RSS

Tag Archives: huế

26 NHÀ THỜ CHÍNH TÒA GIÁO PHẬN CÔNG GIÁO VN

 
 

Nhãn: , , , , , ,

LĂNG KHẢI ĐỊNH ( ỨNG LĂNG )

LĂNG KHẢI ĐỊNH

Vua khải Định tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo , sinh ngày 8-10-1885 ( 1/9 Ất dậu ) là con trai trưởng của vua Đồng Khánh.Sau khi vua Duy tân bị đày đi Phi Châu , người Pháp đưa Bửu Đảo lên ngôi vua ở tuổi 31 , trở thành vị vua thứ 12 của triều Nguyễn , lấy niên hiệu Khải Định.

Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế.

Từ khi lên ngôi , vua Khải Định dành nhiều công sức để lo việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng. Mà quên đi trách nhiệm của vị Thiên tử , giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của thực dân pháp , chấn hưng kinh tế nước nhà . Khải Định trị vì được 9 năm đến năm 1925 thì băng hà , thọ 40 tuổi . Vua Khải Định chỉ có một người con là vua Bảo Đại .

Để xây dựng sinh phần cho mình, Khải Định đã tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý cuối cùng đã chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Ở vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.

Lăng khởi công ngày 4 tháng 9 năm 1920 do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy và kéo dài suốt 11 năm mới hoàn tất. Tham gia xây dựng lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng… Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động này của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt

So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn hơn: 117 m × 48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise…, cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu… để kiến thiết công trình.

Về tổng thể, lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao có 127 bậc cấp. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… đã để lại dấu ấn trên những công trình

Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông – Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định.

Vào lăng phải vượt qua 37 bậc cấp hai bên thành đắp rồng rất lớn , trên sân có hai dãy Tả- Hữu tong tự , ở hai bên xây kiểu chồng diêm hai lớp , tám mái , nhưng các vì kèo được làm bằng xi măng cốt thép . Vượt 29 bậc nữa đến bái Đình ( sân chầu ) , giữa là nhà bia xây kiểu bát giác , chất liệu bê tông cốt thép , phong cách cổ kim , trong đặt bia đá . Hai bên sân , mổi bên có hai hàng tượng hướng mặt vào giữa sân. Bên những bức tượng với hình dáng giống như tượng ở các lăng khác , có thêm 6 cặp tượng lính túc vệ được đặt đối xứng . Các tượng này làm bằng đá hiếm và đều có khí sắc . hai cột trụ biểu cao to , rất uy nghi . Trên cùng là điện thờ , từ bái Đình lên khu điện thờ phải qua 15 bậc nửa . Điện khải Thành là phòng chính của cung Thiên Định , liên hoàn với nhau , toàn bộ nội thất ba phòng giữa ở cung thiên Định đều trang trí phù điêu ghép bằng gốm, sứ hay thủy tinh màu , trên trần là bức tranh cửu long ẩn hiện trong mây , trên các bức tường đều trang trí tranh ghép kính sứ , dưới nền lát gạch men hoa , tạo nên một không gian nghệ thuật .

Toàn bộ trang trí bên trong cung Thiên Định không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, nghệ thuật mà còn đề cập đến vấn đề nhận thức, chủ đề tư tưởng của công trình và ý muốn của nhà vua. Bên cạnh các đồ án trang trí rút từ các điển tích Nho giáo và cuộc sống của chốn cung đình, còn có những đồ án trang trí của Lão Giáo và đặc biệt là hàng trăm chữ Vạn – một biểu trưng của nhà Phật được đắp bằng thủy tinh xanh trên tường hậu tẩm. Phải chăng đó là sự thể hiện “Tam Giáo đồng hành” trong tư tưởng của vua quan và Nho sĩ đương thời? Phải chăng nhà vua cũng mong muốn được thư nhàn lúc về già và được nhập Niết Bàn, được siêu thoát sau khi băng hà ? Hay đó là sự bế tắc về tư tưởng của Khải Định nói riêng và tầng lớp quan lại thuở đó. Tất cả là những gợi mở đầy thú vị để du khách chiêm nghiệm mỗi khi tham quan công trình này.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Nhờ những đóng góp của ông và bao nghệ nhân dân gian tài hoa của nước Việt, lăng Khải Định đã trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.

Cho dù bị lên án dưới nhiều góc độ khác nhau, lăng Khải Định đích thực là một công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế, xứng đáng với đôi câu đối đề trước Tả Trực Phòng trong lăng:

“Tứ diện hiến kỳ quan, phong cảnh biệt khai vũ trụ.

Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư.

(Bốn mặt đều là kỳ quan, phong cảnh mở ra một vũ trụ biệt lập.

Muôn năm hun đúc nên vượng khí, núi sông giúp đỡ mãi hoài).”

Phòng sau của điện Khải Thành là Chính Tẩm . Một cái bửu tán mềm mại như bay trong gió , nhưng ít ai biết được rằng nó được làm bằng bê tông cốt thép chứ không phải là nhung lụa . Dưới bửu tán là tượng vua Khải Định bằng đồng kích thước bằng người thật , đúc tại Pháp năm 1920 . Tượng do 2 người Pháp là P.Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua. . Trong cùng là khám bài thờ đặt bài vị của ông .

Lăng Khải Định là một công trình kiến trúc nghệ thuật khác hẳn với phong cách lăng tẩm của các vua triều Nguyễn trước đó . Đây là một công trình có giá trị lịch sử -kiến trúc- nghệ thuật ở giai đoạn đầu thế kỷ 20.

Trang Di Sản Huế

 

 

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CHÙA ƯU ĐÀM

Chùa Ưu Đàm (Điểm): Nơi bảo lưu những pháp bảo quý

uu 1

Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km về hướng Bắc, dọc theo con đường quốc lộ đến cầu Mỹ Chánh rồi rẽ theo đường quốc lộ 49B về chưa được 5km thì đến chùa Ưu Đàm (Điềm). Tên Ưu Đàm xuất phát từ một loài hoa Ưu Đàm bát la (Udumbara) một loài hoa quý hiếm, tương truyền 3000 năm mới xuất hiện một lần, hoa xuất hiện thì kim luân vương xuất hiện, Phật xuất thế, các bô lão thủa ấy lấy đó đặt tên chùa và tên làng là Ưu Đàm. Chùa toạ lạc trên một khu “gò nổi” thuộc Giáp Tư thôn Ưu Điềm xã Phong Hoà, huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Chùa quay mặc về hướng chính Nam, trước mặc lấy cánh đồng ruộng lúa làm tiền án, sau lưng có con sông Ô Lâu huyền thoại ôm lấy làm hậu chẩm. Chùa có từ lầu đời. Theo dân làng kể lại thì vào khoảng thế kỷ thứ 16, khi chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp, để bình định và vỗ an dân chúng, hầu hết các làng xã đồng loạt xây chùa dựng tượng để con dân sinh hoạt tín ngưỡng, ổn định tinh thần mà chăm lo làm ăn, chùa Ưu Đàm cũng ra đời trong thời điểm đó.

Nhưng theo sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An hiệu đính năm 1555 trong chương Phong Tục có nhắc đến chùa Ưu Đàm một câu rằng “Am Ưu Đàm nở nhiều hoa Bát la” thì chắc chắn chùa nầy phải có trước thời các chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp.

Trải qua thời gian chiến tranh, chùa được tu sửa nhiều lần. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí mục chùa quán thì đến năm Minh Mạng thứ 2, Tân Tỵ (1821) chùa được nhà vua ban chiếu, cấp bổng lộc để trùng tu. Năm 1954 chùa lại bị bom đạn làm hư hại và xuống cấp, con dân trong làng đã góp công góp của xây dựng lại bằng bê tông cốt thép theo mô hình kiến trúc kiểu chữ Công gồm tiền đường, chánh điện, và hậu liêu.

Trong những năm trở lại đây, từ năm 1995 cho đến nay, mặc dầu chùa không đại trùng tu, nhưng đã chỉnh trang, sửa chữa cũng như đã làm mới rất nhiều hạng mục. Những công trình có giá trị như Tiền đường, chánh điện, cổng tam quan, Quan Âm các, Đoàn quán Gia đình Phật tử, nhà ở…tất cả đã trở thành một hệ thống kiến trúc kiên cố và khang trang hơn rất nhiều.

Hiện tại chùa vẫn bảo lưu được một số cổ vật, pháp bảo cũng như những di chỉ xưa quý rất có giá trị văn hoá và khảo cổ như bộ tượng Bồ tát Di Lặc và Quán Âm được nắn bằng đất sét nhồi trấu, nồng tre sơn thếp vàng rất đẹp. Đáng chú ý hơn hết là di chỉ Chăm-pa gồm một tượng nữ thần XiKa, bức phù điều vũ nữ cũng như trụ đá Linga… đã gây được sự chú ý và quan tâm của nhiều ban ngành của BTS cũng như của chính quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế. Để bảo quản tốt những di vật nầy, năm 1995 Ban Hộ tự đã cho quy tụ, và xây dựng tôn trí tượng và các phù điêu, cổ vật trên một ví trí khu đất 50m2 sát bên cạnh chùa, dân làng gọi đó là Am Bà Phật Lồi. Hằng năm, có các đoàn khảo cổ từ cấp trung ương đến cấp tỉnh cũng như các giáo sư tiến sĩ nước ngoài đến tìm hiểu khảo sát.

Tất cả những cổ vật, pháp bảo xưa quý trên của chùa hiện vẫn còn rất nguyên trạng và được bảo quản tốt. Đáng tiếc, tượng nữ thần XiKa đã bị biến dạng qua nhiều “biến cố”. Nguyên tượng được tạc bằng sa thạch, do ý thức bảo quản chưa tốt nên người ta đã cho sơn son thếp vàng vì vậy từ những năm 1975 đến 1980 những “đạo tặc” thiếu kiến thức tưởng là bằng vàng thật nên đã đến cưa tay, cưa đầu. May thay, tượng bằng đá nên đám ăn cắp đã bỏ lại, dân làng thỉnh về hàn lại. Mặc dầu vậy, giá trị nguyên bản của pho tượng cũng đã phần nào biến dạng.

Ngoài tên chữ của chùa là Ưu Đàm, chùa còn có tên dân gian là chùa Bà Lồi, hay chùa Lồi. Giải thích về những tên dân gian nầy các truyền thuyết dân làng kể lại đều có nguồn gốc từ một sự tích của pho tượng Bà Lồi, tức tượng nữ thần XiKa: xuất phát từ câu chuyện tượng Bà Lồi nên chùa còn được dân gian gọi là chùa Bà Lồi, hàng năn vào mùa lũ lụt, con dân trong làng đều tập trung lên chùa để tránh lụt, họ phát hiện chùa chưa hề bị nước ngập và hình như nước càng lên thì chùa cũng nổi theo, nên từ đó chùa còn được gọi là chùa Lồi…

Chùa Ưu Đàm ngày nay là một trong những ngôi chùa được xếp vào hạng di tích lịnh sử cấp tỉnh, đồng thời trên bảng đồ du lịch của sở du lịch TT-Huế đã có bảng chỉ đường cho khách tham quan tìm đến tham quan và tìm hiểu lịch sử ngôi chùa là nơi chốn linh thiêng nhất của là Ưu Điềm (Đàm).

Các bài đã đăng :

*Tây An – Châu Đốc

*Chùa Giác Lâm

*Chùa Bách Môn

*LInh Sơn Cổ Tự

*Đình Thần Thắng Tam

*Niết Bàn Tịnh Xá

*Chùa Diệu Đế

*Chùa Thiên Mụ

*Chùa Cổ Tôn Thạnh

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ PHỦ CAM – HUẾ

nt phủ cam 3

Nhà thờ chính tòa Phủ Cam tọa lạc trên đồi Phước Quả, thuộc địa phận phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Đây là một trong những giáo đường to lớn, nổi tiếng và lâu đời nhất tại Huế, thánh đường được xây theo lối kiến trúc hiện đại, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế.

Vào thế kỷ 17, dưới thời các chúa Nguyễn, “Phủ Cam” vốn là một phủ, là chỗ ở của các hoàng tử.

Thời gian đó, đa số các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Huế chỉ là những nhà nguyện đơn giản với sườn gỗ, mái tranh. Khi các vua chúa Việt Nam hạ lệnh cấm đạo gay gắt thì chúng bị triệt đi. Dưới thời Pháp thuộc, các nhà thờ được xây dựng trở lại và dần được nâng cấp thêm khang trang, bề thế. Nhà thờ Phủ Cam là một trường hợp như vậy.

Năm 1682, linh mục Langlois cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre tại xóm Đá, sát bờ sông An Cựu.

Hai năm sau, linh mục đã cho triệt giải nhà nguyện này và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng một nhà thờ to lớn hơn và kiên cố bằng đá, lúc đó nhà thờ quay về hướng Tây. Đó là một công trình to lớn, chắc chắn và được chúa Nguyễn Phúc Tần thán phục. Nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1698, ngôi nhà thờ ấy bị triệt giải hoàn toàn.[3]

Sau đó 2 thế kỷ, vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys (Đức Cha Lý) đã cho xây mới Nhà thờ Phủ Cam bằng gạch, mái lợp ngói khá đồ sộ ở vị trí cũ nhưng mặt quay về hướng Bắc. Công trình này do chính Giám mục thiết kế và giám sát thi công đã hoàn thành vào năm 1902.

Năm 1960, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận và Tổng giám mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long về nhận chức Tổng giám mục Huế, ông đã cho phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất Nhà thờ chính tòa mới với đồ án do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thực hiện.

Ðầu năm 1963, nhà thờ bắt đầu được khởi công xây dựng. Trong khi việc xây dựng đang tiến hành thì xảy ra cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại và Tổng giám mục Ngô Đình Thục lúc đó đang họp Công Đồng tại Roma, vì hoàn cảnh chính trị không trở về Việt Nam, việc xây dựng cũng bị chững lại.

Tuy việc xây dựng vẫn được tiến hành song tiến độ rất chậm chạp, tới năm 1967 nhà thờ mới lên được phần Cung thánh.

Trong sự kiện Tết Mậu Thân (1968), bom đạn đã làm hư hại phần lớn công trình kiến thiết nhà thờ và việc xây dựng đã gặp nhiều trở ngại mãi cho đến trước 1975 vẫn chưa hoàn thành.

Sau thống nhất đất nước, do hoàn cảnh, mọi công tác xây dựng đều tiến hành chậm chạp, và đến năm 1995, phần thân nhà thờ về cơ bản được hoàn thành.

Năm 1999, để chuẩn bị cho hai ngày 28 và 29 tháng 6 năm 2000, là ngày Tổng Giáo phận Huế Thánh Hiến Nhà thờ chính tòa Phủ Cam nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày thành lập Giáo Phận Huế (kể từ khi tách rời khỏi Giáo phận Đàng Trong), Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể hạ quyết tâm bằng đủ mọi cách phải hoàn thành các trang trí bên trong nhà thờ và hai tháp chuông trước tiền đường. Công trình xây cất đã hoàn tất vào tháng 5 năm 2000.

Như thế, trải qua 3 đời Giám mục – từ Tổng giám mục Ngô Đình Thục đến Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền và Tổng giám mục Nguyễn Như Thể – sau gần 40 năm xây dựng, nhà thờ chính tòa Phủ Cam mới hoàn thành với diện mạo như hiện nay.

Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá, đầu hướng về phía Nam đuôi hướng Bắc. Nhà thờ có kết cấu theo kỹ thuật xây dựng hiện đại nhưng phần trang trí vẫn theo nghệ thuật cổ điển của phương Tây. Các trụ đỡ được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Bốn góc mỗi góc có ba trụ đỡ vươn dần ra, tạo thành một không gian đủ rộng ôm kín Cung thánh và bàn thờ.

Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên bên trong lòng nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất.

Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.

Nhà tạm, được xây sát vào phần hậu thân nhà thờ, nằm gọn vào phần lõm phía sau và được đặt trên một bệ cao ngay chính giữa.

Bên trong nhà thờ, cánh trái là phần mộ Ðức cố Tổng giám mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền, cánh phải đối diện là bàn thờ thánh tử vì đạo Tống Viết Bường (người gốc Phủ Cam, mất năm 1833).

Phía trước nhà thờ Chính toà Phủ Cam có hai tượng đúc: bên phải là thánh Phêrô, bên trái thánh Phaolô cũng là những bổn mạng của giáo xứ Phủ Cam.

Nhìn tổng thể, nhà thờ Phủ Cam với đỉnh nhà thờ vươn thẳng lên trời trông vẫn thanh thoát nhẹ nhàng, mang tính nghệ thuật và tôn giáo.

Thuyngakhanhhoa sưu tầm

Các bài đã đăng :

*Nhà THờ Mằng Lăng

*Nhà THờ Hòa Hưng

*Nhà Thờ Chợ Quán

*Nhà Thờ Cửa Bắc

*Nhà Thờ Đá Phát Diệm

*GoThic Ngoài Đồng

*Nhà THờ Cam Ly

*Nhà Thờ Dòng CHúa Cứu Thế – Huế

*Nhà Thờ Tân Định

*Đức Mẹ Bãi Dâu

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

THÁNH ĐỊA LA VANG -QUẢNG TRỊ

La Vang là một thánh địa của người Công giáo Việt Nam, nằm ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Các tín hữu tin rằng Đức Mẹ Maria hiển linh ở khu vực này vào năm 1798 và một nhà thờ đã được dựng lên gần nơi 3 cây đa, nơi Đức Mẹ hiện ra và nay là nơi hành hương quan trọng của người tín hữu Công giáo Việt Nam. Thánh địa La Vang được Tòa thánh Vatican phong là Tiểu Vương Cung Thánh đường La Vang từ năm 1961

Theo một thuyết, dưới thời vua Tây Sơn Quang Toản có chính sách chống đạo Kitô giáo, cho nên nhiều người theo Công giáo ở vùng Quảng Trị để tránh sự trừng phạt của nhà Tây Sơn đã chạy lên vùng đất này. Do đây là vùng đất đồi núi cho nên để gọi nhau được họ phải “la” lớn mà “la” lớn thì “vang”. Cái tên La Vang ra đời.

Một thuyết tương tự về tiếng “la vang” đã từ đặc tính của âm thanh chuyển thành danh từ riêng, nói rằng nơi chốn rừng rú La Vang vốn xưa kia nhiều cọp beo hại người. Do đó xưa kia những người đi rừng đi rú, ở lại đêm thường chia nhau thức canh, thấy động thì “la vang” lên để mọi người đến tiếp cứu.

Một cách giải thích khác là khi những người theo đạo Công giáo chạy lên vùng đất này thì bị dịch bệnh, lúc bấy giờ Đức Mẹ đã hiện lên và chỉ dẫn cho họ đi tìm một loại lá gọi là lá vằng – uống vào sẽ chữa khỏi bệnh. Viết “lá vằng” không dấu thành La Vang. Một thuyết khác cho là địa danh “phường Lá Vắng” đã có từ trước đó, thuộc làng Cổ Vưu, nằm về phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, 4 cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Đô Huế, 58 km về phía Bắc [.

Bs.Ts. Nguyễn Thị Thanh, vốn xuất thân từ La Vang, trong khi kiểm nghiệm thực tiễn tiếng la to giữa vách núi của khu vực này đã suy đoán, tiếng “la” to của người sẽ được các vách núi dội vọng lại thành tiếng “vang” hùng vĩ Đi xa hơn trong suy luận, Nguyễn Thị Thanh còn cho rằng ý nghĩa tiếng “la vang” ở đây là tiếng trong âm thầm nhiệm màu của đức tin các thánh tử đạo lên với Thiên Chúa trên trời, là tiếng la vang âm thầm trong nguyện cầu của những người đói khát ốm đau khốn khổ đã thấu vọng đến tai Nữ Vương Thiên Đàng, là tiếng Đức Mẹ trả lời những cầu xin của chúng dân, và cũng là tiếng dội trở lại của Nữ Vương Thiên Đàng trong lòng mỗi người khi đến thánh địa.

Theo Tư liệu Tòa Tổng Giám Mục Huế – 1998, dưới triều đại vua Cảnh Thịnh (lên ngôi năm 1792), với chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn. Họ đã đến lánh nạn tại núi rừng La Vang. Nơi rừng thiêng nước độc, hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu ăn, bệnh tật, sợ hãi quan quân, sợ thú dữ, các tín hữu chỉ biết một lòng tin cậy phó thác vào Chúa và Đức Mẹ. Họ thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.

Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặt áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Họ nhận ra ngay Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân vui lòng chịu khó. Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.

Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ nơi giáo dân đang cầu nguyện. Sau đó, Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn.

Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi. Và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Mẹ đều được ơn theo ý nguyện. Đức Mẹ La Vang thường được biểu tượng bằng một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam.

Nhà thờ La Vang, hình chụp năm 1967, trước khi bị tàn phá

Lịch sử Đức Mẹ hiện ra và lập nhà thờ không rõ ràng vì đã quá lâu và không được biên chép từ thời đó, hầu hết chỉ có lời truyền khẩu và nhiều giả thuyết khác nhau. Có giả thuyết là nhà thờ La Vang vốn được xây trên nền của một mái chùa Phật giáo hoặc là một miếu thờ Bà (có thể là Phật bà quan âm hoặc bà chúa Liễu Hạnh) cho người đi rừng, nguyên là một mái nhà tranh dưới gốc cây đa và rào sơ bốn mặt, sau biến cố Mẹ Maria hiện ra năm 1789 được nhường cho giáo dân để xây một nơi thờ Mẹ Maria Ý kiến khác cho rằng La Vang trước đó chỉ là một vùng hoang vắng, vùng rừng núi hẻo lánh.

Theo giám mục Hồ Ngọc Cẩn kể lại lời truyền khẩu là năm 1885 nhà thờ bị đốt, và một nhóm giáo dân La Vang dựng lại nhà thờ Đức Mẹ trên nền cũ Cha sở quản hạt Quảng Trị Patinier Kinh trong báo cáo năm 1894 có viết: “Năm 1885 ngôi nhà thờ ở đây cũng như những nhà thờ khác trong hạt, không thoát khỏi thảm họa… Khi hòa bình vừa vãn hồi, con đã cấp tốc dựng lại ngôi nhà thờ nhỏ bé, tạm bợ để chờ nguồn kinh phí cũng như để chờ cho tình hình bớt nhiễu nhương” Năm 1886 (có bản ghi là năm 1894) Đức Cha Caspar (Lộc) cho xây lại nơi đây đền thờ ngói, vì xây trên một vùng núi vận chuyển vật liệu khó khăn nên 15 năm mới hoàn thành. Năm 1901, đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày 08 tháng 08 để mừng khánh thành nhà thờ.

Năm 1924, nhận thấy ngôi nhà thờ ngói quá chật hẹp, lại đã xuống cấp cho nên một đền thánh La Vang theo đồ án của kiến trúc sư Carpentier được dựng lên thay thế và được khánh thành vào ngày 20 tháng 08 năm 1928, nhân dịp Đại hội La Vang 9. Thánh đường này được trùng tu năm 1959. Trong phiên họp ngày 13 tháng 04 năm 1961 Hội Đồng Giám Mục Miền Nam đã đồng thanh quyết định La Vang là Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc. Trong chiến cuộc Mùa Hè 1972, bom đạn đã làm sập đổ hoàn toàn Vương Cung Thánh Đường, chỉ còn lại di tích tháp chuông loang lở. Từ năm 1995, tháp chuông và những công trình liên hệ như Nhà nguyện Đức Mẹ (một mái nhà tôn sau tháp cổ), Nhà nguyện Thánh Thể (xây từ năm 2002), Công trường Mân Côi, Lễ đài, Nhà hành hương (xây từ năm 2004), 3 cây đa (nơi Đức Mẹ hiện ra)… được tu sửa hay dựng mới [.

Năm 2008, Thánh địa được chính quyền tỉnh Quảng Trị cấp thêm 21 ha dất để “phục vụ hoạt động tín ngưỡng của giáo dânTheo Linh mục Giacôbê Lê Sĩ Hiền (Quản nhiệm Trung tâm Thánh mẫu La Vang), đây là đất xưa từng thuộc về nhà thờ (trước 1975 là 23 ha) nay được giao trả lại..

Theo truyền khẩu, bắt đầu từ 1864, đã có 30 giáo dân Cổ Vưu tổ chức hành hương La Vang và những cuộc hành hương như thế diễn ra hằng năm với số giáo dân tham dự càng lúc càng đông biến cuộc hành hương La Vang cấp giáo xứ (Cổ Vưu) thành giáo hạt (Dinh Cát)

Từ khi nhà thờ ngói được dựng, hàng năm vào ngày 15 tháng 8 tại La Vang thường tổ chức lễ hội hành hương, gọi là “Kiệu” (cứ 3 năm lại có một “Kiệu” lớn, gọi là “Đại hội La Vang”). Người hành hương về nơi này có thể mua được lá cây vằng, một loại lá thường dùng sắc thuốc hoặc uống mát, lành và có khả năng kháng khuẩn, rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh nở. Không những thế, khách thập phương đến đây là để hành hương và cầu xin những ơn lành mà người Công giáo tin rằng Đức Bà sẽ ban ơn như ý.

Sau một thời gian gián đoạn, từ năm 1990, chính quyền địa phương đã cho phép hành lễ tại đây trở lại. La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt Nam, hàng năm có hơn nửa triệu người về hành hương, như năm 2008 [10]. Đại hội La Vang 29 sẽ vào năm 2011 (cứ 3 năm hành hương có 1 Đại hội).

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

*Nhà Thờ Domaine De Marie

*Thánh Địa La Vang

*Nhà Thờ Chánh Tòa  Đà Lạt

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

 

Nhãn: , , , , , , ,

CHÙA THÁNH DUYÊN – HUẾ

duyên 1

Núi Túy Vân nằm phía nam kinh thành Huế khoảng hơn 40 Km , có thể đến Túy Vân theo hướng quốc lộ I qua cầu Trừng Hà , cũng có thể đi theo ven bờ biễn hướng Thuận An Hòa Duân Vinh Hiền hay qua phà ở Đá Bạc , một cây cầu đang bắc ngang cửa Tư Hiền nối đất liền với hải đảo này ,

Chùa Thánh Duyên , một ngôi cổ tự nằm trên đỉnh Túy Vân có cổng tam quan quay về hướng đông nam , phía trước là biển đông , chếch bên trái là cửa Tư Hiền , phía tây là núi Bạch Mã , Trường Sơn dưới chân bao quanh là một vùng đầm phá Cầu Hai – Đá Bạc , phía chính đông là núi Linh Thái

Trong sách Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu trang 205 chép chuyện : “ Vua Minh Mạng ngự chơi cửa Tư Dung ( một tên gọi cửa Tư Hiền ) , lên núi Linh Thái thấy tháp đá cột trụ khắc chữ Mọi . Thông ngôn ở Kinh đều nói rằng “ không phải chữ Xiêm , Lào không thể dịch được ” Vua sắc cho tỉnh Bình Thuận phái một người biết chữ Chiêm Thành tới Kinh . Đến nơi người ấy nói rằng : “ Chữ Thổ có 2 thể : ChiêmThành và Bà Ni , đây là thể chữ Ba Ni , không phải chữ Chiêm Thành nên không dich ra được

Vua bèn sai in ra một tờ khiến hỏi khắp cùng thiên hạ có ai biết nghĩa dịch ra đem tâu cho vua ” cho đến nay câu hỏi đó vẫn còn là điều bí ẩn , cột đá kia còn hay mất cũng không người nào biết

Trong một chuyến tuần du khác Hoàng đế phán rằng : “ Trên đỉnh Linh Thái còn lại dấu vết của một tòa tháp cổ , dưới có tượng đá ,voi đá bày la liệt , lâu ngày nghiêng đổ , cỏ rêu phủ  lấp , tuy việc đã lâu , dấu đã mất , không thể tìm kiếm được , nhưng mà do miếu che chở , cũng hầu có đợi người sửa sang , vây nên tu bổ lại tất cả cho trọn vẹn nhân quả tốt các ngươi phải kính tuân đấy

Năm 1836 tức vào năm Minh Mạng thứ 17 vua lại ra chỉ dụ rằng :

“ Núi Thúy Hoa và núi Linh Thái ở cửa biển Tư Hiền khói biếc bao quanh , mây xanh hợp lại , là chỗ khí thiêng chung đúc. Hoàng Tổ Hiển  Tôn Hiếu Minh Hoàng Đế vì dân cầu phúc từng dựng chùa cầu phật ở hai núi ấy , chiếm riêng một bầu trời tốt đẹp trước hân binh biến cõi phạt thành ra gò cồn . Hoàng Khảo Thế Tổ Cao Hoàng Đế , dựng lại cơ đồ nhà Hạ , làm nối lại vận mệnh nhà Chu , lúc bửa đầu đang vội sửa sang việc nước chưa kịp nghĩ tới . Trẫm kính nối ngôi cao , noi theo phép lớn , trên nhờ trời giúp, tôn miếu để phúc cho trong lặng ngoài yên , nước nhà nhàn rỗi , trước nhân đi tuần chơi cõi biển , nhớ mến dấu cũ , để mắt vào chổ nền cũ móng xưa , sực nỗi lòng muốn xây đắp vàng son rực rỡ. Nay chuẩn cho dựng lên ở núi Thúy Hoa : Một chùa , một gác , một tháp . Chùa tên gọi là chùa Thánh Duyên , gác gọi là gác Đại Từ , tháp gọi là tháp Điều Ngự và dựng một chùa một lầu ở núi Linh Thái , chùa gọi là chùa Trấn Hải , lầu gọi là lầu Vọng Hải để cho tượng phật có vẻ trang nghiêm cùng với núi cao biễn trong bền vững lâu dài mãi mãi ” chùa Thánh Duyên được đại trùng tu va gần như xây mới theo chỉ dụ đó

Chùa Thánh Duyên , trước là một ngôi cổ tự do chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiễn Tông Hiếu Minh Hoàng Đế năm 1691) lập nên , đến năm 1836 vua Minh Mạng cho xây mới toàn bộ ngôi cổ tự trên nền móng cũ và đặt tên cho ngôi chùa 3 gian 2 chái này là Thánh Duyên , về sau xây thêm bên trái điện thờ một tăng xá để làm chổ cho sư trù trì và một nhà bếp , dần theo những biến đổi thăng trầm với thời gian , mưa nắng bãotáp , mối mọt trong gần 200 năm qua cho dù có khi nhà chùa và đạo hữu sửa sang lại đôi chút nhưng cũng vẫn không chống cự lại được sự tàn phá gậm nhấm của thời gian và thiên nhiên , hiện nay ngôi chùa đã hư hỏng trầm trọng vừa được trùng tu một phần nhỏ như : cổng tam quan và chính điện theo kiểu mới chỉ còn lại tháp Điều Ngự vẫn còn giử nguyên dáng vẻ  của ngày trước

duyên 2

Trong chùa Thánh Duyên hiên tại còn lưu giữ một bộ sưu tập rất quí đó là tượng 18 vi La Hán được đúc bằng dồng với những nét diêu khác tuyệt vời thể hiên nghê thuật đúc tượng vào thế kỷ XiX

Tháp Diều ngự tuy tàn tạ nhưng cái hồn của ngôi tháp thì vẫn còn phảng phất đâu đó trong không khí tĩnh  mịch , với gióbiển  thổi rít xuyên qua những nhánh thông già hàng trăm tuổi trên đỉnh núi Túy Vân nằm dưới chân ngôi tháp ,  Ở đó bản  giao hưỡng giữa hiện tại và quá khứ được cất lên bất tận , tháp Điều Ngự nằm phía sau chánh điện , toa lạc trên một gò đất cao , tháp có lối kiến trúc đế hình vuông với diện tích khoảng 16 đến 18m2 gồm có 3 tầng , cao 3 ( 5 ) trượng 6 thước 9 tất , mỗi tầng đều có lan can , và 3 cửa vòm , điện thờ Phật ở tầng dưới ,có trụ đồng trên nóc , lắp bánh xe pháp luân có đeo chuông nhỏ , gió thổi chuông đồng vang rất xa , rất hay ở chân núi , tíếng reo cũng còn nghe thấy , nay thì bánh xe pháp luân rơi đâu mất lúc nào cũng không ai biết đến , điện thờ Phật quay mặt về hướng tây , Vua Minh Mạng đã cho dựng bia ở trong khuôn viên chùa , , trong dó có bài Đăng Điều Ngự tháp là hay nhất

Nguy nga bảo tháp cứ sơn điên

Thập cấp nhi đăng khởi quyện yên

Tứ diện đài quan lâm đại địa

Tam tăng cao súc lập trung thiên

Vĩnh lưu Điều Ngự thiên thu tại

Thường chuyễn Pháp Luân vạn cổ truyền

Nội điễn vi am thông Diệu Đế

Thiện tâm sung khuếch ngộ chân thuyên

Còn văn bia của vua Thiệu Trị dựng phía tả cổng chùa , có khắc bài thơ “ Vân Sơn thắng tích ” , bia cao 1m2 , rộng 0.8m , dày 0,16m , bia ghi tháng 7 nhuận năm Thiệu Trị thứ 3 như sau :

Tích thúy toàn ngoan bất kế xuân

Dầu long ẩn phục liệt lân tuân

Huệ phong chung độ u lâm hưởng

Không cốc hương la pháp hải tân

Thụ luyến từ vân phù bích lạc

Kính xuyên tăng kịch tạp hồng trần

Thánh duyên phổ tế hàm quy thiện

Phật tích tăng quan tự hữu nhân

(Tạm dịch )

Vòi vọi non xanh ước mấy xuân

Rắn rồng nương náu chốn hang thần

Gác thiền chuông điểm rừng sau dội

Cõi diệu hương đưa biển pháp nhuần

Cây vướng mây lành lên thượng giới

Ðường xuyên guốc sãi lấm hồng trần

Duyên vua rưới khắp đời quy thiện

Cảnh Phật huy hoàng hẳn có nhân

Bia của vua Thiệu Trị dựng phía tả cổng chùa , có khắc bài thơ “ Vân Sơn thắng tích ” , bia cao 1m2 , rộng 0.8m , dày 0,16m , bia ghi tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 3 , còn trên núi Linh Thái, năm Đinh mùi Thái Tông thứ 19 sai thủ hạ Trần Đinh Ân lấy đất dựng chùa gọi là chùa Vinh Hòa , sau vua Minh Mạng mới cho tu bổ lại

Chùa Thánh Duyên được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ 9 trên 20 thắng tích của đất Thần Kinh Văn vật , leo lên trên đỉnh tháp để nhìn ngắm toàn cảnh không gian bên dưới là làng mạc , đầm phá , núi non , biển cả , thật đúng nơi đây là một danh thắng hiếm hoi của đất nước mến yêu

Nếu tìm một nơi để có thể nhìn thấy toàn cảnh của chùa Thánh Duyên , núi Túy Vân và toàn vùng đầm phá Cầu Hai – Hà Trung , cửa biển Tư Hiền thì không nơi đâu bằng đứng trên đồi vọng cảnh của đỉnh Bạch Mã hoặc là ngồi trên du thuyền hay đò ngang đi loanh quanh trên mặt nước sóng lăn tăn êm ả của dầm cầu Hai mỗi khi trời yên bể lặng nhất là lúc hoàng hôn vừa xuống hay là lúc ánh dương vứa ló dạng ở chân trời , sương mù mờ ảo cảnh vật, thỉnh thoảng có con cá nhảy ngược tung lên khỏi mặt nước thấp thoáng trong mơ hồ đâu đó khách tưởng như đang theo bước chân của Từ Thức lến chốn Bồng lai.

Các bài đã đăng :

Chùa Vạn Linh

*Đền Thờ Bà Chúa Ngọc

*Chùa Ông ( Quan Đế Miếu )

*Tây An – Châu Đốc

*Chùa Giác Lâm

*Chùa Bách Môn

*Chùa Tiêu Sơn

*Chùa Tảo Sách

*Chùa Chiêu Thiền

 

Nhãn: , , , , , , , , ,