RSS

Tag Archives: an giang

CHÙA PHẬT LỚN TRÊN NÚI CẤM

Chùa Phật Lớn trên núi Cấm

núi cấm

Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) là tên gọi chính thức bằng văn tự đầu tiên xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC, biên soạn vào cuối thế kỷ XIX). Còn trước đó, ngọn núi này được gọi là núi Đoài Tốn (Gia Định thành thông chí, biên soạn đầu thế kỷ XIX).

Ở ĐNNTC, núi Cấm được khảo tả rằng: “… thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt, là một trong Bảy Núi. Vì núi cao nên ít người lên đến chót”. Cái danh xưng Bảy Núi có lẽ cũng xuất hiện trong ĐNNTC là chứng cứ văn liệu đầu tiên.

Chúng ta không có cứ liệu khác để xác định chính xác từ bao giờ người dân vùng đất mới phương Nam qui tất thảy nhiều ngọn núi ở khu vực này vào con số bảy, cũng như qui tất cả những cửa sông của các nhánh sông Mê Kông đổ ra biển vào con số chín: Cửu Long. Song điều có thể nhận ra là sông ấy, núi ấy đã được thiêng hóa: một thực tại văn hóa đã định hình, bao trùm lên trên thực tại tự nhiên… Và rồi, thời gian lịch sử lại không ngừng bồi đắp thêm muôn vàn sự kiện tạo nên những ký ức nối kết chiều dài quá khứ với hiện tại.

1. Quay lại buổi đầu khai hoang, năm 1757, Nguyễn Cư Trinh – người đứng đầu công cuộc bình trị vùng đất mới phương Nam đã đề đạt lập 3 cứ điểm quan yếu án ngữ đầu nguồn sông Hậu và sông Tiền: đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc). Đó là tên gọi “hành chính”, còn đối với lưu dân thì vùng đất này được gọi là “Châu Đốc tân cương”, “Tân Châu ác địa”… bởi thời ấy đây là vùng đất úng thủy, hàng năm bị nước lũ từ Biển Hồ đổ tràn xuống. Đồng hoang đầy rắn và chuột, núi rừng lắm cọp beo, rắn rít và dưới sông sấu lội lềnh khênh. Mặt khác, nơi này còn là nơi binh lửa, chưa ổn định như Đồng Nai – Gia Định, chưa là xứ… “Tây An” như sau này, chưa được Thoại Ngọc Hầu đào kinh xẻ rạch nối thông qua Rạch Giá (kinh Thoại Hà), qua Đông Hồ, Hà Tiên (kinh Vĩnh Tế)…

Khi công cuộc khai phá đạt được kết quả ít nhiều thì thực dân Pháp xâm lược. Ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây lần lượt lọt vào tay giặc. Các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp dưới ngọn cờ yêu nước của sĩ phu lần lượt bị dập tắt. Đặc điểm nổi bật của những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nghĩa quân thất trận, nông dân mất ruộng và cơ cấu văn xã truyền thống đứng trước những thách thức lớn lao của sự đổi thay.

Hạ ngươn Giáp Tý đầu niên,

Gẫm trong thiên hạ:

không yên chỗ nào.

(Vãn, Sư Vãi Bán Khoai

Thực tế lịch sử đầy bi phẫn bấy giờ, dưới cái nhìn chuyển kiếp của nhà Phật… quả là thời mạt pháp, hay dưới cái nhìn biến dịch của Nho đạo thì hẳn đó là thời hạ ngươn (hạ nguyên). Những tín điều của dòng phái tiên tri Bửu Sơn Kỳ Hương được rao truyền từ thời Phật thầy Tây An… đã ứng nghiệm nhãn tiền, nên tự nó trở nên xu hướng thời thượng của thời buổi mọi con đường sáng đều bế tắc.

2. Núi Cấm có tên gọi khác là “Thiên Cẩm sơn” bởi cảnh sắc hoa cỏ, cây lá đẹp như dải gấm của trời. Đây là cách đặt tên hoa mỹ dưới cái nhìn thi vị hóa của các văn nhân và tuy cũng được thế nhân tán đồng, nhưng tên gọi phổ biến vẫn là núi Câm, được hiểu là “vùng cấm người lai vãng”, với nhiều lý giải suy nguyên khác nhau: hoặc đẩy về thời chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh hoặc thời Pháp thuộc. Song điều có thể dễ dàng nhận ra việc gọi núi Cấm là bắt nguồn tư nếp tư duy truyền thống về việc định danh các ngọn núi thiêng được coi là trục thiêng trung tâm của cộng đồng, là Cấm Sơn/Núi Cấm. Đây là một tập quán phổ biến từ lâu đời mà núi Nghĩa Lĩnh (nơi đặt đền thờ các Vua Hùng) ơ vùng đất Tổ Phú Thọ là một ví dụ. Ba đỉnh núi thiêng này được gọi là núi Cấm: Tam Sơn cấm địa.

Ở đây, chí ít là đến nửa sau thế kỷ XIX, Bảy Núi đã được các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là Bửu Sơn. Theo đó, núi Cấm, ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn, được xác tín là địa điểm Phật Di Lặc mở Hội Long Hoa, cuộc phán xét cuối cùng, kết thúc thời hạ ngươn/mạt pháp và khai mở kiếp đời thượng ngươn mới hạnh phúc và an lạc. Dấu hiệu chỉ báo là đến lúc đó, từ núi báu (Bửu sơn) sẽ tỏa ra mùi hương thơm kỳ diệu (Kỳ hương).

Về mặt tự nhiên, cứ như ghi chép của tác giả Gia Định thành thông chí, thì núi cao 50 trượng, chu vi 20 dặm dư (số đo thực: cao 705m), “hình như cai đài cao, nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ nên gọi là núi Đài Tốn… Núi cao đột ngột, sinh sản các loài trầm hương, tốc hương, súc sa, cây sao, giáng hương, thông tre. Cây cối tốt tươi có đường cong queo thông trong núi sâu, dấu người qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa có bến nước, kẻ cày cấy, người đánh cá chia từng loại ở nơi chân núi”. Đoạn trích dẫn trên cho ta thấy hình tướng lẫn hương vị của ngọn núi thiêng. Người đời sau kể rằng trên núi có suối Thanh Long nằm vắt qua điện Cây Quế. Điện không có cây quế nào mà được gọi tên như vậy vì ở đó luôn phảng phất mùi trầm lẫn trong gió. Người ta đoán rằng có trầm hương trong núi nhưng chẳng ai xeo đá, nổ mìn để tìm vì làm như vậy là cắt đứt sinh lực của núi Cấm là suối Thanh Long.

Lại nữa, tại đoạn trích dẫn trên, chúng ta được biết đường đi cong queo “thông vào núi sâu”, song lại không nói đặc điểm quan trọng của núi Cấm là các vồ đá: vồ Chư Thần, vồ Bồ Hong, vồ Ông Bướm, vồ Đầu, vồ Thiên Tuế… Đó là những địa điểm thiêng thờ tự Thần Phật và là nơi ẩn tu của các ông Đạo tu hành đắc đạo, hành tung bí mật, có phép thần thông và y thuật. Ông Cử Đa là một kỳ nhân tiêu biểu.

Lại nữa, ngọn núi này được xác tín là cõi thanh tịnh của các bậc tu hành chứng quả Phật, Tiên, Thần, Thánh nên ngay cả hổ báo cũng chỉ ăn hoa quả, tuyệt đối không sát sinh, không ăn thịt người. Loài ham ăn thịt người phải tìm nơi khác, như núi Bà Đội Om, để cư trú.

Nói tóm lại, núi Cấm một phần là do đặc điểm cùng vị thế tự nhiên của nó và phần nữa là do những nhân duyên và hệ lụy của lịch sử nên đã trở thành căn cứ-thánh địa cua những kỳ nhân nặng lòng với đạo với đời, trong thời kỳ đau thương của dân tộc.

3. Thực dân Pháp chiếm An Giang ngày 22-6-1867. Người đứng ra khẳng khái nêu tuyên ngôn:

Thà thua xuống láng xuống bưng,

Chứ không đầu giặc, lối chưng quân thần

là Đức cố quản Trần Văn Thành – một vị võ quan và đồng thời là cao đồ của Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương). Căn cứ Láng Linh (Bảy Thưa) của Trần Văn Thành vốn là một xóm đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và lực lượng nghĩa quân dưới cờ của ông không ít là tín đồ của dòng phái tôn giáo cứu thế này – tức có quan hệ với một mạng lưới gồm các cộng đồng đồng đạo khác: Thới Sơn, Nhơn Hưng (Tịnh Biên), Cái Dầu (Châu Phu), Trà Bang (Rạch Giá), Tân Thành (Đồng Tháp)…

Giáo thuyết của các cộng đồng này đặt nền tảng trên một mạt thế luận với kỳ vọng rằng Hội Long Hoa sắp khai mở ở Núi Cấm, giờ đây trong thực tế thì Hội Long Hoa là ngày đất nước Nam giành lấy chủ quyền độc lập, kiếp đời thượng ngươn mới là đất nước thanh bình, thịnh vượng. Đây là hai mặt lý-sự củng cố niềm tin, thúc đẩy các tín đồ các phong trào tôn giáo cứu thế nhiệt tình đứng lên chống Phap và nung nấu tâm can mãi đến sau này mặc cho giặc dìm tất cả các cuộc nổi dậy vào máu, triệt hạ tất cả làng mạc, phân tán các tín đồ ra khỏi các làng mạc mang tính “xóm đạo” và liên tục bủa mật thám theo dõi, bắt bớ những người mà chúng tình nghi có quan hệ với các ông đạo ở vùng “năm non bảy núi”, nhất là sau hai cuộc nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn Sài Gòn năm 1913 và năm 1916.

4. Theo bài viết “Đức Trung Tôn trên núi Cấm (Châu Đốc) hết cái nạn dầm mưa dang nắng” trên báo Từ Bi Âm (số 92, 15 Oct., 1935) thì chùa Phật Lớn do ông Bảy Do tạo dựng: “Nguyên thuở trước, ước chừng ba bốn chục năm nay, có một ông thầy tu theo đạo trên, tên là Bảy Do, lên choán chỗ đó ma cất một cảnh chùa bằng ngói rất nguy nga. Trong chùa ấy, ông lại mướn thợ lên cốt một vị Phật bằng ciment rất to, tục kêu “Đức Trung Tôn”, bề cao được một thước tám tây, ngồi kiết già trên cái bàn cũng bằng ciment và cao trên hai thước. Chùa vừa cất xong thì ông Bảy Do lại bị ở tù, kế từ trần trong ngục thất…”.

Ông Bảy Do, tên thật là Cao Văn Long, quê ở Bến Tre. Ông là một trong những người lãnh đạo cuộc nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn Sài Gòn năm 1916. Trước đó, ông thường lui tới hầu hết các tỉnh Nam Kỳ và đến núi Cấm xây chùa năm 1912, lấy đó làm trụ sở cho hội kín Thiên Địa hội. Ông bị giặc bắt ngày 17-3-1917 (Theo G.Coulet: Les sociétés secrètes en terre d’Annam. S, Ardrin, 1926). Giặc xua lính lùng sục núi Cấm và chùa Phật Lớn chẳng tìm được tang chứng gì, ngoài một số lượng lớn chén bát. Chúng dựa vào mớ chén bát đó để qui tội ông làm quốc sự…

Chùa Phật Lớn, sau khi Bảy Do bị giăc bắt, trở nên hoang tàn. Người có tâm đạo lấy cây làm cái trại lá để tạm che mưa nắng cho Phật tượng bởi họ nhiều lần xin phép cất cái trại thì nhà cầm quyền thời đó cũng nhất quyết không cho. Mãi đến năm 1914, ông Trần Văn Lầu (cựu Hương quản làng An Khánh, tổng Hòa Quới, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho) đến núi Cấm thấy cảnh chùa hoang phế bèn lên chùa Linh Sơn (Sài Gòn) nhờ Cò mi Chấn (Phó nhì Hội trưởng Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học) đứng ra xin phép tái thiết chùa Phật Lớn. Cò mi Chấn tính đủ cách cũng không được cấp phép làm lại chùa nên cuối cùng, ông bảo ông Lầu dỡ trại, cất liều cái am lợp lá. Lại có kẻ cáo quan chủ tỉnh. Sở Mật thám liền vào núi Cấm xem xét và rồi Chủ tỉnh Châu Đốc đòi ông Lầu đến tra vấn. Chủ tỉnh Châu Đốc gởi công văn buộc Cò mi Chấn phải dỡ bỏ cái am mới cất ngay lập tức. Nhưng Cò mi Chấn trả lời qua thư rằng: Theo tục lệ An Nam, không để Phật ngồi giữa trời dầm mưa, dang nắng như thế… Chủ tỉnh Châu Đốc lại gởi thư buộc Cò mi Chấn phải “dỡ am đi liền”. Lần này Cò mi Chấn lại đáp: “Cái am cất lỡ rồi, ông là người đạo Phật sợ phạm tội nên không dám dỡ!”. Nhờ việc qua lại ấy mà cái am không bị phá dỡ, che chở tượng Phật Lớn còn đến nay.

Cũng theo bài báo trên, tại chùa Phật Lớn bây giờ có hai bài thơ: một bài chữ Hán và một bài Quốc ngữ. Tiện thể chép ra đây để lưu dấu tích cũ.

Bài thơ chữ Hán:

Hà xứ tiên tiên ngã mộng hồn,

Cấm sơn triêu tịch,

Trắc Quang thôn.

Mô hồ cựu tích thiên niên khứ,

Cô lộ di dung nhứt Phật tồn.

Tằng thác lương nhơn

thành tiểu cái,

Nguyên tương vi thiện

chưởng lai côn.

Chứng minh tự hữu

Không vương tại,

Đa thiểu nhân nhơn vị hứa lôn.

Bài thơ Quốc ngữ:

Núi Cấm trèo chơi hãn biết rồi,

Có gì là cảnh gọi rằng vui

Xa xa hóc trảng nghe người nói,

Trùi trụi đầu non thấy Phật ngồi.

Nóng ruột vì cưu ơn tế độ,

Ra tay thề giúp lực tài bồi.

Am mây vững đặt ngôi Tam bảo,

Cúi nguyện mười phương

chứng dạ tôi.

Trần Nguyên Chấn

5. Chùa Phật Lớn, được coi là lớn là theo sự so sánh với kích cỡ Phật tượng ở chùa chiền đây đó thơi bấy giờ. Giờ đây thì Phật tượng cao 1,8m thì chẳng là mấy. Lại nữa, tên gọi “Phật lớn” coi ra đã lỗi thời, bởi kế đó giờ đây người ta đã dựng tượng Di Lặc Bố Đại cao đến 33,6m. Pho tượng có kích cỡ đạt Guinness Việt Nam này đã làm lu mờ cả danh lẫn thực của chùa Phật Lớn – một tập thành ký ức lịch sử-văn hóa của một thời tủi nhục và đầy vinh quang của dân tộc. Rồi nghe đâu nay mai, ngay trên cuộc đất chùa Phật Lớn này sẽ dựng lên một thiền viện qui mô tòa ngang dãy dọc và không biết di tích chùa Phật Lớn có còn trụ được với những thách đố của xu thế hoành tráng (colossus) đang bộc phát hệt như cái “chủ nghĩa Guinness” thời thượng.

Nói chung, ai mà không biết mọi vật đều thay đổi, song bao giờ cũng cần có sự cân bằng giữa chủ nghĩa tiến bộ và chủ nghĩa văn hóa. Bởi một kiểu phát triển nào đó sẽ phá vỡ sự thỏa hiệp thiêng liêng của con người với môi trường sống, trong đó có môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn và đặc biệt là tổng thể lịch sử-tự nhiên của cộng đồng. Các di tích lịch sử-văn hóa của mỗi cộng đồng là các di tích có tính độc đáo không gì thay thế được vì chúng đã truyền cảm hứng, làm nên những biểu tượng thiêng liêng gắn kết các thành viên của cộng đồng với chúng và mặt khác, chúng là những mẫu mực về đổi thay văn hóa, đổi thay thái độ của các thế hệ với chúng – tức chúng là chứng tích sông động của lịch sử văn hóa địa phương. Ngoài các di tích văn hóa nhân tạo đó là các địa điểm tự nhiên. Tổng thể núi non, sông suối, ao hồ, gò nổng, bến bãi… tạo nên cái gọi là “làng ta phong cảnh hữu tình” và hơn thế, các địa điểm đó gắn bó với các giá trị vô hình, phi vật thể – một tổng thể tản mác gồm tín ngưỡng, truyền thuyết, các truyền thống thành văn và truyền khẩu. Đấy là hiện thân cho một tập thành văn hóa đa dạng và là chứng tích của ký ức hào hùng hay đau thương của các thế hệ tổ tiên. Chúng mãi truyền cho mai hậu những niềm tin sơ khai về tinh thần phản kháng hay hy vọng.

HUỲNH NGỌC TRẢNG

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 27, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA TAM BẢO

chùa tam bảo an giang

Chùa Tam Bửu do sư tổ họ Ngô, húy là Lợi mà trong đạo gọi là Đức Bổn Sư, lập ra. Cụ Ngô Lợi còn có tên là Hữu, sanh năm Canh Dần (1829) tại Dội (gần biên thùy Châu Đốc). Cụ Ngô Lợi dẫn hơn bốn trăm hộ gia đình khắp Nam kỳ lục tỉnh lên núi Tượng (Liên Hoa Sơn) “trảm thảo khai hoang”, ngoài việc thiết lập nên kiểng chùa này còn thiết lập thôn ấp mới gọi là thôn An Định. Cuối tháng Giêng năm Bính Tý – 1876, cụ khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lấy bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy làm tổ, giữ tứ ân, trọng hiếu nghĩa. Tín đồ khá đông mà toàn thể đều được dạy tôn thờ Phật đạo, dạy cư sĩ tại gia. Cụ là người ghét Tây, mến những bậc trung lương ái quốc, nên trong bốn ân đó có ân Tổ quốc. Cụ liên lạc với cụ Quản Thành, một đại đệ tử của Phật Thầy và là một lãnh tụ kháng Pháp. Pháp có mấy lần tìm nhưng không bắt được cụ. Cụ Ngô Lợi viên tịch vào năm Canh Dần (1890) trong lúc không đau ốm gì. Truyền rằng xác cụ được một mãnh hổ cõng vào giấu trong một hang núi và xác ấy khô lại, không hôi thối.

Theo quyển “Cẩm nang du lịch An Giang” (Ban tổ chức lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam – Châu Đốc – An Giang, 2001), thì chùa Tam Bửu được xây dựng vào năm 1882. Chùa nằm về phía Đông vách núi Tượng, cách chân núi hơn mười thước. Khởi thủy, chùa được cất bằng cây lá đơn sơ và đã trải qua nhiều lần bị lính mã tà đốt phá với 7 lần pháp nạn. Người xưa kể, bọn lính cho rằng đây là vùng căn cứ tự trị do ông Ngô Lợi cầm đầu nên vào thôn đánh đuổi dân làng, cướp giật nhiều thứ từ vật dụng quý cho đến heo, gà… suốt thời gian từ 1876 đến 1888. Theo tư liệu của tủ sách sưu khảo Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương do Hà Tân Dân biên soạn và một số vị cao đồ địa phương, thì đến năm 1885 chùa được tái thiết. Đến tháng 2 năm 1888, khi chính quyền Pháp cho thôn An Định sáp nhập xã Ba Chúc (tỉnh Châu Đốc thời bấy giờ) thì chùa Tam Bửu mới được trùng tu khang trang.

Cứ tưởng chùa đã hết “pháp nạn”. Năm 1978, khi bọn Pôn Pốt đánh sang biên giới nước ta, nhân dân khắp nơi trong xã chạy vào chùa trú ẩn. Ngày 13-4-1978, quân Pôn Pốt bắn phá vào hậu liêu của chùa, làm một mảng tường hư sụp, khiến 40 người chết và 20 người bị thương. Người bị thương và người chết nằm chồng chất lên nhau. Đến ngày 20-4-1978, bọn Pôn Pốt tràn vào chùa lần thứ hai, bắt hơn 700 người đem ra khỏi chùa, cướp hết đồ đạc rồi phân ra nam, nữ. Nam đưa về hướng cánh đồng Lạc Quới, nữ đưa về hướng kinh Năm Xã, còn lại những người già yếu bệnh tật không đi nổi, chúng lôi vào nhà khách bắn chết, sau đó đốt chùa. Riêng 700 người bị bắt chỉ có 2 người sống sót trở về, còn bao nhiêu chúng hành hạ, hãm hiếp phụ nữ và giết hết ngoài cánh đồng gần chùa.

Thăng trầm trên 100 năm, ngày nay chùa Tam Bửu vẫn còn nét cổ với nhiều mái, nhiều gian, lợp ngói với nóc chóp cao. Chùa tọa lạc trong khuôn viên rộng trên 3ha. Ngoài ngôi chính điện còn có nhiều gian phụ như nhà khách, nhà tiếp tân, nhà bếp và nhà nghỉ có sức chứa hàng trăm người. Chùa hiện có khoảng 30 bàn thờ từ chính điện ra đến tận cột phướng. Trong chính điện thờ Quan Thánh Đế Quân, Hội đồng Thượng Phật, Cửu huyền bá tánh, Thập vương, Hộ pháp, Chánh tăng, Phật vương, Phật thầy, Phật trùm… Tiền sảnh tạc 4 con rồng vào 4 trụ, gần cột phướng thờ Thiên, Địa thần, Thổ trạch. Việc cúng bái với rất nhiều nghi lễ, ngoài rằm và hăm chín, ba mươi hằng tháng, còn những đại lễ khác như: Đức Bổn Sư viên tịch (13-10 âm lịch), rằm tháng bảy (Trai đàn), cúng hội Chánh đán, Đoan ngũ, giỗ tập thể…

Chùa Tam Bửu (thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) vừa có kiến trúc cổ vừa mang dấu ấn lịch sử thời khẩn hoang, đã được Nhà nước công nhận di tích kiến trúc cấp quốc gia hơn 20 năm qua. Hiện nay mỗi ngày chùa thu hút hàng trăm người trong và ngoài nước đến hành hương.

TRẦN THẾ VINH

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA LONG HƯNG

giồng thành

Chùa là một trong những di tích ở An Giang được Nhà nước công nhận, xếp hạng quốc gia vào năm 1986, cách trung tâm tỉnh An Giang khoảng 75 km về hướng Châu Đốc, cách huyện lỵ Tân Châu 3 km về hướng Phú Tân, chùa được hòa thượng Trần Minh Lý xây dựng lần đầu vào năm 1875 bằng vật liệu tre lá đơn sơ, đến nay trải qua bốn lần tu sửa lớn, lần sửa chữa gần nhất là vào năm 1970, ngôi chùa đã khang trang và là cảnh quan đẹp cho du khách đến tham quan nhưng vẫn tọa lạc trên nền cũ thuộc xã Long Sơn anh hùng (Phú Tân – An Giang).

giồng thành 1

Nhìn từ bên ngoài, chùa mang dáng dấp kiến trúc Ấn Độ với mái tháp có hai tầng hình phễu, trang trí nhiều họa tiết hoa văn trang nhã nhưng về đại thể, chùa Giồng Thành là khối kiến trúc hài hòa theo phong cách Á – Âu với lối xây dựng theo hình chữ “song hỷ”, gồm ba gian, mái lợp bằng ngói móc, trên cột chánh điện có vẽ hình rồng. Ở chánh điện có nhiều pho tượng cổ như tượng đức Phật Di-đà, bộ tượng Thập Điện Minh Vương… Hai ngôi tháp mộ lớn ở chùa là tháp của Hòa thượng Đạt Điền (đời 38) và Hòa thượng Chơn Như (đời 40). Về tên gọi chùa Giồng Thành, theo một số tài liệu cho biết là xuất phát từ chỗ chùa được xây trên nền đất của hào thành triều Nguyễn.

Chùa Giồng Thành được nhiều người biết đến như địa chỉ đỏ của phong trào yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Tại đây vào những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, tổ chức Kèo Vàng, Kèo Xanh của Phan Xích Long đã nhóm họp để thu hút người yêu nước chống thực dân Pháp, mở đầu cho hàng loạt hoạt động yêu nước sau này mà đỉnh cao là việc nuôi dưỡng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – trong những ngày đi truyền bá chủ nghĩa yêu nước chân chính cho đồng bào (1928 – 1929).

Trong những năm tháng chống Mĩ hào hùng, chùa Giồng Thành tiếp tục là cơ sở của Tỉnh ủy Châu Đốc, Huyện ủy Tân Châu và là điểm giao liên của Khu 8, Trung ương cục miền Nam. Đặc biệt nơi đây từng là chỗ trú ngụ an toàn cho nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng kháng chiến như Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt…

Trước kia, hàng năm vào các ngày rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10 âm lịch, khách thập phương đến viếng và lễ chùa rất đông. Từ sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước đến nay, ngày 19 tháng 5 hàng năm được xem như ngày hội của nhà chùa với nhiều hoạt động mang tính chất văn hóa truyền thống đặc sắc để kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , ,

CHÙA VẠN LINH

Chùa Vạn Linh-núi Cấm-Tịnh Biên -An Giang

vạn linh

Chùa thường được gọi là chùa Lá, tọa lạc ở ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Chùa nằm trên núi Cấm vùng Thất Sơn, nơi có bảy ngọn núi nổi tiếng là núi Két (Anh Vũ sơn), núi Giài Năm Giếng (Ngũ Hồ sơn), núi Tượng (Liên Hoa sơn), núi Nước (Thủy Đài sơn), núi Dài (Ngọa Long sơn), núi Tô (Phụng Hoàng sơn) và núi Cấm (Thiên Cẩm sơn).

Thượng tọa trụ trì Thích Hoằng Tri cho biết chùa nằm ở độ cao 550m, còn núi Cấm cao 716m, dài 7.500m. Chùa do Hòa thượng Thích Thiện Quang khai sơn năm 1927, bấy giờ chỉ là một am tranh. Hòa thượng khai sơn thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 40, đệ tử của Hòa thượng Viện chủ tổ đình Phi Lai Thích Chí Thiền.

Do đức độ và tài trị bệnh của Hòa thượng khai sơn, Phật tử và bệnh nhân đến chùa mỗi ngày một đông, Ngài đã cho xây dựng ngôi chùa quy mô to lớn vào năm 1941. Ngài viên tịch vào ngày 26 tháng 11 năm Quý Tỵ (31-12-1953).

Ngôi chùa do chiến tranh đã bị hư hỏng từ những năm 1945-1946.

Đến năm 1976, ông Hai, pháp danh Thiện Thới, đệ tử của Hòa thượng Thiện Quang đã cho xây ngôi chùa nhỏ, được người dân địa phương gọi là chùa Lá.

Mãi đến năm 1994, Hòa thượng Thích Trí Tịnh – đương nhiệm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam – là đệ tử của Hòa thượng Thích Thiện Quang, nhận việc xây dựng ngôi chùa và được Chính quyền tỉnh cấp giấy phép xây dựng ngôi chùa quy mô trên núi Cấm với diện tích khoảng 6 hecta. Thượng tọa Thích Hoằng Tri được cử trông coi trực tiếp việc xây dựng ngôi chánh điện, nhà tổ, bảo tháp, trai đường, lầu chuông, tháp Tổ …

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí bảo tượng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng bằng đá nguyên khối, nặng 2 tấn, do điêu khắc gia Hoàng Hữu thực hiện vào năm 1997. Việc vận chuyển pho tượng lên núi vào lúc bấy giờ chỉ có đường rừng là cả một sự kiên trì và sáng tạo của chùa. Hai bên tượng đức Phật đặt hai phù điêu bằng đá Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng do Phật tử Diệu Nghĩa (Úc) cúng dường năm 1996. Phía trước điện Phật đặt hai phù điêu bằng đá Hộ Pháp và Tiêu Diện. Ở hậu điện, Tổ sư Đạt Ma cũng là phù điêu bằng đá.

Sân trước chùa có nhiều bảo tháp. Bảo tháp Hòa thượng khai sơn Thích Thiện Quang 3 tầng ; tháp chuông thờ đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng đá nguyên khối và treo quả đại hồng chung nặng 1,2 tấn.

Đặc biệt, Bảo cát Quan Âm cao 40m theo mẫu Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) gồm bảy tầng (không kể tầng trệt và tầng nóc) đặt thờ nhiều vị Phật, Bồ tát được tạc bằng đá quý ở Thanh Hóa. Tầng 7 thờ Xá lợi đức Phật Thích Ca tượng trưng đại hùng, đại lực, đại từ bi ; tầng 6 thờ Bồ tát Quán Thế Âm tượng trưng đại bi ; tầng 5 thờ Bồ tát Đại Thế Chí tượng trưng đại lực ; tầng 4 thờ Bồ tát Văn Thù tượng trưng đại trí ; tầng 3 thờ Bồ tát Phổ Hiền tượng trưng đại hạnh ; tầng 2 thờ Bồ tát Địa Tạng tượng trưng đại nguyện ; tầng 1 thờ Bồ tát Di Lặc tượng trưng đại từ ; tầng trệt thờ Bồ tát Quán Thế Âm. Tượng Bồ tát Quán Thế Âm bằng đá ở tầng trệt được tạc rất đẹp, thể hiện tính từ bi cứu độ của Ngài, là nơi tập trung lễ bái và lưu ảnh kỷ niệm của nhiều du khách, Phật tử. Tượng nặng nhất là Bồ tát Di Lặc 2,6 tấn, tượng nhẹ nhất là Bồ tát Văn Thù 1,6 tấn. Công trình tạc tượng do nghệ nhân Mai Đình Hữu thực hiện. Bảo các được khởi công vào ngày vía Bồ tát Quán Thế Âm 19 tháng 2 năm Canh Thìn (năm 2000) và An vị các bảo tượng vào ngày vía Bồ tát Quán Thế Âm 19 tháng 2 năm Quý Mùi (năm 2003).

Gần chùa Vạn Linh, Công ty TNHH Nam Long (Cần Thơ) đã xây dựng Phật đài Di Lặc cao 31,6m (kỷ lục Việt Nam) tại chùa Phật Lớn.

Ngày nay, chùa Vạn Linh và Phật đài Di Lặc chùa Phật Lớn là những điểm du lịch hành hương và du lịch sinh thái hấp dẫn của du khách và Phật tử ở mọi miền đất nước và nhiều nước trên thế giới.

 

 

Bài và ảnh : Võ văn Tường

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM

 

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

CHÙA KHMER XVAY TON – AN GIANG

Chùa Xvay-ton

Chùa Xvay-ton (chùa Xà Tón) tọa lạc ở khóm 3, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang là một trong những ngôi chùa của đồng bào dân tộc Khmer.

xvayton05

Chùa được dựng sơ sài vào thế kỷ XVII. Đến năm 1896, chùa được xây dựng kiên cố cho đến nay. Xvay là khỉ, Ton là kéo, tên chùa được người dân tộc Khmer đặt cho vùng đất ngày trước còn hoang vu, ít người ở và trên cây nhiều đoàõn khỉ sinh sống. Những ngày lễ hàng năm ở chùa là: Lễ Cholchonam Thmay (lễ vào năm mới), lễ Pisatbochia (lễ ơn Phật), lễ Chol cà sa (lễ cấm cung sư sãi), lễ Đolta (lễ ông bà) và lễ Dâng y (lễ cúng dường quần áo cho sư sãi)… Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa Xvayton là một ngôi chùa thờ Phật nổi tiếng (theo phái tiểu thừa), tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc chùa tháp của đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ. Chùa Xà Tón nằm ngay ở trung tâm huyện lî Tri Tôn (An Giang).

Đối với đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long và An Giang, chùa là nơi thờ Phật, là trung tâm văn hóa, nơi gìn giữ những phong tục, tập quán, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật dân tộc cổ truyền; nơi thanh niên và bà con dân tộc Khmer đến tu học để trở thành người có tri thức, đức hạnh và chăm chỉ lao động.

Các vị cao niên người Kher và các vị sư sãi ở đây cho biết, chùa Xà Tón đã được xây dựng cách đây hơn 200 năm. Lúc đầu, chùa được dựng bằng gỗ, lợp lá, nền đất. Ngày xưa vùng Tri Tôn còn hoang vu, rậm rạp, dân cư rất thưa thớt. Trên những ngọn cây to cao nhiều cành, nhiều lá có từng đàn khỉ (Xvay) đu vào nhau, nối đuôi nhau mà chuyền đi (ton). Bà con Khmer dựng chùa thờ Phật ở đây và đặt tên chùa là Xvayton (biến âm thành Xà Tón cho dễ đọc).

Năm 1896 và 1933 chùa Xà Tón được xây dựng lại bằng gạch ngói, cột bằng gỗ câm-xe, nền chùa đắp cao 1,8 m đễợc xây bằng đá xanh. Giống như các chùa Khmer khác ở đồng bằng sông Cửu Long, chùa Xà Tón cũng theo cùng một quy cách bố cục và kiến trúc thống nhất. Chính điện chùa Xà Tón nằm ở trung tâm khu đất của chùa. Chính điện được xây theo hướng đông-tây có nóc nhọn và hai mái cong gợi hình ảnh nằm dài uốn cong của rắn thần Naga,

tượng trưng cho sự bất diệt, dũng mãnh. Mái chính điện được dựng cao dần theo tam cấp, lợp ngói đỏ, xanh, vàng, trông rực rỡ dưới nắng. Chung quanh ngôi chính điện là các dãy tháp, kiểu thức thanh nhã tinh tế, vút dần lên cao, với các tượng nhỏ chung quanh và trên đỉnh là tượng thần Bayon bốn mặt bằng đá (thần sáng tạo). Trong các tháp này là hài cốt đã hỏa táng của các nhà tu hành ở chùa. Phía trước chùa có hồ lớn trồng hoa sen, hoa súng; bên trái chùa là hàng dừa trĩu quả và các cây cổ thụ cành là là rủ bóng xuống hàng tháp. Trong ngôi chính điện có tượng Phật lớn ngồi trên bệ cao. (Chỉ có một tượng Phật cao gần mái đặt ở chính điện). Trên các bức tường chung quanh có nhiều hình vẽ kể lại cuộc đời của Phật và các môn đồ, nhưng nay đã phai màu. Đằng trước tượng Phật còn có nhiều tượng nhỏ bằng bạc, bằng gỗ khá đặc sắc. Chính điện là nơi hành lễ, thuyết pháp, còn nơi học, nơi ở của các vị sư là những dãy nhà khác, có phần nhỏ hơn nhưng cũng có hai mái cong gập lại, có nóc nhọn và có hình tễợng thần rắn Naga.

Hằng năm ở chùa Xà Tón có 5 ngày hội lớn: Lễ hội Chol Chhnam Thmay là lễ năm mới vào tháng Tư; lễ Pisát Bôchia là lễ nhớ ơn Phật; lễ Phật sinh vào rằm tháng Tư âm lịch; lễ Chol Neasa là lễ cấm ba tháng sư không ra khỏi chùa (từ rằm tháng Sáu đến rằm tháng Chín âm lịch); lễ Pha Chum Bênh, còn gọi là Đôn ta là lễ thanh minh cúng ông bà, lễ tỏ lòng biết ơn tổ tiên; lễ Kà Thận là lễ sắm quần áo cho sư sãi, sắm vật dụng cho chùa hay cho trường làng. Vào những ngày đó, bà con Khmer đến chùa lễ Phật rất đông vui.

Những ngôi chùa Khmer như ngôi chùa Xà Tón với hình tượng rắn thần Naga – biểu tượng cho sự Bất diệt, với các ngôi tháp có tượng thần Bayon bốn mặt – thần sáng tạo là những nét độc đáo, cổ kính của các làng Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ.

(Theo quangduc.com)

This slideshow requires JavaScript.

 

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , , , , ,

TÂY AN – CHÂU ĐỐC

TÂY AN CỔ TỰ

tay an 3

Chùa Tây An – Châu Đốc

Từ Châu Đốc vào ngã ba núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, du khách sẽ thấy một ngôi chùa sừng sững dưới chân núi Sam, đó là Chùa Tây An. Chùa mang dáng dấp kiến trúc của những ngôi chùa Ấn Độ, hài hòa với cảnh trí thiên nhiên, tạo nên một vẻ đẹp lộng lẫy…

tay ạn

Quang cảnh chùa Tây An về đêm

Chùa theo phái Đại thừa, có tới 11.270 tượng lớn nhỏ bằng gỗ. Chùa có kiến trúc với ba ngôi lầu nóc theo kiểu Ấn Độ màu sắc sặc sỡ nhưng rất hài hòa. Chánh điện là ngôi chùa chính cao 18m, hai bên là lầu chiêng và lầu trống. Chánh điện thờ Phật theo dòng Thiền Lâm Tế, ngoài thờ tượng Phật Thích Ca rất lớn ở giữa, còn có các tượng: Di Đà, Quan Âm, Tam Thế Phật, Đại Thế Chí và các vị Bồ Tát. Hai bên và phía trước là các vị La Hán, Bát Bộ, Kim Cang, Tam Hoàng Ngũ Đế… Trước chùa có 3 vọng cửa: cửa giữa tam quan thờ tượng Phật Quan Âm, 2 cửa hai bên có hai biển đề “Tây An cổ tự”, bên trong cửa tam quan là sân chùa có một cột phướn cao 16m. Dưới bậc thang chùa có đúc bạch tượng và hắc tượng, vai có đắp nổi hai vị thần tiên ngồi bên trên mặt trăng lưỡi liềm, 2 bên là hai hành lang, phân biệt cho tín đồ nam nữ. Đi qua một công viên nhỏ, bước lên bậc thềm ta bắt gặp ngay tượng mẹ bồng con miêu tả tích xưa Quan Âm Thị Kính. Đông Lang là chùa Địa Tạng thờ Vương Bồ Tát theo kinh Địa Tạng, Tây Lang là nhà khối rộng đặt tượng Quan Âm.

tay an 1

Nơi chánh điện

tay an 2

Tượng Phật Thích Ca giữa chánh điện

Tây An cổ tự do Tổng đốc Nguyễn Nhật An, một vị quan triều Nguyễn đời Minh Mạng (1820) xây dựng. Theo lời nguyện của ông khi được triều đình phái đi Cao Miên, ông khấn, nếu đi thành công, khi về sẽ dựng một ngôi chùa thờ Phật tại chân núi Sam. Cất chùa xong bằng tre, ông thỉnh vị Hòa thượng đầu tiên là Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu là Hải Tịnh đến trụ trì. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), chùa lại thỉnh thêm một vị Hòa thượng nữa tên là Đoàn Minh Huyền, pháp hiệu Pháp Tang đến trụ trì. Ông là một chí sĩ yêu nước, tên thật là Đoàn Minh Huyên, sinh năm Đinh Mão 1807 và viên tịch năm 1856 tại làng Tòng Sơn, Sa Đéc. Mặc dù mất sớm, nhưng ông đã làm được rất nhiều việc như thành lập nhiều trại ruộng quanh vùng Bảy Núi để khấn hoang, sản xuất và trở thành căn cứ chống Pháp… Ông có nhiều đệ tử nổi tiếng như quản cơ Trần Văn Thành, một đại đệ tử của ông đã khởi nghĩa chống Pháp ở Láng Linh, hùng cứ Bảy Thưa một thời làm giặc Pháp khiếp sợ và nhiều đệ tử khác như Tăng Chủ, Đình Tây, Đạo Xuyến, Đạo Ngoạn… ngoài việc tu hành, ông có tài làm thuốc trị bệnh cho nhân dân rất hiệu quả, nên sau khi ông mất, đồng bào suy tôn hòa thượng với danh hiệu là Phật thầy Tây An và danh hiệu này được nhân dân gọi đến ngày nay.

tay an 4

Tượng mẹ bồng con theo tích xưa Quan Âm Thị Kính

Thời gian Đoàn Minh Huyên  đến tu ở chùa Tây An, nhưng lòng ông vẫn luyến nhớ trại ruộng đơn sơ ở cốc ông Đạo Kiến trên cù lao Ông Chưởng. Đấy là nơi khi xưa ông phát phù trị bệnh cho hằng ngàn bệnh nhân bị nạn dịch tả bạo hành, nên vẫn thường lui tới viếng thăm.

Đến khi người dân tự nguyện xây dựng một nơi thờ phương Tam Bảo ở chốn này, ông Đoàn Minh Huyên đặt tên cho ngôi chùa ấy là Tây An cổ tự (xưa thuộc xã Long Kiến, nay thuộc xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang).

Và sau này ngôi chùa Tây An ở núi Sam đã có trên 150 tuổi, tấm biển tên chùa “Tây An tự” ở cổng được chỉnh sửa lại là “Tây An cổ tự”, nên mới xảy ra việc trùng tên chùa.


tay an 6

Chùa đứng trên núi, mặt trước trông ra tỉnh thành, phía sau dựa theo vòm núi, tiếng người lặng ngắt, cổ thụ âm u, cũng một thắng cảnh thiền lâm vậy”. Năm 1962, hòa thượng Nhất Thừa tiến hành trùng tu chánh điện và hậu tổ. Hòa thượng Bửu Thọ đứng ra vận động nhân dân đóng góp tiền của, công sức xây dựng ba ngôi lầu cổ với lối kiến trúc Ấn Độ và Hồi giáo kết hợp với kiến trúc của dân tộc.

Ngay nay, các Phật tử gần xa hay khách thập phương đến đây cúng viếng đều được chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của một ngôi chùa hàng trăm năm tuổi. Người xem sẽ bị choáng ngợp bởi những hoa văn, chi tiết và đường nét của nhiều lối kiến trúc đan xen nhau một cách hợp lý đã mang lại cho nơi đây những chấm phá mới lạ.

Theo truyền thống yêu nước của Phật thầy Tây An, các trụ trì đời sau đã nuôi chứa, giúp đỡ nhiều cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ chống Mỹ. Hòa thượng Thích Bửu Thọ được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Chùa Tây An là một trong những ngôi chùa có lối kiến trúc độc đáo của khu vực núi Sam đã được Bộ Văn hóa xếp hạng. Vào ngày rằm tháng giêng, rằm tháng bảy và tháng mười âm lịch và nhất là những ngày vía Bà, nhân dân trên khắp cả nước đến đây tham quan, cúng lễ.

Thuyngakhanhhoa tổng hợp .

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM



 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , ,