RSS

Tag Archives: hà nội

26 NHÀ THỜ CHÍNH TÒA GIÁO PHẬN CÔNG GIÁO VN

 
 

Nhãn: , , , , , ,

CHÙA PHỤNG THÁNH

CHÙA PHỤNG THÁNH^

Chùa Phụng Thánh hiện ở ngõ Cống Trắng, phố Khâm Thiên, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Chùa Phụng Thánh cũng như làng Phụng Thánh được lý giải bằng truyền thuyết rất xưa liên quan đến vương triều Lý (1010 – 1225).

Theo truyền thuyết vào thế kỷ 12, dưới triều Lý, có một công chúa rất xinh đẹp, nàng quan tâm đến đời sống của nhân dân và phong cảnh đất nước. Một hôm nàng xin phép vua cha cho đi du ngoạn trên một chiếc thuyền. Khi con thuyền đưa nàng công chúa đến một chiếc hồ lớn thì gặp một cơn giông, làm thuyền bị đắm chết. Nhà vua bèn sai quân lýnh vớt xác, nhưng công chúa đã làm nhiều điều thiện giúp dân nên được hóa Phật. Để tưởng nhớ công lao của nàng, dân quanh vùng đã chọn mảnh đất quanh hồ để xây miếu thờ. Sau đó dân làng lại đóng góp công sức xây dựng nên ba gian nhà gỗ ở phía sau miếu để thờ Phật. Đó là tiền thân của di tích chùa Phụng Thánh.

Sau một thời gian tồn tại lâu dài, đến thời Tây Sơn, di tích nằm trong khu vực chiến trường Đống Đa, nên chùa bị hủy hoại. Sau cơn bin hòa, đến thời Nguyễn, chùa được phục hồi vào năm Ất Mão (1855) và năm Ất Sửu (1865). Đến đêm 26-12-1972 chùa bị bom B52 Mỹ phá sập khu chùa chính. Năm 1973 nhà sư Đàm Ánh trụ trì tại chùa đã tiến hành xây dựng lại di tích như hiện nay.

Di tích được dựng trên một khu đất bằng phẳng và có một khuôn viên rộng lớn bao quanh. Chùa quay mặt về hướng nam, trông ra hồ nước rộng. Trước đây, đi tích bao gồm tam quan, chùa chính, nhà tổ, nhà ngang, sân sạch và khu vườn rộng bao quanh. Do sự phát triển dân cư, tam quan chùa không còn, nên lối vào chùa hiện nay là một lối nhỏ, cửa gỗ dẫn vào hành lang nhà tổ và nhà Mẫu.

Các bộ phận kiến trúc chùa Phụng Thánh được xếp đặt trên trục bắc – nam. Sau chùa chính là sân gạch vuông dẫn tới nhà Tổ, hai dãy dải vì nằm song song với hậu cung chùa và và sân gạch tới hiên trước nhà Tổ.

Chùa chính thờ Phật, trong chùa lưu giữ 29 pho tượng tròn, trong số đó có 21 tượng hệ Phật điện, 8 pho tượng Mẫu, 2 quả chuông đồng, đồ gốm sứ, đồ gỗ, các bức đại tự, câu đối sơn son thếp vàng, bia đá.

Chùa vẫn bảo lưu được nhiều nét đẹp của kiến trúc truyền thống, đó là sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan, giữa các bộ phận kiến trúc với nhau. Các pho tượng cổ có giá trị là những tác phẩm nghệ thuật điển hình của thời Nguyễn.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 16.11.1988.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CHÙA BÁT THÁP

chùa bát tháp 12

Chùa Bát Tháp (Bát Tháp tự) còn gọi là chùa Vạn Bảo ở chỗ số nhà 203 phố Đội Cấn hiện nay. Đây là ngôi chùa của làng Vạn Phúc., phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội.

Chùa Bát Tháp xây dựng trên đoạn ngọn núi Vạn Bảo, một ngọn núi thấp ở kinh thành Thăng Long vào thời Lý Trần. Sau chùa đã khai quật được nhiều di vật thời Lý, Trần. Đến năm Gia Long thứ 2 (1803), dân làng Vạn Phúc hợp cả chùa trên núi Voi và chùa Vạn Bảo thành chùa Bát Tháp. Về tên gọi Bát Tháp, Biệt Lam Trần Huy Bá giải thích vì chùa có “ngọn tháp đế hình bát”. Chùa quay về hướng nam, có tam quan, tòa tam bảo, nhà tổ và khu vườn phía sau. Tòa tam bảo nằm trên vị trí cao nhất của ngọn Vạn Bảo Sơn, có mặt bằng hình chuôi vồ, gồm tiền đường 7 gian, 2 dĩ và hậu cung 3 gian.

Trong chùa còn giữ được nhiều pho tượng, di vật, chạm khắc mang phong cách thế kỷ 19, trong đó có quả chuông đúc năm Gia Long 2 (1803).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.


*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA BÀ ĐÁ

Chùa Bà Đá

Ở số 3 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, tọa lạc một ngôi chùa với cái tên rất nôm na là Bà Đá. Nguyên danh tên chùa bao đời nay là “Linh Quang tự” (Linh Quang nghĩa là ánh sáng thiêng liêng)(1)

Chùa được xây dựng từ đời Lê Thánh Tông 1460 – 1497 ở làng Báo Thiên. Chùa Linh Quang là một nơi danh lam thắng tích ở kinh thành Thăng Long. Trải bao thăng trầm của lịch sử, chùa Linh Quang cũng thay đổi ngày một khác. Đến đời vua Lê chúa Trịnh triều đình bắt dân đào đất chung quanh vườn chùa để lấy đất đắp thành Thăng Long. Trong khi đào, dân phát hiện một pho tượng đá, hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật bà nên rước vào thờ phụng trong chùa, từ đấy mới gọi là chùa Bà Đá(2)

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, trong cuộc binh đao, ngọn lửa vô tình đã làm cho chùa Bà Đá hóa tro tàn, để sau này nên một hình tướng khác. Sau hồi ấy, chùa bị cháy chỉ còn một nền đất không, cỏ mọc rêu phong. Bấy giờ quan trên bắt dân làm cỏ vườn hoang ấy để sửa sang lại cảnh cũ điêu tàn. Dân làng lại phát Bồ đề tâm làm nên một ngôi chùa toàn bằng tranh tre, gọi là tỏ lòng kính Phật để có chỗ vãng lai lễ bái.

Năm Quý Sửu (1793), sư tổ Khoan Giai trụ trì chùa, dần dần dựng lên một ngôi chùa ba gian lợp ngói. Năm Tân Tỵ (1821), tổ Giác Vượng kế đăng. Tổ lại được thập phương công đức, bèn lập nên một ngôi chùa rộng lớn hơn, lại làm thêm mấy dãy hành lang và tăng phòng khách xá. Tiếp đấy là tổ Phổ Sĩ lên kế đăng.

Từ đây trở đi, chùa Bà Đá hồi phục lại cái vẻ danh lam thắng tích như xưa. Chư tổ lại dạy được nhiều đệ tử nên do sơn môn này bổ đi các chùa ở Bắc kỳ từ đấy càng ngày càng thêm nhiều.

Sau sư tổ Phổ Sĩ đến sư tổ Nguyễn Văn Hợp rồi đến sư tổ Nguyễn Văn Khánh lại càng làm cho ngôi chùa trang nghiêm, tăng đồ thêm lắm. Đến thời sư cụ Đỗ Văn Hỷ (1884 – 1968) kế đăng, chẳng may chùa lại bị hỏa thiêu, ngài phải lo liệu làm lại các chỗ bị cháy. Sư cụ Đỗ Văn Hỷ được triều đình ban cho chức Tăng cang Hòa thượng.

Như vậy chùa đã được sửa chữa nhiều lần cho đến ngày nay. Chùa không có Tam quan như các chùa khác, lối vào qua một cửa hẹp (tức mặt chùa – hướng bắc) theo ngõ sâu 9m dần tiến vào trong, càng vào càng rộng. Tiền đường xây kiểu chữ nhất, chính điện xây kiểu chữ đinh được nối liền với nhau tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thiếp vàng. Chùa có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 vô 1881 cùng một cái khánh đúc năm 1842.

Nếu truy nguyên ra thì sơn môn Bà Đá (Thiền Lâm Tế) với sơn môn Hồng Phúc (Thiền Tây Động) hai chi hai nhánh khác nhau, nhưng pháp phái vốn là một là Thiền tông. Bởi vì chư tổ chùa Bà Đá cũng từ sơn môn chùa Hồng Phúc mà ra nên Bà Đá, Hòa Giai (Hòe Nhai) hai chi cùng chung một tổ. Theo Tiếng chuông sớm số 3 ra ngày 1-9-1936 thì ở Bắc Kỳ hầu như các chùa đều do một chốn tổ Hồng Phúc mà phân ra nhiều sơn môn khác nhau. Chùa có mối quan hệ tốt với trường Viễn Đông Bác Cổ (VĐBC) Pháp: hàng ngày chùa cử một ban tăng phái chuyên đến VĐBC để sao các kinh tạng của trường mua từ Nhật Bản đem về, lại cử một tổ thợ khác quanh năm khắc kinh ấn tống đi các chùa. Đã khắc được bộ “Đại Bảo Tích” và nhiều bộ khác.

Thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, chùa Bà Đá cũng là nơi có nhiều đóng góp tích cực. Năm 1935, Bắc kỳ Phật giáo cổ sơn môn được phép ra bán nguyệt san Tiếng chuông sớm, hòa thượng Đỗ Văn Hỷ (Thích Thanh Thao) trụ trì chùa Bá Đá là một trong những người sáng lập, được cử làm chủ nhiệm tờ báo Trụ sở báo đặt tại chùa Bà Đá.

Ngày 15-8-1945, các sư Thanh Đặc (Vũ Nguyên Hồng), Thanh Trà, Thanh Chế bí mật thành lập Đội Thanh niên Phật tử quân tại chùa Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh. Đội do sư ông Pháp Lữ chỉ huy, ban đầu có 19 người

Ngày 20-8-1945, sau khi tham gia cướp chính quyền tại địa phương chùa Bút Tháp thượng tọa Thanh Đặc và sư ông Pháp Không dẫn đội về đóng ở chùa Bà Đá, Hà Nội. Được sự giúp đỡ của hòa thượng Thanh Thao (Đỗ Văn Hỷ), tăng cang trụ trì chùa Bà Đá, đội tuyển chọn thêm những tăng ni trẻ ở chùa Bà Đá, quân số lên tới hơn 50 người do sư ông Pháp Không và Pháp Lữ chỉ huy. Ngày đem trong sân chùa Bà Đá anh em luyện tập côn quyền hoặc tập trung nghe cán bộ Việt Minh giảng giải về đường lối chính trị của cách mạng(3).

Ngày 23-8-1945, từ chùa Bà Đá, một đoàn đại biểu Phật giáo Hà Nội gồm hơn 10 nhà sư do hòa thượng Thanh Thao dẫn đầu vào yết kiến ông Võ Nguyên Giáp đại diện Chính phủ Lâm thời.

Ngày 25-8, chùa cử tăng ni Phật tử Hà Nội sang Gia Lâm đón Hồ Chủ tịch và Chính phủ Lâm thời từ chiến khu Tân Trào về Hà Nội.

Ngày 26-8, Hồ Chủ tịch đến chùa Bà Đá thăm nơi thờ phật và nhà tổ, đến phòng riêng thăm hòa thượng bản tự Thích Thanh Thao, khuyến khích ngài vận động chư tăng ni, các tín đồ ủng hộ cách mạng, góp công sức đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc

Ngày 28-8, một cuộc họp trọng thể được tổ chức tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức (gần chùa Bà Đá) gồm trên 100 nhà sư đại diện cho các sơn môn ở Hà Nội, Hà Đông, Hưng Yên… do hòa thượng Thanh Thao chủ trì, có các ông Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt đại diện Mặt trận Việt Minh tham dự Hội nghị giơ cao tay nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ Việt Minh. Sau đó bàn bạc rồi quyết định thành lập một tổ chức của Phật giáo yêu nước lấy tên là Hội Phật giáo Cứu quốc. Một Ban chấp hành được bầu gồm 9 người do hòa thượng Thanh Thao làm Chủ tịch, thượng tọa Thanh Đặc và bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết làm Phó Chủ tịch, trụ sở của Hội đặt tại chùa Bà Đá(4)

Ngày 5-1-1946, Hội Phật giáo Cứu quốc tổ chức tuần lễ mừng Chính phủ Liên hiệp quốc gia tại chùa Bà Đá. Tuần lễ mừng có mục đích cầu chư Phật, Bồ tát; và liệt Thánh chứng giám lời thề của cụ Chủ tịch và các nhân viên trong Chính phủ, hơn nữa để cầu nguyện nền độc lập cho nước Việt Nam. Lễ khai mạc được cử hành vào hồi 18 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chủ tọa và nhiều thành viên trong Chính phủ đã tới dự, có cả các đại biểu Công giáo Hồ Chủ tịch đã nói chuyện với các Phật tử: “Nước Phật ngày xưa có những 4 đắng cấp làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc Nhưng Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô giáo tin đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân, ta đừng làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy”, sau đó người cùng ăn cơm chay với mọi người và đi thăm các nơi trong chùa(5).

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1947-1954), chùa Bà Đá – là cơ sở đi lại của cán bộ Việt Minh.

Sau ngày thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (5-1958), chùa Bà Đá là trụ sở Ban Liên lạc Phật giáo Hà Nội.

Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (11-1981), chùa trở thành Trụ sở thành hội; Phật giáo Hà Nội, hòa thượng Thích Tâm Tịch là Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội, khi hòa thượng đảm nhiệm ngôi và Pháp chủ GHPG Việt Nam, hòa thượng Thích Thanh Chỉnh lên thay.

Tháng 8-2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính bao gồm Hà Nội cũ và tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, hợp nhất tổ chức Phật giáo các địa phương trên, thượng tọa Thích Bảo Nghiêm, Phó chủ tịch HĐTS Giáo hội PGVN được suy cử làm Trưởng ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội.

Ngoài truyền thống kết hạ hàng năm, từ năm 1992 tại chùa Bà Đá khai giảng lớp Trung cấp Phật học Hà Nội khóa đầu tiên (1989 – 1992) và hiện nay là địa điểm của trường Trung cấp Phật học Hà Nội.

Giữa chốn đô thị ồn ào huyên náo, người ta vẫn tìm đến chùa Bà Đá – nơi thanh tĩnh yên hòa để tĩnh tâm rửa sạch bụi trần ai, để sửa mình sao cho vượt qua bể khổ lên ngàn giác, tìm nơi cực lạc ngay tâm mình.

CHÚ THÍCH

(1) Bán nguyệt san Tiếng chuông sớm – cơ quan hoẵng pháp của Bắc Kỳ Cổ Sơn môn đặt trụ sở tại chùa Bà Đá, số 1 ra ngày 15-6-1935 viết: Chùa Bà Đá nguyên danh là Tự Pháp Linh Quang. Đời cổ, còn huyện Thọ Xương xưa, phố Hàng Trống vốn là một xã, tên làng là Tự Pháp xã; đất vua chùa dân; dân dựng nên chùa, đặt tên là Linh Quang tự, để phụng thờ chư phật như muôn vàn dân xã trong nước Nam ta.

(2) Pho tượng đá đã bị mất trong vụ chùa bị hỏa hoạn thời Pháp thuộc

(3) Xem: Từ Tùng Lâm Văn Miếu đến Chùa Bà Đá, Vũ Nguyên Hồng, báo Giác Ngộ, 1985 và lời kể của cựu đại tá Đinh Thế Hinh tức sư Pháp Lữ năm 2005.

(4) Nguyễn Đại Đồng, Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920 -1953), Nxb Tôn Giáo, 2008

(5) Báo Cứu Quốc ra ngày 8-1-1946.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA BÀ GIÀ

Chùa Bà Già

Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Chùa Bà Già có một lai lịch khá cổ. Nguyên, Phú Gia (tên nôm là làng Gạ) là nơi các vua nhà Trần định cư. Một bộ phận người Chăm được đưa từ phía nam ra đã dựng một ngôi chùa mà sử Toàn thư đã phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254-1330) thường tới đây đàm đạo về Phật giáo với vị sư người Chăm trụ trì. Có thể cái tên Bà Già là từ Đa-da-li mà ra. Nay trong chùa còn bức hoành phi cổ khắc ba chữ “Bà Già tự”.

Ngôi chùa toạ trên một khuôn viên không rộng nhưng cây cối xum xuê, không khí trong lành, yên tĩnh. Sáng sáng tiếng chim hót trên cây hồng xiêm trước sânlàm cho ngôi chùa càng thêm gần gũi.

Chùa Bà Già nằm ngay bên bờ sông Hồng, nay thuộc phường Phú Thượng (Tây Hồ), là một công trình kiến trúc Phật giáo có niên đại sớm.Ngôi chùa toạ trên một khuôn viên không rộng nhưng cây cối xum xuê, không khí trong lành, yên tĩnh. Sáng sáng tiếng chim hót trên cây hồng xiêm trước sân làm cho ngôi chùa càng thêm gần gũi. Sở dĩ chùa mang tên “Bà Già” bởi trên mảnh đất này, xưa lắm rồi, có ngôi chùa An Dưỡng tọa lạc. Do bị hư hại nặng, có hai chị em gái chuyên nghề buôn muối, đã phát tâm bồ đề bỏ tiền ra xây dựng, tu sửa lại chùa, tạc tượng Phật, dựng gác chuông đồng. Khi hai bà mất đi, để tỏ lòng biết ơn, dân trong vùng đã đúc tượng hai bà và rước vào chùa thờ, gọi là tượng hậu Phật, từ đó chùa được gọi là chùa Bà Già. Được tận mắt ngắm hai pho tượng Bà Già mới thấy được nét đẹp, nét hồn nhiên với phong cách dung dị, trong tư thế ngồi rất đời thường của người phụ nữ Hà Nội xưa. Pho tượng bà chị được đúc to hơn, trong tư thế ngồi một chân gập, một chân chống, tay phải úp lên đầu gối, tay trái để vào lòng. Ngồi bên cạnh là bà em, ngồi xếp bằng, cả hai tay đều để trên lòng, trong tư thế một người mẹ luôn cầu mong cho mọi người an khang thịnh vượng, sẵn mở lòng nhân ái. Đặc biệt là khuôn mặt của hai bà tròn trịa, hiền lành, phúc hậu, nhưng không giấu nỗi suy tư. Từ thời Lê, chùa Bà Già đã có qui mô bề thế và nổi tiếng kinh thành Thăng Long xưa. Đã có câu ca rằng: “Thứ nhất chùa Bà Đá” (quận Hoàn Kiếm), “Thứ nhì chùa Bà Đinh” (chùa Châu Lâm, phường Thuỵ Khuê), “Thứ ba chùa Bà Già, (phường Phú Thượng)

Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng, thoáng gọi là “Quy độ đầu”, thế đất hình con rùa đỗ ở phía Bắc của làng. Đây là điểm di tích khá hấp dẫn trong quần thể di tích chùa Kim Liên – Phủ Tây Hồ – Đình Vẽ – Đình Chèm. Căn cứ theo tấm bia “Bà Già tự bi ký” dựng tại chùa cho biết, chùa được trùng tu lớn vào tiết xuân năm Dương Hoà 2 (1636) và bài văn trên chuông “Trùng tạo chú hồng Chung Bà Già Tự” niên hiệu Chính Hoà 16 (1665) cho thấy, chùa Bà Già được xây dựng trước năm 1636, khoảng thời tiền Lê. Chùa có bố cục mặt bằng kiểu chữ “công”. Từ ngoài vào chùa có các công trình kiến trúc: Cổng Tam quan, Nhà tiền đường, nhà thiên hương, thượng điện, nhà thờ tổ, thờ mẫu và các công trình kiến trúc được bố cục hài hoà trong một không gian rộng thoáng, những cây xanh toả bóng bốn mùa tạo thêm vẻ u tịch tĩnh lặng nơi cửa thiền. Tam quan, gác chuông của chùa làm theo kiểu nhà mái chồng diêm, hai tầng tám mái theo lối kiến trúc truyền thống. Nhà tiền đường gồm 7 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bên trong bộ khung có tám bộ vì kiểu “chồng giường-giá chiêng” kết hợp vì xà nách bẩy hiên. Toà thượng điện ba gian nối với toà tiền đường tạo thành kết cầu kiểu chữ đinh, thượng điện có kết cấu kiểu dáng đơn giản vì chồng giường nhưng toàn bộ vì làm bằng gỗ lim bền chắc. Hiện nay chùa còn bảo lưu bộ sưu tập di vật khá phong phú, trong đó có nhiều di vật có giá trị đặc sắc về nghệ thuật như tấm bia hậu Phật có niên đại Dương Hoà 2 (1636), hai pho tượng phỗng đá mang phong cách thế kỷ thứ 18, Một quả chuông đồng mang niên hiệu Chính Hoà 16 (1665), bộ tượng tròn gồm 46 pho tượng thuộc nghệ thuật thế kỷ thứ 18 -19, hai hương án thiếp vàng chạm khắc hình tứ quí, tứ linh, một đôi nghê và hai hạc thờ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17, cùng nhiều di vật khác như bát hương đồng, hoành phi, cuốn thư …

Quả là chùa Bà Già là một vốn cổ quí giá cần được trân trọng và bảo tồn. Nhằm tôn vinh những giá trị văn hoá cũng như tín ngưỡng sâu sắc mà chùa Bà Già để lại cho đến ngày nay, các nhà quản lý văn hóa đã công nhận và xếp bằng Di tích lịch sử văn hoá cho chùa từ năm 1996. Với hệ thống giáo lý khuyến thiện trừ ác, chùa là trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần của một cộng đồng dân cư, một địa chỉ văn hoá khá hấp dẫn về nội dung lịch sử và vẻ đẹp cổ kính thâm nghiêm với cái tên khá độc đáo – chùa Bà Già, góp vào nền văn hoá ngàn năm Thăng Long- Hà Nội.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , ,

CHÙA BÀ NGÔ

CHÙA BÀ NGÔ

Theo cuốn Thăng Long cổ tích khảo thì chùa được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông (1127 – 1128). Cũng theo sách này, vào thời Lê, có một người con gái đẹp lấy chồng là một nhà buôn người Hoa giàu có, bà đã bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi chùa này to đẹp hơn chùa cũ, do đó mới có tên Bà Ngô (Ngô Khách). Chùa được sửa chữa và làm mới qua nhiều năm như 1863, 1864, 1865…

Vào năm Ất Hợi (đời vua Bảo Đại, tức 1934), chùa được sửa chữa lớn nên đã có câu đối (tạm dịch): “Không nhớ tháng Bà Ngô sửa chữa, Chỉ biết năm Bảo Đại khánh thành”.

Sự tích kể rằng: có một lần Lê Thánh Tông thăm chùa, thấy trên gác chuông có bóng người đẹp ngâm 2 câu thơ:

Ở đây mến cảnh mến thầy

Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người.

Cũng có thuyết nói rằng nhà vua thấy một thiếu nữ xinh tươi cầm một cành mẫu đơn ngâm mấy câu như sau:

Bà Ngô Phong cảnh xinh thay

Đố ai cắt mối sầu này cho xong

Bao giờ về tới ngự cung

Thì ta sẽ dải tấm lòng cho hay

Vua bèn gặp hỏi chuyện và muốn cùng nàng xướng họa. Nàng nhường vua làm trước, lấy đề bằng 2 câu thơ nàng vừa ngâm. Vua làm bài thơ Đường Luật 8 câu trong đó có 2 câu:

Chày kình mấy khắc tan niềm tục

Hồn bướm năm canh lẩn sự đời

Nàng xin phép sửa lại là:

Gió xuân đưa kệ tan niềm tục

Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời

Vua rất phục, mời nàng lên kiệu về cung, nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng biến mất. Vua cho là tiên giáng trần, dựng lầu Vọng Tiên ở đó để tưởng nhớ. Lầu Vọng Tiên bị dỡ khi phá thành Thăng Long xây lại và được chuyển về số 120B phố Hàng Bông thành đền Vọng Tiên.

Một đêm nhà vua nằm mơ thấy Tiên hiện tới tự tình và nói ở nơi kinh thành lâu nay thường xảy ra tai dịch là bởi có con Thạch tinh ở dưới cái ao ngay trước quán , đã hóa ra một con gà bay đi tác quái khắp Kinh thành, phải kịp trừ ngay mới khỏi sinh tra hậu họa lớn.

Khi tỉnh dậy, nhà vua cho đào ngay ở giữa ao trước quán sâu tới 3 thước, đất đỏ như máu, thấy một một hòn đá, bèn đập vỡ tan, vứt ra ngoài sông rồi lấp phẳng ao đi. Từ đó kinh thành rất yên ổn

Tam quan của chùa là gác chuông 2 tầng, 8 mái với 8 góc đao cong. Một quả chuông đồng đúc năm Canh Dần Thành Thái thứ 2 (1887) được treo ở giữa tam quan có dòng chữ Ngọc Hồ tự chung. Phật điện gồm tiền đường và hậu cung làm theo kiểu chữ Đinh. Hiên trong tiền đường dạng vòm cuốn mở rộng bằng một vì vỏ cua, là một kiểu kiến trúc ít có ở miền Bắc mà chỉ thấy ở Hội An, Huế với 2 đầu làm theo kiểu nhà kèn. Hậu cung 4 gian có nhiều của võng. Nhà Tổ, ngoài 2 ban thờ các sư tổ Bồ Đề đạt ma, các sư tổ của chùa đã viên tịch, còn có bàn thờ đức Văn Xương

Điện Mẫu thờ các Mẫu, Ngọc Hoàng và vua Lê Thánh Tông ngồi trong ngai rồng. Hai bên thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo cùng hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Tượng trong chùa hiện có 35 pho được sắp xếp dọc Phật điện. Ngoài những pho như Tam thế, A di Đà tam tôn, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, Ngọc hoàng Thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, còn có 10 vị Diêm Vương và tượng Bà Ngô trang phục gần như tượng Mẫu. Tượng Tổ mang nhiều nét chân dung của sư nữ…

Đặc biệt, trước hai bên cổng chính của chùa là một câu đối chữ Nôm, điều rất hiếm gặp tại các chùa ở Hà Nội.

Chùa Bà Ngô được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá năm 1993.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TÒA HÀ NỘI

nhà thờ chánh tòa hà nội

Nhà thờ Lớn Hà Nội hay Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, là một nhà thờ cổ tại Hà Nội. Nơi đây thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân Hà Nội thuộc Tổng giáo phận Hà Nội.

Nguyên thủy, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Thánh Giuse (Saint Joseph) do vào năm 1678, Giáo hoàng Innocentius XI tôn phong Thánh Joseph (cha của nuôi của Chúa Jesus) làm Thánh Bảo trợ nước Việt Nam và các nước lân cận. Chính vì vậy, ngôi thánh đường lớn nhất ở Hà Nội được tôn phong là “Nhà thờ lớn kính Thánh Giuse”. Lễ khánh thành được tổ chức đúng vào lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi (1887).

Nhà thờ tọa lạc tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nằm trên một khu đất rộng, liền kề với Tòa Tổng giám mục Hà Nội, Đại chủng viện Hà Nội, Dòng mến thánh giá Hà Nội.

Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothique trung cổ Âu châu, rất thịnh hành trong thế kỷ XII và thời Phục hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà Thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời. Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.

Phía sảnh trong nhà thờ, có một cửa đi lớn, hai cửa nhỏ hai bên tháp. Các cửa đi và toàn bộ các cửa sổ đều cuốn nhọn theo nghệ thuật Gothique, kết hợp với các cửa cuốn nhọn là những bức tranh Thánh bằng kính màu rất đẹp và hài hòa tạo ra nguồn ánh sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Khu cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống, chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh vi độc đáo. Ở tòa gian chính có tượng thánh Giuse bằng đất nung cao hơn 2m.

Nhà thờ còn có một bộ chuông Tây, gồm bốn quả chuông nhỏ và một quả chuông boòng lớn, trị giá 20.000 franc Pháp thời đó. Đặc biệt là chiếc đồng hồ lớn gắn giữa mặt tiền nhà thờ. Đồng hồ có báo khắc, báo giờ, hệ thống chuông báo được liên kết với 5 quả chuông treo trên hai tháp.

Trung tâm quảng trường phía trước nhà thờ có đài Đức Mẹ bằng kim loại, xung quanh nhà thờ có đường kiệu, bồn hoa, phía sau có hang đá. Hiện nay toàn bộ không gian và cảnh quan nhà thờ bị chen lấn bởi sự phát triển của đô thị, mất đi sự tương xứng với quy mô đồ sộ của nhà thờ.

Ngày thường, nhà thờ có 2 thánh lễ, ngày Chủ nhật có 7 thánh lễ. Ngoài ra, nhà thờ còn tổ chức lễ rước thánh Quan thày của địa phận Hà Nội là Thánh Giuse vào ngày 19 tháng 3 hàng năm.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

*Nhà Thờ Hà Dừa

*Nhà Thờ Cây Vông

*Nhà Thờ Trung lao

*Nhà Thờ Cù Lao Giêng

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Ba Chuông

*Nhà Thờ Cầu Kho

 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,