGÀN

CÁNH HẠC NON NGÀN

Lam Khê

Nắng lên cao, nắng chiếu ngút ngàn quanh các triền núi hoang vu làm khô ráo mấy hạt sương mai còn đọng lại trên những ngọn cây. Càng đi lên, không khí càng thoáng đãng hơn; nhưng đường núi dốc đứng hiểm trở cùng với cái nắng nóng đã làm cho đoàn người hành hương bắt đầu thấm mệt. Từ xa, họ đã nhìn thấy một mái am tranh bé nhỏ đứng chơ vơ giữa lưng chừng núi. Cảnh trí tĩnh lặng khiến lòng người trở nên thanh thản, dễ chịu đôi chút… Từng bước chân nhanh nhẹn lại thoăn thoắt vượt qua những tảng đá cheo leo nằm vắt vẻo ngang bên bờ suối lạnh.

Sư cô Tịnh Thủy chậm rãi bước ra sân… đứng chần chừ giây lát, rồi ngồi xuống nhổ cỏ quanh mấy bụi hoa kiểng. Sáng nay, Sư cô định lên đỉnh núi tìm hái một ít lá cây đem về làm thuốc cho bà con trong làng. Nguyên ngày hôm qua và cả sáng nay, tiếng chim khách cứ hót vang bên hiên tịnh thất. Sư cô nghĩ… thế nào cũng có khách đến viếng thăm đây. Có thể là mấy chú công an biên phòng. Vì đây là vùng núi chiến lược nằm gần biên giới, nên Nhà nước nghiêm cấm không cho dân đến làm nhà hay khai khẩn trồng trọt. Ấy vậy mà… hơn mười năm trước có một vị Sư cô còn rất trẻ, một thân một mình dám lên đây lập am để ẩn tu. Mấy lần người ta đã phải lên mời và ép buộc Sư cô xuống núi. Nhưng sau này vì Sư cô cứ bướng bỉnh trở lên và thấy cũng không di hại gì nên họ tảng lờ không làm khó dễ nữa. Và cũng kể từ đó, không biết tiếng đồn như thế nào mà thỉnh thoảng lại có đoàn du khách tìm đến vãng cảnh thăm chùa.

Ở chốn rừng hoang núi thẳm này, xưa nay ít có dấu chân người lai vãng. Không hẳn là vùng trọng điểm nhạy bén của quốc gia, mà do đây chẳng phải là nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng gì. Làng mạc với dân cư thưa thớt cũng cách xa nơi này khoảng dăm ba cây số. Đường núi gập ghềnh… ban ngày thì nóng bức khô khan, ban đêm thì lạnh buốt ẩm thấp. Nhưng… đáng sợ hơn cả vẫn là loài độc xà luôn quanh quẩn trong các lùm cây bụi cỏ. Có lần, vào lúc đêm khuya trăng thanh gió mát, Sư cô tọa thiền trên một tảng đá ngoài sân thì một chú rắn lục bò tới nằm khoanh tròn bên dưới. Khi xả thiền, Sư cô chợt nhìn thấy nó. Sư cô liền chú nguyện… một lát sau thì con rắn bò đi. Có người hỏi:

– Sư cô không sợ rắn sao?

– Lúc đầu có sợ, sau rồi cũng quen dần. Mình chú ý không đụng chạm gì đến nó thì thôi. Mà dường như rắn cũng biết nghe kinh đấy. Nhiều lần tôi đang tụng kinh thì có con rán bò vào nằm ngay ngạch cửa. Thời kinh vừa xong thì nó bò đi mất. Nghe cứ như chuyện từ thời các vị thiền sư ngày xưa, nhưng đó là sự thật.

Cuộc sống thanh bần ẩn dật như cánh hoa rừng khiêm tốn đơn điệu, nhưng tâm hồn của Sư cô không rời xa hẳn với thế giới bên ngoài. Cánh hạc giữa chốn đại ngàn thỉnh thoảng vẫn hòa nhập với những người dân lam lũ sống rải rác dưới chân núi. Những người đau bệnh thường hay lên nhờ Sư cô tìm thuốc. Sư cô phải lặn lội leo lên đỉnh núi hái các loại cỏ thuốc đem về phơi khô cho họ. Sư cô cũng hay giúp mọi người một vài chuyện vặt vãnh khác, có khi an ủi hoặc lắng nghe họ giãi bày những điều buồn vui trong đời sống. Một lần có người Phật tử từ xa nghe nói liền tìm đến thăm. Thấy thảo am đơn bạc không có gì, người ấy bèn cúng dường cho Sư cô một ít tiền để chi dụng. Hôm sau Sư cô xuống chợ mua gạo, nấm, khoai về nấu một nồi cháo lớn, rồi đi mời hết bà con trong xóm đến ăn. Gạo tiền còn dư chút ít, Sư cô cũng phân phát hết cho người nghèo. “Đời tu hành tri túc đạm bạc cần chi phải giữ gạo tiền nhiều”. Sư cô bảo với mọi người như vậy.

… Khi đoàn hành hương lên đến nơi thì ánh nắng đã chan hòa khắp cả núi rừng. Mọi người tản ra đến bên những gốc cây ngồi nghỉ mệt và nhìn ngắm những mảng cây xanh đang trải dài trước mắt. Sư cô đem ấm nước lá vối và vài món cây nhà lá vườn ra đãi khách. Chủ khách sau vài tách trà ấm bụng đã trở nên cởi mở.

Mọi người ngồi xung quanh cùng nói chuyện với Sư cô. Một vị cao niên và có vẻ am hiểu đạo pháp cất tiếng hỏi: “Đức Phật từng dạy: Phật pháp bất ly thế gian giác. Sư cô quả thật là người có đầy đủ dõng lực, xa lánh duyên đời. Thế nhưng lại sống quá tách biệt thế này thì sao gọi là làm lợi lạc quần sanh. Như vậy chẳng phải là trái lời Phật dạy mà cũng trái với tâm nguyện của người xuất gia sao?”.

– Dạ vâng! Sư cô từ tốn trả lời – Theo lý thì như vậy. Nhưng Phật pháp vô lượng. Mỗi người đều có tâm niệm và hạnh nguyện khác nhau. Khi Phật còn tại thế, Ngài vẫn khuyến khích chúng đệ tử vào trong rừng sâu tham thiền nhập định. Thời xưa và cả thời nay, các bậc cao minh thạc đức trong Phật pháp không phải ít. Người có năng lực trí huệ cũng nhiều. Chư vị đều vì tiền đồ của đạo pháp, vì hạnh phúc an vui cho chúng sanh mà xả thân bất vụ lợi. Như vậy thì đâu hẳn là nơi phố thị đông đúc hay phải làm điều gì to tát mới gọi là báo Phật độ sanh. Tâm nguyện của tôi là thích chuyên tu, hơn nữa đã quen sống nơi thôn dã bình yên tĩnh lặng này, chứ nào phải muốn làm kẻ lập dị khác đời. Với nhân sinh, tôi vẫn mong làm điều gì lợi ích theo năng lực của mình. Thân tuy sống xa cách nhưng lòng tôi không hề xa cách…

– Thưa Sư cô! Các tỉnh thành bây giờ đều có mở trường Phật học. Những vị Tăng Ni sinh trẻ thích tìm về các ngôi trường lớn trong thành phố hoặc có vị sang tận nước ngoài du học. Ai cũng vì mục đích phụng sự đạo pháp, nhân sinh mà cần cầu sự tiến đạt trong sự nghiệp tu học. Sư cô sống ẩn dật như vậy chẳng hóa ra là người đời trốn đời sao?

Sư cô mỉm cười: – Với tâm nguyện xuất gia ban đầu, tôi cũng muốn theo học một ngôi trường Phật học nào đó. Nhưng rồi nhân duyên đưa đẩy, tôi về đây và cũng tìm thấy niềm an lạc trong đời sống tu hành. Phật cũng dạy: “Tùy theo trụ xứ thường an lạc”. Tùy theo hoàn cảnh mà hoàn thiện pháp môn tu học cùng phẩm hạnh của người xuất gia thì đó cũng vừa là tự lợi và góp phần làm lợi ích cho xã hội rồi…

Những lời hỏi han gần như chất vấn… nhưng ai nấy đều bày tỏ lòng cảm kích và ngưỡng mộ trước ý chí và nghị lực của Sư cô. Họ đến đây không chỉ để tham quan, không hẳn vì lòng hiếu kỳ, mà phát xuất từ một niềm tin, từ sự kính phục trước một con người đã lìa xa chốn bụi hồng lại không màng đến chuyện hơn thua được mất giữa cuộc đời. Một đời an bần lạc đạo, sống thanh cao giữa chốn núi rừng, nhưng vẫn luôn mang tâm niệm vị tha… vì cuộc đời, vì đạo pháp trường tồn ngày mai.

Sau buổi tọa đàm, đoàn hành hương được Sư cô thết đãi một bữa cơm đạm bạc và ngồi nghe chuyện một cách chân tình mà sâu xa đạo vị. Suốt buổi trưa, Sư cô dẫn đoàn đi tham quan một vài cảnh trí quanh thiền thất. Rồi sau đó tất cả vội từ giã Sư cô xuống núi khi nắng chiều dần buông.

Một chuyến đi xa… một cuộc hành trình nhiều thú vị, ít ra họ cũng tận mắt nhìn thấy bao cảnh quan sông núi hữu tình. Rừng núi luôn bao trùm những điều kỳ diệu mà chỉ những ai từng chung sống, từng trải lòng mình với muôn sinh trong cõi tạm… mới cảm nhận hết được. Nắng chiều vừa lịm tắt sau chân núi… đưa đoàn viễn khách trở về xuôi… mang theo về bao niềm tin tưởng lạc quan vào cuộc sống.

Tiễn khách xong, Sư cô Tịnh Thủy lại bước lên một trụ đá ngồi thiền. Một ngày nữa lại trôi qua… Nhưng mọi sự việc và khái niệm thời gian ở đây nào có nghĩa gì… khi lòng người đã thật sự tìm thấy niềm an lạc vô biên trong ánh đạo.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 

Nhãn: , ,