RSS

Tag Archives: bắc ninh

CẢM ỨNG TỰ

Cảm Ứng tự (Bắc Ninh)

Cảm Ứng tự là ngôi chùa đẹp nổi tiếng ở xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Đây là công trình kiến trúc tiêu biểu vào loại bậc nhất trên vùng quê xứ Bắc, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1992.

Trải qua nhiều giai đoạn trùng tu, tôn tạo, đặc biệt là giai đoạn từ 2005 tới nay với mức đầu tư trên 16,4 tỷ đồng của chương trình mục tiêu quốc gia, chùa Cảm Ứng đã được phục dựng lại gần như nguyên vẹn, trở thành một điểm du lịch tín ngưỡng, tâm linh lôi cuốn nhân dân và du khách thập phương.

Chùa Cảm Ứng có 100 gian với 18 công trình, hạng mục công trình, tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo vừa hoành tráng vừa mang dáng vẻ cổ kính, rêu phong khiến cho những người tới đây có được cảm giác thăng hoa, sống trong triết lý thanh bạch và “từ bi hỷ xả”.

Chùa Cảm Ứng ngay từ thời Tiền Lê, đầu thời Lý đã là một trong những trung tâm Phật giáo của vùng Kinh Bắc và cả nước.

Theo sách “Việt sử lược” khoảng năm niên hiệu Ứng Thiên (995- 1007) chùa là nơi thiền sư Vạn Hạnh đã từng đưa Lý Công Uẩn về đây lánh nạn. Khi Vương triều Lý ra đời, chùa vẫn là nơi trụ trì và hành đạo của nhiều vị tổ sư đã có nhiều công lao đóng góp vào việc xây dựng triều chính và nền văn hóa dân tộc.

Năm 1063, để ghi dấu về việc cầu tự ở chùa Cảm Ứng, vua Lý Thái Tôn đã cho xây dựng chùa với qui mô to lớn, trở thành một danh lam thắng cảnh và một trung tâm đào tạo Phật giáo cho các tăng ni. Từ giữa thế kỷ thứ 15 trở đi, cùng với sự phát triển kinh tế của địa phương, chùa Cảm Ứng được sửa chữa với qui mô lớn vào năm 1519.

Những năm 1693-1697 chùa được trùng tu và mở rộng với nhiều hạng mục công trình, trong chùa có hàng trăm pho tượng sơn son, thếp vàng lộng lẫy. Năm 1826, chùa được xây dựng hoàn chỉnh 100 gian, 18 hạng mục công trình trở nên ngôi chùa đẹp vào bậc nhất ở vùng Kinh Bắc.

Năm 1972, do bị giặc Mỹ ném bom, nhiều công trình, hạng mục trong chùa bị đổ nát, nhiều tượng Phật bị cháy hỏng. Các năm 1975 và 2000, nhân dân xã Tam Sơn đã đóng góp sức người và tiền của tu bổ di tích với qui mô kiến trúc gần như nguyên vẹn.

Chùa Cảm Ứng hiện còn lưu giữ được nhiều pho tượng Phật, cổ vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc như Khánh đá tạo tác năm 1672, cây hương đá dựng khắc năm 1697, chuông đồng đúc năm 1826 và tấm bia đá “Tam Sơn xã đăng khoa bi kí” dựng khắc năm 1902.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sư dân tộc, chùa Cảm Ứng đã được bảo quản, trùng tu, tôn tạo với đầy đủ dáng vẻ cổ xưa. Chùa là báu vật và niềm tự hào của người Bắc Ninh-Kinh Bắc, quê hương của Vương triều Lý, một vương triều vàng son bậc nhất trong các thời kỳ phong kiến Việt Nam.

Vào những ngày chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, chùa luôn được tiếp đón đông đảo người dân, du khách đến thăm, thắp hương, tưởng nhớ tới nhiều bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao của họ trong các thời kỳ dựng nước và giữ nước

Theo website Quê Hương

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , ,

TIÊU SƠN TỰ

CỔ TỰ BÊN DÒNG TIÊU TƯƠNG

cổ tự bên dòng tiêu tương

Tiêu Sơn tự (còn có các tên: Chùa Thiên Tâm, Lục Tổ), tọa lạc trên Từ núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sử cũ ghi: “Chùa là một thiền viện, đào tạo các bậc cao tăng và cung cấp kinh sách cho nhiều chùa trong nước”.

Những bậc dẫn lên chùa mát rượi bóng cây cổ thụ, ngỡ như đang đưa du khách đến chốn Bồng lai. Có thể nói không ngoa rằng, đây là nơi đã khai sinh ra triều đại nhà Lý, bởi Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng và hun đúc tài năng tại đây, nhờ trí tuệ và tâm huyết của Thiền sư Vạn Hạnh. Trên cột nhà bia còn lưu câu đối chữ Hán:

Lý gia linh tích tồn bi kỷ

Tiêu lĩnh danh kha đắc sử truyền

(Dấu thiêng nhà Lý còn bia tạc

Danh thắng non tiên có sử truyền)

Những công trình còn lại của chùa Tiêu hiện nay là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời Lê – Nguyễn. Chùa còn lưu giữ nhiều tư liệu, di vật quý giá: Tượng Thiền Sư Vạn Hạnh bằng đồng thờ trong nhà Tổ, bia đá “Lý gia linh thạch” cung cấp tư liệu về lịch sử triều Lý, nhiều hoành phi, câu đối, chuông đồng… Chùa Tiêu xưa từng là nơi lưu giữ ván in sách Thiền uyển tập anh, tác phẩm văn học giá trị nhiều mặt: Văn học, sử học, triết học ghi chép các vị danh sư Việt Nam.

Chùa Tiêu không chỉ là di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật được Nhà nước công nhận, mà còn là một danh lam với cảnh đẹp u nhã, thiên nhiên “sơn thủy hữu tình”.

Cao tăng Vạn Hạnh với chùa Tiêu

Tiêu Sơn là nơi “linh địa” của bậc cao tăng trí giả thâm thúy đã hành trì và khởi dựng vận mệnh quốc gia Thiền Sư Vạn Hạnh: Ngôi chùa trên đỉnh Tiêu Sơn đóng vai trò “vọng sơn đài”, từ đây nhìn bao quát một vùng đất rộng lớn của miền Quan họ, từng được nhà Hán đặt làm thủ phủ Long Biên.

Thiền Sư Vạn Hạnh sinh ra trong một đại thế tộc ở làng Đình Bảng, cách núi Tiêu 3km. Từ nhỏ Ngài đã thông minh xuất chúng, thông hiểu “bách gia chư tử”, “tam giáo” (Phật, Lão, Nho). Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia trở thành học trò xuất sắc nhất của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, được vua Lê Đại Hành vô cùng tôn kính. Với kiến thức sâu rộng, đặc biệt thông hiểu kinh Bảo Vương Tam Muội (Tổng trì Tam ma địa), nên mỗi lời Ngài nói ra đều được nhân dân coi là sấm truyền.

Thuở còn trẻ thơ, Lý Công Uẩn (Thái tổ triều Lý) được gửi vào chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu) theo học Thiền Sư Vạn Hạnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vạn Hạnh bảo Lý Công Uẩn rằng: “Mới rồi tôi trông thấy lời sấm kỳ dị, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng ông là người khoan từ nhân thứ, lại được lòng dân chúng mà nắm binh quyền trong tay, người đứng đầu muôn dân, chẳng phải ông thì còn ai đương đổi nữa!”.

Không chỉ là người có công kiến tạo triều Lý, Thiền Sư Vạn Hạnh còn là một trong những người đã khai sinh ra nền văn học viết của nước ta, với 3 thể loại văn học đầu tiên: Sấm ký, khuyến, kệ. Ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi Vua vào năm 1010, đã tôn vinh Vạn Hạnh làm quốc sư.

Cao tăng Vạn Hạnh mất ngày 15.5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018). Dân gian lưu truyền rằng, đương thời không ít người nói Sư là thân sinh của Lý Công Uẩn. Sư không nói gì mà chỉ tay vào con hổ đất bên bàn thờ rồi nói to: “Thân này, tâm này đã tu hành không vọng tưởng gì nữa, nhược bằng không thanh tịnh, mắc tội tà dâm thì xin trời trừng phạt và con hổ kia vẫn là con hổ đất, vẫn còn giữ phép giới siêu thoát thì hổ đất sẽ biến thành hổ thật”. Kỳ lạ, con hổ đất bỗng rùng mình biến thành hổ thật để Vạn Hạnh cưỡi. Người đời sau đã dựa vào tích đó để tạc tượng Ngài.

Pho tượng cổ tạc Ngài được đặt trong một khám thờ, bài vị khắc: “Lý triều nhập nội, Quốc công Tể tướng Thiền Sư Vạn Hạnh” Tượng cao 50cm mô tả chân dung Ngài rất sinh động, ngồi uy nghiêm trên con hổ màu xám, một tay ôm lấy đầu hổ, bàn tay kia đặt lên đầu gối, mặt ngẩng cao, đôi mắt dõi vào cõi xa xăm.

Mới đây nhân dân Tiêu Sơn đã xây dựng phiên bản pho tượng Vạn Hạnh cưỡi hổ, kích thước lớn gấp hàng chục lần, đặt trên đỉnh Tiêu Sơn để du khách thập phương chiêm bái.

Thiền sư Như Trí với chùa Tiêu

Thiền sư Như Trí trụ trì chùa Tiêu vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Chân Nguyên (trụ trì chùa Long Động ở Yên Tử). Ngài có công phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, giữ gìn nhiều tư liệu quý báu của thiền phái, cùng nhiều chư Tăng đương thời sưu tập, khắc in rất nhiều sách. Sách Thiền uyển tập anh được Ngài khắc in năm 1715 tại chùa Tiêu, là bộ sử giá trị của nền Phật giáo nước nhà. Rất nhiều cuốn sách do Ngài sưu tầm biên soạn đã được các đệ tử khắc in: Kế đăng lục, Khóa hư lục, Thánh đăng lục, Thượng sĩ ngữ lục…

Thiền sư Như Trí viên tịch năm Bảo Thái thứ tư, đời Vua Lê Dụ Tông (1723), để lại nhục thân xá lợi. Đệ tử tiếp nối tông phong là Tĩnh Phong cùng hàng môn nhân xây bảo tháp Viên Tuệ để thờ Ngài.

Trên tháp Viên Tuệ có ghi “Nhục thân Bồ tát Như Trí hiệu Tính Không” và “Lê triều Bảo Thái đệ tứ niên” (Quý Mão, 1723). Những thông tin này từ lâu đã gây sự chú ý đặc biệt cho du khách đến vãn cảnh chùa. Ngày 5.3.2004, tháp cổ được mở trước sự chứng kiến của chính quyền sở tại, các Tăng Ni đến từ thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, đại diện Bảo tàng Bắc Ninh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và đông đảo nhân dân địa phương. Hết thảy đều vui mừng khi thấy nhục thân của Thiền sư Như Trí còn tương đối nguyên vẹn.

Ngày 13.3.2004, nhục thân Thiền sư Như Trí được đưa về chùa Duệ Khánh để tu bổ. Dự án tu bổ do Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt – Yên Tử làm chủ đầu tư, Sở VH–TT Bắc Ninh thiết kế và thi công, PGs, Ts Nguyễn Lân Cường, họa sỹ sơn mài Đào Ngọc Hân thực hiện. Ngoài ra, còn có sự tham gia tư vấn, giám sát của các cơ quan: Viện 69 Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Các nhà khoa học đã tiến hành diệt khuẩn, nấm mốc, côn trùng. Các quy trình bọc vải, bó, hom, lót, thí được thực hiện thận trọng với 13 lớp sơn và thếp bạc. Pho tượng sau khi tu bổ nặng 34kg, chiều cao ngồi 78,5cm. Tượng được đưa về nhà Tổ của chùa Tiêu, đặt trong một khám sơn son thếp vàng có hộp kính dày 1cm, chứa đầy khí nitơ để bảo vệ. Một phiên bản khác bằng composite được đặt trong tháp của Thiền sư. Nhục thân Thiền sư Như Trí là pho tượng thứ 4 theo kiểu tượng táng được tìm thấy ở Việt Nam.

Chu Minh Khôi

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

CHÙA ĐẠI BI

Chùa Đại Bi làng Thượng

chùa đại bi

Thôn Thượng vốn là một làng cổ có tên nôm “Ném Thượng” thuộc xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Làng xã nơi đây nằm trong vùng đất đầy ắp các truyền thuyết về lịch sử và văn hóa của dân tộc. Song bề dày lịch sử, văn hiến của làng Thượng được hội tụ và phản ánh ở quần thể di tích đình chùa cổ kính thâm nghiêm. Trong đó, ngôi chùa làng có tên chữ “Đại Bi tự” vốn được khởi dựng từ lâu đời trên đỉnh núi và từng là trung tâm Phật giáo

Phật giáo với tinh thần từ bi hỷ xả bác ái, từ lâu đã đi vào lòng người, khuyên mọi người bỏ điều ác, làm điều lành, sống hướng thiện. Theo thư tịch sử sách cổ, Phật giáo từ ấn Độ được truyền trực tiếp vào vùng núi Phật Tích (Tiên Du) và vùng Dâu-Luy Lâu (Thuận Thành), để lại dấu ấn là hệ thống chùa Tứ Pháp ở vùng Dâu và đây là trung tâm Phật giáo lớn nhất nước ta ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên.

Từ Phật Tích và từ vùng Dâu, Phật giáo đã truyền và lan tỏa sang các vùng xung quanh và nhiều chùa tháp được xây dựng. Đến thời Lý-Trần, Phật giáo cực thịnh và trở thành quốc giáo, triều đình đã sử dụng Phật giáo để cai trị đất nước. Nhà Lý đã chọn những nơi có núi non cảnh quan đẹp để cho xây dựng chùa tháp. Đặc biệt xứ Kinh Bắc là quê hương nhà Lý, các vua Lý đã cho xây dựng nhiều chùa tháp và một số đại danh lam như: Đại danh lam chùa Phật Tích trên núi Lạn Kha, Đại danh lam chùa Đại Lãm trên núi Dạm. Các chùa nổi tiếng được xây vào thời Lý như: chùa Bách Môn, chùa Linh Quang, chùa Long Khám, chùa Tam Sơn, chùa Tiêu Sơn, chùa Vọng Nguyệt, chùa Bồ Vàng, chùa Phả Lại… Trong bối cảnh đó, chùa Đại Bi trên núi Ngoan Sơn cũng được xây dựng với quy mô lớn và từng là trung tâm Phật giáo.

Chùa làng Thượng “Đại Bi tự” nằm trên đỉnh núi Ngoan Sơn (còn gọi Chùa), vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến thời Lê Trung Hưng được trùng tu và mở rộng với quy mô rất lớn theo kiểu “trăm gian”. Khi ấy, ngôi chùa ngoài Tam Bảo ra còn có gác chuông, hậu đường, hai bên hành lang, nhà mẫu, nhà tổ, nhà sư, nhà khách. Thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa cổ đó bị phá dỡ. Năm 1990, dân làng dựng tạm mấy gian Tam Bảo có quy mô nhỏ để làm nơi thờ Phật. Những năm gần đây, dân làng cùng nhau quyên góp, công đức phục dựng lại ngôi Tam Bảo của chùa với quy mô rất lớn với dáng vẻ truyền thống.

Giá trị nổi bật của chùa Đại Bi chính là những thư tịch tài liệu bảo lưu được. Đó là 5 thác bản văn bia của chùa đều có niên đại vào thời Lê Trung Hưng có tên và niên đại như sau: Bia có tên “Đại Bi tự” niên đại Chính Hòa 24 (1703). Bia có tên “Hậu Phật bi ký” niên đại Vĩnh Thịnh 3 (1707). Bia tứ diện có tên “Sáng lập thạch bi, Toàn thôn ký kết, Cùng lập giao ước” niên đại Vĩnh Thịnh 4 (1708). Bia có tên “Hậu Phật bi ký” niên đại Cảnh Hưng 16 (1755). Bia có tên “Hậu Phật bi ký, Đồng thôn lệ ký” niên đại Cảnh Hưng 20 (1759). Đây chính là những di sản văn hóa vô giá của chùa Đại Bi, không những là chứng tích ngôi chùa trong lịch sử, mà còn cho biết những thông tin về lịch sử làng xã, việc trùng tu tôn tạo chùa, việc đặt hậu, tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán của quê hương nơi đây.

Toàn bộ các lần trùng tu tôn tạo của chùa Đại Bi vào thời Lê Trung Hưng đã được ghi khắc lại trong văn bia của chùa. Trong đó, văn bia có tên là “Hậu Phật bi ký” được dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707) do chính nhà sư trụ trì tại chùa có đạo hiệu là Hoằng Nguyện Tử soạn có đoạn: “Thường nghe Phật là đấng giác ngộ vậy. Người có khả năng giác ngộ tức là Phật. Giấc ngộ biết nhân thân ảo mộng, thế sự vô thường. Giàu không ai hơn Thạch Sùng, Vương Khải chỉ một chốc bỗng thành không (truyền rằng Thạch Sùng, Vương Khải sống vào đời Tấn ở Trung Quốc kết bạn với nhau và giàu có nổi tiếng. Thạch Sùng về sau bị Triệu Vương Luân giết chết, biến thành con Thạch Sùng vì tiếc của nên tắc lưỡi mãi. Còn Vương Khải tuy làm quan to nhưng ăn chơi vô độ, khi qua đời bị người đời sau chê cười). Nghèo không ai bằng người ăn xin, người kiếm củi, nhưng vạn năm còn hưởng tiếng thơm. Vậy nên kinh Phật có dạy: Cạy cục ở thế gian giữ lại của cải cuối cùng vẫn hoàn khổ. Tạo thiện phúc cho đời lưu nơi Tam Bảo vạn kiếp sẵn có nơi nương tựa. Thế mới biết công đức nhà Phật không thể không suy nghĩ và lý giải”.

Qua di sản văn bia trên của chùa làng Thượng “Đại Bi tự” đã cho biết ngôi chùa này vốn được khởi dựng từ lâu đời và đến thời Lê Trung Hưng được trùng tu với quy mô lớn. Văn bia của chùa còn ca ngợi Phật Pháp, cho biết triết lý sâu sắc của đạo Phật là khuyên nhủ con người làm những điều tốt, sống hướng thiện. Chùa Đại Bi từng là danh lam cổ tự với những di sản văn bia của chùa, đã góp phần làm nên văn hiến xứ Kinh Bắc-Bắc Ninh.

Bài, ảnh: Đỗ Thị Thu�

(Theo Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh)

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ TÂN HÀ

NhatThoTanHa

Vài nét về GX Tân Hà:

Giáo xứ Tân Hà tọa lạc ở cây số 185 thuộc quốc lộ 20, giữa hai xứ Tân Bùi và Thánh Tâm (Lộc Tiến). Ðây cũng là một giáo xứ bắt nguồn từ biến cố 1954. Tính đến nay, giáo xứ đã trải qua nhiều thời kỳ như sau:

I. Thời kỳ các cha Dòng Chúa Cứu Thế (1954-1957)

Ngày 12-10-1954, một đoàn xe từ Sài Gòn do hai cha DCCT Canada là Patrice Gagné (Lợi) và Francois Laliberté (Thái) đứng đầu, đã chở 12 gia đình công giáo (thuộc địa phận Hà Nội và quen biết với DCCT) lên miền Bảo Lộc. Ðoàn xe dừng lại và nghỉ đêm tại nhà thờ Bảo Lộc, khi được cha xứ Phaolô Nguyễn Văn Ðậu tiếp đón. Hôm sau, đoàn xe quay ngược về cây số 185 trên phần đất thuộc Trung thổ. Sau nhóm đầu tiên này, nhiều đợt người khác, đa số thuộc địa phận Hà Nội, nhưng cũng có những gia đình thuộc Thái Bình, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thanh Hóa. tiếp tục được chở lên, khiến có lúc số nhân danh đạt trên dưới 3000 người.

Cuộc sống của những ngày đầu tiên giữa vùng đất um tùm cỏ rả thật cơ cực và dễ gây ngao ngán: Mọi người đều phải tạm trú trong những căn lều, đều phải vất vả khai phá và làm quen với nghề trồng trà lạ lẫm với nghề nghiệp lâu đời của mình. Nhờ sự giúp đỡ và khích lệ của hai cha (Cha Lợi do giao dịch xin 348 mẫu đất, xin đồ tiếp tế, xin xe ủi., cha Thái lo mục vụ), cuộc sống đi dần đến chỗ tạm ổn định.

Hai cha cùng đứng ra kiếm tìm vật liệu và tiền bạc xây dựng ngôi nhà thờ cho xứ. Ngôi nhà thờ này nằm các xa mặt lộ hơn 500 mét và ở vị trí trung tâm, còn giáo xứ được bố trí chung quanh theo hình bát quái (cả xứ được chia thành 7 khu, mỗi gia đình được chia 800 mét vuông đất thổ cư). Ngày 25-8-1956, Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền (Giám Mục SàiGòn) và Ðức Ông Caprio, đại diện Tòa Thánh, đã về khánh thành nhà thờ và ban bí tích Rửa Tội, Thêm Sức.

Năm này cũng là năm có nhiều thay đổi: Một số đông giáo dân rút về miền làm ruộng vì sự thiếu gạo do những bất ổn chính trị kéo dài (giữa Bình Xuyên và chính phủ Ngô Ðình Diệm). Cha Lợi cũng về an dưỡng tại Canada từ tháng 7-1956 do tình trạng sức khỏe.

Cuối cùng, đến tháng 6-1967, các cha DCCT hoàn toàn rời bỏ khi cha Thái, cha Lực (tức cha Vaillancourt đến thay thế cha Lợi) và một số cha DCCT khác thỉnh thoảng đến phụ giúp các cha, chính thức ra đi.

Sau gần 3 năm sống với giáo xứ, ngoài việc tổ chức Ban Hàng Xứ và các Hội Ðoàn, các cha DCCT đã kiến thiết được:

# Ngôi nhà thờ (mang tên nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp)

# Khu vực nhà xứ (nay là khu vực tu viện MTG Thanh Hóa)

# Một trường tiểu học, một trường trung học

# Trạm phát thuốc, nhà máy điện, xưởng học nghề, ký túc xá.

II. Thời kỳ các cha Ðaminh (1957-1958)

Nối tiếp các cha DCCT là 3 cha dòng Ðaminh: Cha Tôma Nguyễn Duy Thể (quản xứ), Ðaminh Hoàng Bình Thuận và Nguyễn Ngọc Thụy (phụ tá và đảm nhận trường học). Khi đến, các cha đã lập ra một ban hàng xứ mới, đã thêm một số việc đạo đức (như mở rộng hội Mẫu Tâm, tổ chức hội khấn Fatima, hội bà thánh Anna, việc dâng gia đình cho Trái Tim Chúa, việc đọc kinh gia đình.). Các cha cũng xin trải nhựa cho con đường lớn dẫn vào nhà thờ, chia đất canh tác cho mỗi khu ở khu 7 để gây quỹ cho từng khu và lo xây đài Ðức Mẹ Lên Trời (trước cửa nhà thờ). Thời gian này, các cha cũng mời các nữ tu Ðaminh từ Hố Nai lên giúp trường học, nhưng vì phụ huynh không đủ tiền đóng học phí, trường trung học bị ngưng hoãn. Sau đúng một năm, đến lượt các cha dòng Ðaminh rời bỏ Tân Hà.

III. Thời kỳ cha Nhân (1958-1965)

Theo chủ trương “các cha gốc địa phận nào theo giáo dân địa phận ấy cho tiện”, ngày 4-7-1958, cha Giuse-Maria Phạm Thành Nhân, gốc Hà Nội, đã được Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền và Ðức Cha Phêrô Phạm Ngọc Chi cử về Tân Hà.

Cha vẫn giữ ban Hàng xứ trước cho đến mãn nhiệm kỳ là 1-1-1961 mới bầu ban mới. Cha chăm lo giảng dạy, củng cố các hội đoàn, khiến đời sống đạo đức trong giáo xứ khá sốt sắng.

Vào thời cha, phía trong nhà thờ được tô xi măng, các khung cửa được quét sơn, nhà thờ có thêm nhiều hàng ghế, con đường chung quanh nhà thờ được trải nhựa. Cha cũng cho làm thêm hai dãy trường khang trang rộng rãi, cửa nẻo vững chắc.

Ngày 12-1-1965, cha rời Tân Hà và trong gần 3 tháng, giáo xứ chỉ được vài cha từ Bảo Lộc thay phiên nhau đến giúp như các cha Vũ Ngọc Quyền, Nguyễn Kim Ngôn, Trần Xuân Thành.

IV. Thời kỳ cha Luân (1965-1973)

Ngày 4-3-1965, cha Giuse Nguyễn Minh Luân được cử về làm quản xứ. Sau một thời gian ngắn, cha đã nhường lại khu nhà xứ đang có cho cộng đoàn MTG Thanh Hóa và bán đi một số đất thuộc 4 mẫu của khu nhà xứ để lấy tiền xây cất một khu nhà xứ mới ở chỗ đầu nhà thờ hiện nay. Ban đầu nhà xứ này chỉ là nhà trệt, đến năm 1970 mới được thêm lên thành lầu.

Ngoài ra, cha cũng cho xây dựng nhà hội quán, nhà chợ hợp tác, kho, và đến năm 1970-1971 cho xây tháp chuông nhà thờ với sự điều động của cha phó Võ Trung Thành và tiền đóng góp của các khu.

Sáng Chúa Nhật 8-7-1973, cha đã rời xứ, về đảm trách xứ Chân Lộc mới được tách khỏi giáo xứ Bảo Lộc.

V. Thời kỳ Cha Tân (từ 1973)

Ngày 15-7-1973, giáo xứ đón tiếp cha Giuse Vũ Ðình Tân về làm quản xứ. Trong hai năm đầu, có cha Ðaminh Nguyễn Nam Bắc, rồi cha Giuse Dương Ngọc Châu phụ tá cho cha, trước khi hai cha đi nhận nhiệm vụ quản xứ.

Do hoàn cảnh và cũng nhờ tình trạng vật chất đã tường đối ổn định của giáo xứ, từ khi cha về xứ, cha không còn bận tâm gì đến việc kiến thiết thêm. Chỉ mãi đến năm 1988, cha mới khởi công xây dựng một nhà hưu dưỡng cách nhà thờ độ nửa cây số. Công việc đã tạm hoàn tất vào giữa năm 1990, và dịp lễ Bổn Mạng Ðức Giám Mục Giáo Phận (24-8), theo ý cha, ngôi nhà khang trang đẹp đẽ đã được hiến cho giáo phận và được đích thân Ðức Cha về làm phép, sau thánh lễ đồng tế ban phép Thêm Sức tại giáo xứ.

Trong khi tự hạn chế việc kiến thiết về mặt vật chất như thế, cha đã dồn tâm lực vào việc chăm lo đời sống thiêng liêng cho giáo xứ. Một mình đảm nhận một giáo xứ đông người, cha đã miệt mài với việc giảng dạy mọi giới, mọi tầng lớp, nhất là với việc gần gũi trẻ em, đích thân dạy giáo lý rước lễ, thêm sức cho chúng, hết đợt này đến đợt khác.

Nhờ cha, đời sống thiêng liêng của giáo xứ được duy trì theo đà trớn các thời kỳ trước gây dựng được và còn phát huy hơn, ổn định hơn. Cuối tháng 7-1991, cha Phêrô Nguyễn Công Linh đang phục vụ giáo xứ Bảo Lộc đã được bổ nhiệm làm phó xứ. Từ ngày thành lập, giáo xứ đã đóng góp cho Hội Thánh 3 linh mục (2 DCCT, 1 Ðaminh).

Hiepkhachgiangho sưu tầm

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Cha Tam

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA TIÊU SƠN

chuatieuson

Tiêu Sơn tự (còn có các tên: chùa Thiên Tâm, Lục Tổ) tọa lạc trên núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Tương giang thơ mộng trong cổ tích với câu chuyện Mỵ Nương – Trương Chi. Tiếng hát Trương Chi trên sông Tiêu Tương hàng ngàn đời nay là đề tài cảm hứng cho biết bao văn nhân thi sĩ. Giờ đây dòng Tương giang chỉ còn dấu vết là hồ nước, nhưng núi Tiêu Sơn thì vẫn vững bền. Tiêu Sơn tự (còn có các tên: chùa Thiên Tâm, Lục Tổ) tọa lạc trên núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Sử cũ ghi: “Chùa là một thiền viện, đào tạo các bậc cao tăng và cung cấp kinh sách cho nhiều chùa trong nước”. Những bậc dẫn lên chùa mát rượi bóng cây cổ thụ, ngỡ như đang đưa du khách đến chốn bồng lai. Có thể nói không ngoa rằng: đây là nơi đã khai sinh triều đại nhà Lý, bởi Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng và hun đúc tài năng tại đây, nhờ trí tuệ và tâm huyết của Thiền sư Vạn Hạnh. Trên cột nhà bia còn lưu câu đối chữ Hán:

“Lý gia linh tích tồn bi kỷ

Tiêu lĩnh danh kha đắc sử truyền”

(Dấu thiêng nhà Lý còn bia tạc

Danh thắng non tiên có sử truyền)

Chùa Tiêu không chỉ là di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật được Nhà nước công nhận, mà còn là một danh lam với cảnh đẹp u nhã, thiên nhiên “sơn thủy hữu tình”.

Cao tăng Vạn Hạnh với chùa Tiêu

Tiêu Sơn là nơi linh địa của bậc cao tăng trí giả thâm thúy, Thiền sư Vạn Hạnh đã hành trì và khởi dựng vận mệnh quốc gia.

Thiền sư Vạn Hạnh sinh ra trong một Đại thế tộc ở làng Đình Bảng, cách núi Tiêu 3km. Từ nhỏ ngài đã thông minh xuất chúng, thông hiểu “bách gia chư tử”, “tam giáo” (Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Nho). Năm 21 tuổi, ngài xuất gia trở thành học trò xuất sắc nhất của dòng thiền Vinitaruchi, được vua Lê Đại Hành vô cùng tôn kính. Với kiến thức sâu rộng, đặc biệt thông hiểu kinh Bảo Vương Tam Muội, nên mỗi lời ngài nói ra đều được nhân dân coi là sấm truyền.

Thuở còn trẻ thơ, Lý Công Uẩn (vua Thái Tổ triều Lý) được gửi vào chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu) theo học Thiền sư Vạn Hạnh.

Không chỉ là người có công kiến tạo triều Lý, Thiền sư Vạn Hạnh còn là người đã khai sinh nền văn học viết của nước ta, với ba thể loại văn học đầu tiên: sấm ký, khuyến, kệ. Ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua vào năm 1010, đã tôn vinh Vạn Hạnh làm quốc sư.

Cao tăng Vạn Hạnh mất ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thư thứ 9 (1018), ngày nay không rõ xá lỵ ở đâu. Nhân dân vùng Kinh Bắc truyền tụng: đương thời không ít người cho rằng Vạn Hạnh là cha đẻ của Lý Công Uẩn. Vạn Hạnh bày tỏ nỗi oan bằng cách chỉ tay vào con hổ đất bên bàn thờ mà thề: “Thân này, tâm này đã tu hành không vọng tưởng gì nữa, nhược bằng không thanh tịnh, mắc tội tà dâm thì xin trời trừng phạt và con hổ kia vẫn là con hổ đất, còn vẫn giữ phép giới siêu thoát thì hổ đất sẽ biến thành hổ thật”. Kỳ lạ, con hổ đất bỗng rùng mình biến thành hổ thật để Vạn Hạnh cưỡi. Người đời sau đã dựa vào tích đó để tạc tượng ngài.

Pho tượng cổ tạc ngài được đặt trong một khám thờ, bài vị khắc: “Lý triều nhập nội, Quốc công tề tướng Thiền sư Vạn Hạnh”. Tượng cao 50cm, chân dung ngài sinh động, ngồi uy nghiêm trên con hổ màu xám, một tay ôm lấy đầu hổ, bàn tay kia đặt lên đầu gối, mặt ngẩng cao, đôi mắt dõi vào cõi xa xăm.

Mới đây nhân dân Tiêu Sơn đã xây dựng phiên bản pho tượng Vạn Hạnh cưỡi hổ, kích thước lớn gấp hàng chục lần, đặt trên đỉnh Tiêu Sơn để du khách thập phương chiêm bái (xem ảnh).

Thiền sư Như Trí với chùa Tiêu

Thiền sư Như Trí trụ trì chùa Tiêu vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Chân Nguyên (trụ trì chùa Long Động ở Yên Tử). Ngài có công phục hưng thiền phái Trúc Lâm, giữ gìn nhiều tư liệu quí báu của thiền phái, cùng nhiều chư tăng đương thời sưu tập, khắc in rất nhiều sách. Cuốn Thiền uyển tập anh được ngài khắc in năm 1715 tại chùa Tiêu, là bộ sử thiền giá trị của nền văn hóa Phật giáo nước nhà.

Thiền sư Như Trí viên tịch năm Bảo Thái thứ tư, đời vua Lê Dụ Tông (1723) để lại nhục thân xá lợi. Trên tháp Viên Tuệ có ghi “Nhục thân Bồ tát Như Trí hiệu Tính Không” và “Lê triều Bảo Thái đệ tứ niên” (Quí Mão 1723). Ngày 5-3-2004, tháp cổ được mở trước sự chứng kiến của chính quyền sở tại, các tăng ni đến từ Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, đại diện Bảo tàng Bắc Ninh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và đông đảo nhân dân địa phương. Hết thảy đều vui mừng khi thấy nhục thân của thiền sư Như Trí còn tương đối nguyên vẹn.

Các nhà khoa học đã tiến hành diệt khuẩn, nấm mốc, côn trùng. Các qui trình bọc vải, bó, hom, lót, thí được thực hiện thận trọng với 13 lớp sơn và thếp bạc. Pho tượng sau khi tu bổ nặng 34kg, chiều cao ngồi 78,5cm. Tượng được đưa về nhà Tổ của chùa Tiêu, đặt trong một khám sơn son thếp vàng có hộp kính dày 1cm, chứa đầy khí nitơ để bảo vệ.

Chu Minh Khôi (The Tuổi Trẻ)

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA DẠM

Chùa Dạm chìm trong quên lãng

Quy mô to lớn của chùa Dạm đã được nhân gian truyền tụng tới ngày nay nhưng tiếc thay, Đại danh tự thời Lý giờ chỉ còn là phế tích ngập chìm trong cỏ dại.

chúa dạm 1

Chùa Dạm nằm trên dãy núi Dạm, còn gọi núi Đại Lãm, thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Chùa xưa tháp cũ giờ không còn nữa nhưng quy mô nền móng, cột đá chạm rồng, gạch, ngói, đá kè, chân cột… cũng đã khẳng định chùa Dạm là trung tâm Phật giáo, đại danh lam thời Lý. Theo Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí có: Năm Quảng Hựu thứ 1 (1085) Thái hậu Ỷ Lan đi chơi, thấy nơi đây có núi sông cảnh đẹp và có ý muốn xây dựng tháp ở đó. Đến năm Quảng Hựu thứ 2 (1086), vua Lý Nhân Tông cho xây dựng chùa trên núi Đại Lãm. Chùa được triều đình nhà Lý cho xây dựng với quy mô 8.000m2 trong suốt 8 năm liền. Năm 1087, vua đến thăm chùa, thiết yến bầy tôi, thân làm bài thơ Lãm Sơn dạ yến. Năm 1094, chùa làm xong, vua đến thăm và ban tên chữ cho chùa và đến năm 1105 cho xây dựng 3 cây tháp đá ở chùa Đại Lãm. Việc xây dựng có quy mô đồ sộ biểu hiện lòng tự tin đối với cơ đồ độc lập của Nhà nước, mặt khác thể hiện sự đề cao Phật giáo và nhà vua.

chùa dạm 2

Ngôi chùa xưa có quy mô kiến trúc to lớn, với 4 lớp nền giật cấp bám lấy độ cao của núi Dạm. Các lớp nền đều được kè đá tảng lớn để chống xói lở. Các vách đá của các lớp nền cao từ 5-6m, mỗi viên đá rộng 0,50-0,60m. Nối các tầng nền với nhau là các bậc thềm lát đá. Trên các tầng nền có gạch ngói thời Lý hoa văn hình rồng, phượng, sen dây, cúc dây; những chân cột bằng đá (0,75m x 0,75m) chạm nổi những cánh sen rất nghệ thuật. Tại tầng nền thứ hai từ dưới lên (khoảng giữa cửa chùa) có 2 khối đất hình nấm nằm đối diện nhau, đều được kè đá chạm văn hình sóng nước nhô cao (thủy ba). Và khi chùa hoàn thành, huyền tích kể rằng chùa trăm gian cần phải có tới bảy gia đình dưới chân núi chuyên việc đóng mở cửa chùa hàng ngày mà vẫn không xong.

Chùa xưa là vậy, còn chùa nay sao hoang vắng, tiêu điều. Vẫn còn đó các lớp nền kè đá tảng. Vẫn còn đó vô số những mảnh gạch ngói hình rồng, phượng, sen, cúc, những chân cột bằng đá nằm chen với cỏ dại. Vẫn còn đó vài tấm bia đá lớn bị sứt vỡ chạm khắc tinh tế hình tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng. Vẫn còn đó sừng sững trên nền trời xanh cột đá khổng lồ, cao tới 5m. Cột đá chạm rồng này gồm 2 phần: phần dưới là khối hình hộp, (cạnh 1,40m x 1,60m); phần trên là khối hình trụ có tiết diện tròn (đường kính 1,30m) được chạm nổi đôi rồng lớn quấn quanh cột, đầu rồng ngẩng cao, miệng ngậm ngọc, chầu vào hình mặt trời tỏa sáng. Đầu rồng có mào, bờm, tóc bay bốc lên cao như ngọn lửa. Thân rồng to, mập uốn khúc quanh cột. Hai chân phía trước của rồng có móng sắc, nhọn, giơ cao nâng viên ngọc dưới cằm. Có thể nói toàn bộ tác phẩm điêu khắc cột đá chạm rồng chùa Dạm thể hiện sức mạnh tổng hợp của vương quyền và thần quyền nhà Lý-triều đại đầu tiên đặt nền móng cho kỷ nguyên dân tộc tự chủ và hưng thịnh về mọi mặt. Hình tượng cột tròn đặt trên bệ nổi hình sóng nước còn là Linga và Yoni, hai sinh thực khí biểu tượng phồn thực trong phật giáo ấn Độ. Đây chính là minh chứng cho sự giao thoa văn hóa giữa văn hóa Chămpa và Đại Việt xưa. Và đây có lẽ cũng là ngôi chùa duy nhất ở miền Bắc có biểu tượng này.

Vẫn còn đó ngòi Con Tên mà tương truyền đã được đào nối liền núi Đại Lãm với sông Đuống để vận chuyển vật liệu xây dựng chùa Dạm. Ngòi Con Tên giờ vẫn còn tuy không thông với sông nữa nhưng vẫn tạo thế núi, thế sông tuyệt mỹ cho ngôi chùa.


Nhưng thời gian không đợi ai cả. Đại danh tự một thời nay đã là phế tích. Một ngôi chùa nhỏ bé, liêu xiêu được người dân dựng trên nền đổ nát. Một người vãi già mang gạo của nhà tới ở trong căn lán dựng tại vườn trước để trông nom chùa. Bà Quyến tâm sự: “Tôi vừa rẫy hết đám cỏ dại trùm hết ba nền và tường đá. Còn rất nhiều việc phải làm để cảnh quan chùa gọn gàng hơn. Tôi mong có ngày, những người hảo tâm sẽ công đức dựng lại chùa, dù chẳng được như xưa thì cũng khang trang hơn nay”.

Mỗi tháng bà Quyến nhận được khoảng 150.000 đồng tiền công chăm nom chùa. Số tiền chỉ đủ cho bà rau dưa hàng ngày, còn hàng tháng con bà vẫn phải mang gạo lên tiếp tế. Nhưng tôi vẫn nhận thấy rõ niềm tin, niềm vui và lạc quan trong ánh mắt của người vãi già, trong công việc nhổ cỏ, quét dọn của bà mỗi ngày, dù dường như cỏ dại mọc quá nhanh so với sức vóc nhỏ yếu của bà. “Tôi tin lắm. Đã có nhiều vị sư về đây hứa sẽ trở lại dựng chùa. Tôi tin các vị ấy sẽ làm được điều đó”

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

.

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA PHẬT TÍCH – BẮC NINH

Chùa Phật Tích nằm trên sườn nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên) thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, xã Phật Tích đã nằm trong địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ. Trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước (trung tâm Dâu – Luy Lâu). Và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la đã về đây dựng chùa và truyền đạo. Nhưng phải đến đời Lý (1010-1225) thì chùa Phật Tích mới được xây dựng với qui mô lớn. Chùa Phật Tích được triều Lý ưu ái đặc biệt bởi nó nằm trong vùng văn hóa lâu đời của xứ Kinh Bắc, quê hương của vua Lý.

chua phật tích

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên trên sườn núi.

Vì Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng. Năm 1071, Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5 mét, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích, bà Ỷ Lan có vai trò đặc biệt quan trọng. Để ghi nhận công lao của bà, ở thôn Vĩnh Phú lập đền thờ bà gọi là đền bà Tấm.

Sang thời Trần, Phật Tích vẫn là ngôi chùa lớn, một đại danh thắng. Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ “Bảo Hoa dư bút” dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ). Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.

Trải qua thời gian, chùa Phật Tích bị tàn phá nặng nề. Vào thời Lê, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn và đổi tên là Vạn Phúc tự. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: “Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng với tới trời sao”. Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Phía sau chùa là khu vườn tháp gồm 39 ngọn xây bằng gạch và bằng đá (nay còn 34 ngọn).

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá, hư hỏng nhiều. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A di đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử – văn hóa. Sau đó nhân dân trồng phía sau chùa một khu rừng với trên một vạn cây thông và cây bạch đàn, và trồng ở trước cửa chùa vườn cây ăn quả. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị tam thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian nhà thờ Mẫu.

Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ…

Chùa Phật Tích, một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cho đến nay vẫn còn giữ được nhiều di vật cổ quý giá. Bức tượng Phật A di đà bằng đá xanh ngồi trên tòa sen cao 1,87 m, một tác phẩm điêu khắc đặc sắc của nền mỹ thuật nước nhà nói chung và nghệ thuật tạc tượng nói riêng. Tượng người chim đánh trống, một nhân vật thần thoại, thể hiện ước mơ thoát tục và khát vọng vươn tới của con người. Đặc biệt, phía trước chùa Phật Tích có một hàng thú 10 con: tê giác, trâu, voi, sư tử, ngựa… to lớn. Tất cả các di vật cổ bằng đá nói trên đều là những tác phẩm nghệ thuật tài hoa của các nghệ nhân dựng chùa buổi đầu tiên với những nét rất đặc trưng cho thời Lý.

Nằm trên sườn núi, xung quanh là rừng thông và vườn cây trái, chùa Phật Tích mang những nét huyền bí và thật thơ mộng. Chùa lại là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng, là công trình văn hóa quý quá và đặc biệt là nằm trong vùng văn hiến Kinh Bắc lâu đời nên chùa Phật Tích đã thu hút được bà con trong vùng và du khách thập phương.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , ,