RSS

Tag Archives: chùa

CHÙA TẠI MIỀN BẮC – PHẦN 6

CHÙA TẠI MIỀN BẮC – PHẦN 6

 

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

Advertisements
 

Nhãn: , , , , ,

CHÙA BÀ ĐÁ – HÀ NỘI

CHÙA BÀ ĐÁ

Chùa Bà Đá có tên chữ là Linh Quang tự (linh quang nghĩa là ánh sáng thiêng liêng), ở số 3 phố Nhà Thờ, cạnh bờ Hồ Hoàn Kiếm.

Chùa được xây từ đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) ở làng Báo Thiên.

Chuyện kể có một người dân làng Báo Thiên đã đào được một pho tượng bằng đá hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật Đức Bà nên đã lập đền thờ bức tượng và gọi là đền Bà Đá. Sau đó dân làng xây thành ngôi chùa, đón sư về thờ cúng đức Phật. Chùa hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 m. Tiền đường xây kiểu chữ nhất (-), Trung đường xây kiểu chữ đinh (J), được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Các bộ vì kèo được kết cấu theo lối chồng giường. Mặt chùa hướng về phía bắc. Pho tượng bằng đá đã bị mất trong một vụ chùa bị hỏa hoạn thời Pháp thuộc. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng. Trên cao có tượng Tam Thế, dưới là tượng Di Đà Tam Tôn. Sau đó là tượng Thích Ca Liên Hoan, có tượng Văn Thù và Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là tượng Thích Ca sơ sinh. Các tượng đều có kích thước lớn so với chùa. Nhà bái đường không có tượng hộ pháp như thường thấy. Chùa có nhiều đồ thờ, cũng không rõ năm chế tạo, chỉ có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 và 1881, cùng một cái khánh đúc năm 1842.

 

 

Chùa Bà Đá nguyên là “chốn tổ” của thiền phái Lâm Tế, một trong hai phái lớn của Phật giáo ở miền bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá hiện nay là trụ sở của thành hội Phật giáo Hà Nội.

Hà Tiên Cô sưu tầm

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

ĐẢO QUAN LẠN

Đảo Quan Lạn thuộc vùng vịnh Bái Tử Long, đây là tuyến đảo phía ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ, toàn đảo có diện tích 11 km2, trên đó cư dân sống trong 8 thôn làng. Đảo Quan Lạn trải dài theo hướng đông tây, từ chân dãy núi Vân Đồn tới núi Gót với những ngọn núi cao phía đông, tạo nên như bức tường thành ngăn sóng gió từ biển khơi bảo vệ cho cư dân.

q lan 1

Quan Lạn nằm trên tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Philipin… Chạy dọc suốt theo hai bên đảo là những bãi cát dài tới hàng chục kilômét, đây là nguồn nguyên liệu làm thuỷ tinh dường như vô tận của biển cả dành cho con người và là tài nguyên du lịch vô cùng hấp dẫn của vùng. Quan Lạn có rất nhiều loại đặc sản biển quý và ngon như mực, cá chim, cá thu, hải sâm, tôm, sái sùng…

Ngay từ thế kỷ 11, Quan Lạn đã là một trung tâm của thương cảng cổ Vân Đồn sầm uất và thịnh vượng, tàu bè ra vào tấp nập. Hiện nay, trên đảo còn có rất nhiều di tích liên quan tới thương cảng đó. Điều này cũng giải thích vì sao giữa chốn biển khơi mênh mông lại có những ngôi chùa to lớn cùng nhiều di chỉ khảo cổ đến vậy.

Tại đây có ngôi đình Quan Lạn được xây dựng từ thế kỷ 18 tuyệt đẹp, hiện nay vẫn giữ lại gần như nguyên vẹn, các đường nét chạm khắc hoa văn tinh xảo. Bên cạnh đình là chùa Quan Lạn (Linh Quang tự) thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Trong chùa còn có tượng cụ Hậu, một người dân địa phương góp nhiều công sức xây dựng chùa. Bức tượng là một bà cụ già Việt Nam tươi tắn, hiền hòa, chất phác đã tạo nên nét độc đáo của chùa. Cạnh chùa Quan Lạn là Miếu Nghè Quan Lạn (miếu Đức Ông) thờ Phạm Công Chính, một người dân địa phương đã tham gia trận Vân Đồn lịch sử chống quân Nguyên và được suy tôn là Vị Thần.

 

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , , , , ,

VIỆT NAM QUỐC TỰ – TPHCM

Ngôi chùa Việt Nam Quốc Tự tọa lạc trên cơ sở đất bốn mẩu, trước kia là số 16 đường Trần Quốc Toản, nay là đường 3 tháng 2, Quận 10, TP.Hồ Chí Minh. Kiến trúc của chùa mang đậm phong cách kiến trúc Việt Nam.

Nguyên thủy, sau cuộc đảo chính 1963 tại Nam Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập và được chính phủ lâm thời Việt Nam Cộng hòa bấy giờ cho giáo hội một miếng đất rộng 4 mẫu với danh nghĩa là mướn thời hạn 99 năm chỉ với một đồng bạc tượng trưng và được tiếp tục khi hết hạn [1].

Lễ đặt đá xây dựng Việt Nam Quốc tự cử hành vào lúc 8 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1964 dưới sự chứng minh của Chư tôn Giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất với sự chứng kiến của Quốc trưởng, đồng thời cũng là Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà bấy giờ là tướng Nguyễn Khánh. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người vẽ đồ án xây dựng, dự kiến chùa được xây dựng với một ngôi tháp 7 tầng mái cong, chạm trổ tinh vi trong không gian thiên nhiên rộng rãi trên vùng đất rộng 45 nghìn mét vuông, với các cảnh quan đặc sắc hài hòa mang đậm bản sắc phong cách kiến trúc Việt Nam. Đồ án mới xây xong Tháp Việt Nam Quốc tự bảy tầng và một dãy Tăng xá nhưng chưa hoàn thành trọn vẹn. Chùa cũng là trụ sở của Viện Hóa Đạo thuộc GHPGVNTN đến năm 1975 với người trụ trì đầu tiên là hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Năm 1965, hòa thượng Thích Từ Nhơn được thỉnh cử đảm nhiệm trụ trì Việt Nam Quốc Tự cho đến nay. Năm 1967, hòa thượng Thích Tâm Châu đã thành lập Viện Đại học Phương Nam trong khuôn viên chùa.

Sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975, trong khoảng thời gian 10 năm chùa bị hoang phế nên nhà nước tạm thời trưng dụng xây dựng trung tâm vui chơi giải trí của thành phố – Khu du lịch Kỳ Hoà và Nhà hát Hòa Bình.

Vào năm 1988, Hòa thượng Từ Nhơn với danh nghĩa trụ trì cũ đã gửi đơn xin lại đất và chùa Việt Nam Quốc Tự. Sau 5 năm, đến ngày 28 tháng 02 năm 1993 được cấp lại cho hòa thượng Thích Từ Nhơn theo đơn xin và đất của chùa bị thu hẹp còn 3.712 mét vuông với ngôi tháp ban đầu đã được xây dựng còn dở dang.

Năm 1993, chùa được trùng tu và tôn tạo mới với nhiều hạng mục hơn. Sau hơn 10 năm tiếp nhận chùa đã hoàn thành ngôi tháp 7 tầng và các cảnh Phật để tăng ni phật tử và khách thập phương chiêm bái. Đến nay, chùa Việt Nam Quốc Tự vẫn là điểm lui tới của các tín đồ Phật giáo xa gần

Tuy chùa và đất không lớn rộng lắm nhưng ở vị trí rất tốt mà điều quan trọng nhất vẫn giữ được tên Việt Nam Quốc tự cùng với một phần đất gọi là kỷ niệm nơi mà hàng ngàn tăng ni và phật tử chết chóc tù đầy vì đấu tranh để bảo vệ đất nước, bảo vệ đạo pháp.

Nay tuy chỉ với ngôi tháp 7 tầng và 3.712 thước vuông nhưng vẫn là sự tồn tại của Việt Nam Quốc Tự và cũng nói lên niềm hoan hỉ cho những người con phật những tấm lòng cao cả biết hiến dâng đời mình cho đất nước dân tộc và đạo pháp.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

TÍN NGƯỠNG ĐỀN CHÓA

Đền Chóa thuộc thôn Chân Lạc, xã Dũng Liệt (Yên Phong). Thôn Chân Lạc xưa có tên là Kẻ Chóa, được sử sách và dân gian biết đến nổi tiếng bởi ngôi đền cổ xưa thờ “Thủy Thần”.

Đền Chóa nằm trên một khu đất cao, xưa gọi là Rừng Điện, nay nằm giữa làng, bên cạnh là đình, chùa, miếu, tạo thành một quần thể di tích cổ kính của làng quê. Nổi bật trong quần thể di tích là ngôi đền cổ có quy mô đồ sộ gồm các tòa nhà: Thượng điện, Trung điện, Hạ điện; mỗi tòa 3 gian 2 chái mái ngói đao cong, nằm trên một trục chính giữa theo kiểu chữ Tam. Hai bên là dãy Tả vu, Hữu vu (được gọi là nhà giáp cỗ) cũng 3 gian 2 chái mái ngói đao cong. Với bố cục kiến trúc như vậy đã tạo cho ngôi đền tựa như một con Phượng lớn đang xòe cánh bay lên. Trước cửa đền có sân, hồ bán nguyệt rộng, cây cổ thụ bao quanh, khiến di tích vừa cổ kính vừa linh thiêng. Đền Chóa là công trình kiến trúc nghệ thuật của thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) khá độc đáo còn lại đến ngày nay. Song từ đó đến nay đền Chóa đã qua một vài lần trùng tu vào thời Nguyễn. Trên các bộ phận kiến trúc như câu đầu, rường, cốn, bảy đều được chạm khắc trang trí “tứ linh”, “tứ quý” tinh xảo, nghệ thuật.

Ngoài giá trị kiến trúc điêu khắc, đền Chóa còn bảo lưu được nhiều cổ vật quý hiếm như: Tượng “Long Vương” mặt người mình rồng, 19 đạo sắc phong (sắc sớm nhất năm 1740, sắc muộn nhất năm 1924), 2 bia đá (được khắc năm 1704 và 1714), hoành phi, câu đối, hương án, sập đá hạc gỗ, phỗng gỗ, chấp kích, bát bửu… không những là chứng tích của ngôi đền trong lịch sử, mà còn là những tác phẩm đặc sắc của hai thời Lê-Nguyễn.

Song giá trị nổi bật của đền Chóa được sử sách và dân gian biết đến lại thuộc về tín ngưỡng và lễ hội. Các sách cổ như: Đại Nam nhất thống chí, Bắc Ninh địa dư chí, Bắc Ninh toàn tập dư địa chí có ghi chép về tín ngưỡng đền Chóa như sau: “Đền thơ 3 vị thủy thần ở Chân Hộ và Hộ Trung huyện Yên Phong. Một vị là Thủy tộc long quân, một vị là Hoàng Hà long khiết phu nhân và một là Tam Giang công chúa”. Tín ngưỡng thờ nước còn được biểu hiện rõ nét trong tục “Cầu đảo” mỗi khi hạn hán tại đền Chóa. Tục lệ này như sau:

Vào năm hạn hán, dân làng Chóa tổ chức lễ cầu đảo tại đền. Nghi thức tế lễ Thần được tiến hành trong ba ngày liền, không mưa lại ba ngày tiếp theo. Nếu trời vẫn không mưa thì dân làng tổ chức “Tắm kiệu”: rước kiệu Thần từ đền Chóa bằng thuyền vượt sông Cầu sang đền Vường sát bờ sông (thuộc xã Châu Minh, Hiệp Hòa, Bắc Giang) để tế lễ Thần ở đây. Khi thuyền qua sông, người ta còn dùng gáo đồng múc nước dội lên kiệu gọi là tắm kiệu. Sau khi tế lễ tại đền Vường mà trời vẫn không mưa, dân làng lại tổ chức “Rước bơi”: Kiệu Thần được rước đến bến Đình (thuộc thôn Lạc Trung) để thi bơi chải. Đến nơi kiệu được đặt trên bờ, mặt hướng ra sông. Dưới sông 3 thuyền chải của 60 trai tráng làng Chóa thi bơi. Trên bờ dân làng đánh trống cái liên hồi để thúc dục các thuyền bơi. Dưới nước các thuyền bơi quanh một vòng tại khúc sông bến Đình. Sau ba ngày rước bơi mà trời vẫn không mưa thì nhân dân ở đây tổ chức “Rước huyện”, tức đồng loạt các làng ven sông Cầu như Chóa, Xà… rước kiệu Thần xuống đền Đông Yên (xã Đông Phong) để tổ chức tế lễ cầu đảo.

Tín ngưỡng đền Chóa biểu hiện văn hóa của cư dân nông nghiệp ven sông Cầu thờ Thần Nước. Điều này đã được cố Giáo sư Trần Quốc Vượng khẳng định trong sách “Việt Nam cái nhìn Địa-Văn hóa” rằng vùng dọc sông Cầu đền thờ Thần Nước là phổ biến từ đền Chóa đến đền Diềm.

(BBN)

 

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

CHÙA AM CÂY ĐỀ – HÀ NỘI

CHÙA AM CÂY ĐỀ (THANH NINH TỰ)

d1

Chùa Am Cây Đề ở số nhà 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Thanh Ninh là tên làng được dùng để gọi tên chùa. Tên chùa Am Cây Đề xuất hiện năm Cảnh Hưng 7 đời vua Lê Hiến Tông (1746) khi một viên quan họ Trịnh cho xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.

Chùa thờ Phật, ngoài ra còn có đền Ngọc Thanh là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo cùng các thân quyến. Tương truyền chùa được xây từ đời vua Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành (1031) và là một trong 95 ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta thời bấy giờ. Dấu tích khởi dựng không còn nữa, năm Cảnh Hưng nguyên niên (1739), chùa được dựng lại đơn sơ nên có tên gọi là “Chùa Cỏ”. Từ thời Lê về trước, khu vực quanh chùa là nghĩa trang của kinh thành vì thế nên viên quan họ Trịnh mới xây am nhỏ để thờ các cô hồn. Theo dân gian, vào đầu xuân Kỷ Dậu, một số thi hài của nghĩa quân Tây Sơn hi sinh khi giải phóng thành Thăng Long đã được an táng quanh chùa.

Chùa được xây trên một khu đất cao, trước đây là một khuôn viên rộng rãi, có nhiều cây cổ thụ. Hiện nay, chùa gồm cổng, sân, đền Ngọc Thanh và tòa tam bảo. Cổng chùa được xây kiểu tam quan có 3 cổng nhỏ, trên có 4 mái nhỏ. Đền Ngọc Thanh nằm theo hướng bắc, trông thẳng ra cổng. Đền có kiến trúc hình chuôi vồ gồm bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Đền lợp ngói ta, hai đầu xây kiểu bít đốc, các vì làm kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây quanh.

Tòa tam bảo của chùa cũng hình chuôi vồ gồm tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Chùa dựng trên nền cao, quay hướng đông – nam, xây kiểu tướng hồi bịt đốc. Các vì làm nhiều dạng khác nhau (có thể do đã sửa chữa nhiều lần). Ở tiền đường, vì kèo làm kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Các vì kèo có chạm hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.

Chùa hiện còn giữ được 35 pho tượng tròn. 12 pho ở đền Ngọc Thanh, 3 đôi lọ lộc bình sứ, 1 đôi chóe sứ men trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoành phi, 1 ống bút, 1 chuông đồng đúc niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1797) có tên là “Thanh Ninh tự hồng chung”.

Năm Gia Long 7 (1808) sư cụ Tịch Quang trụ trì tại chùa đã cho trùng tu, tô tượng và đúc chuông. Tấm bia “Thanh Ninh thiền tự bi kí” do tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn năm 1779 có ghi: “Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó”. Đến năm Khải Định 8 (1923) chùa lại được trùng tu. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền Ngọc Thanh vì vậy dấu tích cũ không còn nữa.

Chùa đã được Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 22.7.1981.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM

DI SẢN THIÊN NHIÊN VỊNH HẠ LONG

Nằm ở vùng đông bắc Việt Nam , vịnh Hạ Longlà một phần vịnh bắc bộ , bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long ,thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn .Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà ( Hải Phòng ) , phía đông là biển phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120km .

Vịnh Hạ Long có diện tích 1553 km vuông  , gồm 1969 hòn  đảo lớn nhỏ , đảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam ( thuộc vịnh Bái Tử long )và vùng phía tây nam ( thuộc vùng vịnh Hạ Long ) . Vùng tập trung dày đặc các đảo đá với nhiều hình thù tạo nên phong cảnh rất đẹp và nhiều hang động nổi tiếng . Vùng di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km  vuông bao gồm 775 đảo , tạo nên một hình tam giác với ba đỉnh  là đảo Đầu Gỗ ( phía tây ) hồ Ba Hầm ( phía nam ) đảo Cống Tây  ( phía đông )  , vùng phía bên là khu vực đệm và di tích danh lam thắng cảnh được bộ văn hóa thông tin xếp hạng năm 1962 .

Hạ Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới , gió mùa . Thời tiết trong năm biểu hiện bốn mùa rõ rệt . Với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn nơi có thương cảng nổi tiếng vào giữa thế kỷ 12 . Hạ Long còn được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hóa Hạ Long từ hậu kỳ đồ đá mới  với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như : ĐỒNG MANG , XÍCH THỔ , SOI NHU , THOI GIẾNG ….và cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình  : hệ sinh thái rừng ngập mặn , hệ sinh thái rạn san hô , hệ sinh thái thái tùng áng , hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới  , với hàng ngàn loài động  , thực vật trên rừng dưới biển . Có những loại đặc biệt quý hiếm chỉ có ở Hạ Long .

Nói đến Hạ Long ta phải nói đến vẻ đẹp thần tiên của đá và nước , trong một vùng biển rộng lớn bốn mùa nước xanh biếc . Phía đông nam và tây nam là vùng biển đảo rộng lớn xrn kẽ những luồng lạch quanh co uốn khúc , có chỗ thì đảo đá quây quần xúm xít chen chân đứng , có chỗ thì các đảo lại cách xa nhau tạo nên một bức tranhthủy mặc khởng lồ vô cùng sống động . Dưới bàn tay khéo léo tài hoa  của tạo hóa hàng ngàn đảo đá tĩnh lặng vô tri trở thành những hình tượng sống động với những tên gọi quen thuộc của con người : hòn Chống Mái như dôi gà đang vờn nhau trên nước , hòn Đầu Người giống hình một người đang hướng về đất liền , hòn Rồng như một con rồng đang bay lượn  , đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá  ( hòn ông Lã Vọng ) , hòn ông Sư làm ta liên tưởng đến một vị sư già đang chắp tay quay mặt ra biển tụng kinh niệm phật , hòn Lư Hương như một chiếc lư hương khổng lồ  đứng chơi vơi giữa biển và còn rất nhiều những hòn khác mà sự cảm nhận , liên tưởng của mỗi người ở mỗi góc độ khác nhau . Vào mùa xuân giữa sóng nước mênh mông trong làn sươngbạc che phủ  , những đảo đá trở nen huyền bí , khi mùa hè đén lúc bình minh ló rạng toàn vịnh mang một màu đỏ rực chuyển sang màu xanh lam , nhừng cây lan và các loạì  hoa mà từ kẽ đá vươn ra  đươm hoa rực rỡ . Vịnh cũng mang một vẻ đẹp rất riêng khi hoàng hôn buông xuống , mặt vịnh lúc này được nhuộm một sắc màu đỏ rực của những tia nắng cuối cùng cảnh sắc được phủ lên những gam màu tuyệt đẹp .  Vào những đêm trăng mặt vịnh như được dát bạc  quyện với màu sẫm của những đảo đá mà mỡi đảo lại gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết về tình yêu , nhân tình thế thái , về các anh hùng  , về chiến công giữ nuớc …. khiến cho vịnh Hạ Long trở nên thật như mơ .

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử , Hạ long có vị trí đặc biệt quan trọng nằm trên tuyến đường thông thương giữa Trung Quốc , Nhật Bản , Trảo Oa , Xiêm La ….dấu vết thương cảng còn để lại tới ngày , nay là bến Cái Làng  ( đảo Quan Lạn ) . Trên một đoạn bờ biển dài chừng 200m đã tìm thấy hàng vạn mảnh sành sứ có nguồn gốc từ  Việt Nam , Nhật Bản, Trung Quốc  kết tầng dầy tới  0,6 m có niên đại từ thời Lý đến thời Lê , nơi đâycũng còn  có rất nhiều  nền nhà cổ sát nhau thành hàng dài dọc bến, ngoài bến Cái Làng còn nhiều bến cổ khác được phát hiện trên đảo Cống Đông , Cống Yến , Ngọc Vừng , Quan Lạn, Cái Bầu . Gắn liền với trung tâm buôn bán sầm uất đó nhiều công trình kiến trúc tôn giáo mọc lên đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người  buôn bán và người dân bản xứ  như nhà thờ đạo công giáo , chùa , riêng trên đảo Cống Đông có bốn ngôi chùa lớn nhỏ , trong đó có ngôi chùa cổ với lối kiến trúc đẹp và rộng lớn còn lại tới ngày nay là chùa Lấm . Chùa được xây dựng từ thời Trần với đầy đủ tam quan , phật điện , tiền đường , nhà tổ… phía đông bắc chùa là ngôi bảo tháp qua phế tích còn lại có thể khẳng định quy mô của bảo tháp đồ sộ uy nghi . Với những giá trị đặc biệt như vậy  , ngày 17 tháng 12 năm 1994 trong phiên họp lần thứ 18 của hội đồng di sản thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan  , vịnh Hạ long chính thức được công ngận là di sản thiên nhiên thế giới khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của vịnh Hạ long

Nếu có một lần  đến vịnh Hạ long , bạn hãy du ngoạn trên biển , len lỏi qua các vũng , các luồng vào trong các hang động, đến sát từng thớ đá  , bạn sẽ có cơ hội khám phá những bí ẩn của chúng. Các hòn đảo ở đây  được tạo hóa thổi hồn để trở thành những vật thể hay những sinh vật sống động , tất cả như đang nói với bạn một điều gì đó bằng một ngôn ngữ riêng khiến mỗi người hiểu và cảm nhận theo cách riêng của mình .

Hà Tiên Cô sưu tầm

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Bảy 11, 2009 in DI SẢN THẾ GIỚI

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , , , ,