RSS

Tag Archives: KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

CHÙA PHẬT QUANG

Chùa tọa lạc ở đường Võ Thị Sáu, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Điện thoại: 062.3823826.

Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Chùa đã trải qua 18 đời truyền thừa, đã được trùng tu nhiều lần. Chùa còn giữ được nhiều pho tượng và pháp khí cổ.

Từ năm 2000 đến năm 2005, thầy trụ trì Thích Huệ Tánh, đời thứ 44 phái thiền Lâm Tế đã tổ chức đại trùng tu chùa, đặt 15 vườn tượng Phật tích và nhiều cây kiểng ở sân chùa.

Ngôi chính điện hai tầng và hai lầu chuông, trống nổi bật với các mảng ghép sành sứ về nhiều đề tài trên các phù điêu, hoa văn, hàng cột …, đặc biệt là linh vật Rồng 5 móng được thể hiện trên các công trình ghép sành sứ từ nóc mái đến bao lam, cửa sổ, hàng cột … với 22 loại.

Thầy trụ trì cho biết hơn 48 tấn mảnh sành được chở từ miền Bắc vào, miền Nam ra, đã được nhóm thợ người Huế chủ lực lựa chọn sử dụng khoảng 2 tấn. Chính mảng ghép sành sứ mang tính mỹ thuật và kỹ thuật cao đã tôn ngôi chùa vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ kính theo phong cách kiến trúc Á Đông.

Chùa có hai điện Phật được bài trí trang nghiêm. Tầng trên là điện Phật thờ đức Phật Thích Ca, hai bên vách tường có bộ tượng phù điêu Thập Bát La Hán. Điện Phật tầng dưới thờ bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, hai vị Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí) và tượng Bồ tát Địa Tạng.

Chùa đang lưu giữ bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ có ghi đời vua Lê Thuần Tông (1699-1735). Đây là bộ kinh khắc gỗ đầy đủ với 60.000 chữ Hán khắc ngược cả hai mặt trên 118 tấm ván bằng gỗ thị, mỗi tấm dài 0,68m, rộng 0,26m, dày 0,03m, được nhà sư Thiện Huệ thực hiện suốt 28 năm, từ năm 1704 đến năm 1732, dưới sự chủ trì của Thiền sư Minh Dung và sự hỗ trợ của nhà sư Thiện Pháp và 59 nam nữ Phật tử.

Bộ kinh này đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam (Vietbooks) xác lập kỷ lục vào ngày 02-01-2006 và đã phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ đầy đủ và xưa nhất Việt Nam.

Chùa còn có hai kỷ lục khác, đó là quả chuông và cặp mõ gia trì đặt trong chính điện.

Quả chuông gia trì có đường kính 1,2m, cao 1m, nặng khoảng 400kg. Chuông do nhóm thợ người Quảng Nam thực hiện. Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 07-11-2006, trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Quả chuông gia trì lớn nhất Việt Nam trong Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần 6 chủ đề : Kỷ lục Phật giáo Việt Nam do Trung tâm phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức.

Cặp mõ gia trì ở điện Phật, mỗi chiếc cao 0,8m, ngang 0,92m, làm bằng gỗ mít lấy từ huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, do 3 người thợ ở Quảng Nam thực hiện trong 7 năm (1997-2004).

Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 23-10-2007, trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Mõ gia trì bằng gỗ lớn nhất Việt Nam trong Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần 10 chủ đề : Đêm hội tôn vinh kỷ lục Việt Nam tại Bình Thuân do Trung tâm phối hợp với tỉnh Bình Thuận tổ chức.

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Bình Thuận xưa nay.

Chùa Phật Quang ngày nay là một ngôi phạm vũ tráng lệ, đã được khánh thành vào ngày 05-3-2006 (nhằm ngày 06 tháng 2 năm Bính Tuất). Chùa được giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và các công ty du lịch trong nước và nước ngoài nên số du khách và Phật tử đến viếng chùa thật đông đảo mỗi ngày.


MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA VẠN ĐỨC

chùa vạn đưc tđ 2

Chùa Vạn Đức tọa lạc số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh. Chùa do HT.Thích Trí Tịnh, đời thứ 41 dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ, hiện là Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, khai sơn năm 1954.


Chùa Vạn Đức có nguồn gốc từ một ngôi nhà xưa do thí chủ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Sau khi tiếp nhận, Hòa thượng đã xây dựng lại thành chùa và đặt hiệu là “Vạn Đức tự”. Kể từ đó, chùa được mở rộng vào các năm 1964, 1989, 1993 và từ năm 2003 đến năm 2005, đại trùng tu toàn bộ ngôi chùa, trở nên khang trang như ngày nay.

chùa vạn đức 3

Chùa nằm trên khu đất rộng, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên. Kiến trúc chùa bao gồm cổng tam quan, chánh điện và đài Liên hoa. Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói lưu ly màu xanh, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình “lưỡng long chầu Pháp luân”. Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bon sai, tạo cảm giác mát mẻ và thanh tịnh. Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội bồ đề là một ao sen, giữa có đài Liên hoa vọt lên khỏi mặt nước, bên trong tôn trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Phía sau sân chùa là những hàng cau cảnh và những bụi trúc xanh um, trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động…

chùa vạn đức tđ

Chùa Vạn Đức xây bằng vật liệu vĩnh cửu với kỹ thuật hiện đại. Toàn thể ngôi chùa được đúc bằng bê-tông, tường gạch, móng cọc nhồi. Nền chùa và các bệ thờ đều dán đá granit màu xám. Tất cả các cửa và cầu thang đều làm bằng thép trắng. Hoa văn trang trí được đúc bằng xi-măng hoặc kết bằng các mảnh gạch men, vừa mang tính truyền thống nhưng lại tân kỳ. Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5m, được xem là ngôi chùa có chánh điện cao nhất hiện nay, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính. Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ “Phật”. Hai bên hông lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền. Bức phù điêu được đắp bằng xi-măng trên vách sau chánh điện, xung quanh có tạc hình các vị thần Hộ pháp. Tầng trệt là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ sư Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch màu trắng toát và linh vị Hòa thượng Thiện Quang (1895-1953), bổn sư của Hòa thượng viện chủ. Phía sau giảng đường là một bích họa vẽ Hòa thượng Trí Tịnh đang ngồi dịch kinh.

Thực hiện công trình độc đáo này, kiến trúc sư Đỗ Thành Phương phải mất thời gian khá dài để hoàn thành bản vẽ, đồng thời phải mất 2 năm với hơn 60 thợ xây mới thực hiện xong phần chánh điện. Có thể nói, chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại. Đặc biệt, ngôi chánh điện cao nhất nước đã được xác lập kỷ lục Phật giáo Việt Nam…

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 12, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA ÔNG

Chùa Ông.

Chùa Ông c thơ 1

Tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng, nhìn ra bến Ninh Kiều là Chùa Ông do người Hoa thuộc hai Phủ Quảng Châu, Triệu Khánh (Quảng Đông – Trung Quốc) góp công xây dựng vào những năm 1894 – 1896.

Hầu hết vật liệu xây dựng quan trọng liên quan đến diện mại kiến trúc đều đưa từ Quảng Đông sang. 107 năm trôi qua, Chùa Ông ở Cần Thơ vẫn trong tình trạng hoàn hảo từ hình dáng bên ngoài đến trạm trổ nội điện. Trong chùa, gian chánh điện thờ Quan Công, bên phải thờ Thổ Địa, Thiên Hậu Thánh Mẫu; bên trái thờ Đổng Vĩnh Trạng nguyên, Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài)… Hàng năm, cứ vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, các vị cao tuổi trong Ban trị sự chùa cùng đông đảo người Hoa ở địa phương tổ chức lễ vía Ông, còn gọi là lễ vía Quan Thánh Đế.

chùa ông c thơ

Chùa Ông được đồng bào người Hoa, người Kinh thường xuyên đến viếng. Ngày Tết là một sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo quan trọng, là những này lễ hội lớn nhất trong năm. Tùy theo điều kiện kinh tế mà trong những ngày này đồng bào Hoa mang đến chùa heo quay, heo sống, gà vịt, bánh trái, nhang đèn… Họ sửa sang trang hoàng lại chùa, tắm gội và ăn mặc thật đẹp đẽ cùng nhau đốt cho các vị thần những nén hương với tất cả sự trong sạch và tinh khiết của thể xác và tâm hồn. Thỉnh thoảng có những năm Ban quản trị còn tổ chức sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống như múa lân, rồng, sư tử, thi đấu võ thuật, biểu diễn nghệ thuật sân khấu Quảng Triều. Nhìn về mặt tôn giáo, tín ngưỡng của chùa Ông cũng như một số chùa Hoa khác ta thấy một đặc điểm đáng lưu ý là phần tín ngưỡng có vẻ nổi bật hơn tôn giáo.

Tất cả Chùa Ông do người Hoa cất ở Việt Nam đều không biệt lập trong khuôn viên rộng lớn (dù người Hoa đủ khả năng mua những sở đất lớn) mà luôn cất gần sát lộ, hài hòa với phố thị. Ngôi chùa rực rỡ, vui tươi và gần gũi với mọi người, như một biểu tượng của bình anh, may mắn, phát đạt. Chùa Ông ở Cần Thơ là một di tích lịch sử – văn hóa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia. Ngày nào cũng có người đến viếng Chùa Ông. Không kể các ngày lễ hội thường kỳ hàng năm qui tụ đông đảo nhân dân, hầu như ngày nào cũng có người đến viếng chùa. Chùa Ông có những ngày lễ sau: “Ngày vía” tức là ngày sinh của các vị thần được thờ.

– Quan Công: 13 tháng riêng âm lịch

– Thiên Hậu: 23 tháng 3 âm lịch

– Ông Bổn:15 tháng 3 âm lịch

Vào những ngày này người ta sắm sửa lễ vật đến cúng chùa tùy theo tính chất và tập tục của các thần mà lễ vật đang cúng không khác nhau.

– Quan Công: Cúng chay, lễ vật là hoa quả hương đèn

– Bà Thiên Hậu: Cúng heo quay sơn đỏ

– Ông Bổn, thần tài: Cúng heo chưa chín.


MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 12, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA NAM NHÃ

chùa nam nhã

Chùa Nam Nhã, do lão Thái Nguyễn Giác Duyên lập nên, hồi cuối thế kỷ 19, nổi tiếng về vẻ đẹp kiến trúc bề thế, vững chãi mà hài hòa với thiên nhiên.

Chùa cũng từng là trụ sở chính của phong trào Đông du (1907 – 1940), nơi chu cấp cho các học sinh du học và chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Chùa chủ trương ăn chay nhưng không cạo đầu hay mặc nâu sồng và rất đề cao ý chí tự lực tự cường để tồn tại và phát triển. Ai đã một lần đến thành phố Cần Thơ (Tây Đô) chắc không thể bỏ qua cơ hội ghé thăm chùa Nam Nhã, còn gọi là chùa Minh Sư hay Đức Tế Phật Đường, nằm cách trung tâm thành phố 5 km về phía bắc. Ngôi chùa này nổi tiếng không chỉ về vẻ đẹp kiến trúc, mà còn bởi lịch sử hình thành và phát triển của nó gắn liền với phong trào cách mạng của nhân dân và tinh thần bất khuất của một số sĩ phu, văn thân yêu nước trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chùa Nam Nhã thuộc ấp Bình Nhật, xã Long Tuyền (nay thuộc phường An Thới thành phố Cần Thơ), phía trước chùa là dòng sông Bình Thủy in hình những bóng cây đại thụ, đối diện là đình Long Tuyền uy nghi đồ sộ. Phía đông là cồn Sơn ví như trái châu của suối Rồng (Long Tuyền) và cồn Bình Thủy ví như lưỡi rồng, nằm giữa dòng sông Hậu cuồn cuộn chảy theo những lớp sóng bạc đầu. Chùa được xây cất trên một khoảnh đất hàng chục mẫu, cổng chùa xây bằng gạch cổ, lợp ngói ta, vững chãi bề thế. Sân chùa được bao quanh bởi một khu vườn lớn trải dài ra tận bờ sông Bình Thủy; giữa vườn là hòn non bộ cao trên 2m được đặt trong một bồn nước trong xanh xây bằng gạch tầu đỏ sậm, trong vườn trồng nhiều cây tùng, cây trắc và các cây cổ thụ khác. Đan xen dưới những gốc cây này là những cây kiểng quý giá, tuổi ngót 100 năm được cắt uốn rất công phu. Chính diện là một ngôi nhà lớn 5 gian, xây theo lối vòng cung, mỗi gian được 4 cột xi-măng chống đỡ với 3 vòm bán nguyệt.

Các họa tiết hoa văn trang trí ở đây đều được tô đắp rất công phu tỉ mỉ làm tăng vẻ mỹ lệ của gian chính diện. Sau chính điện là một hành lang dài có hai căn phòng tiếp khách quý. Bên phải và bên trái chùa là 2 dãy nhà lợp ngói gọi là Đông Lan đường (còn gọi là Cần đạo đường) dùng cho nam giới và Tây Lan đường (còn gọi là Khôn đạo đường) dùng cho nữ giới ăn thông với nhà bếp. Sau chùa là cả một vườn cây ăn trái, xanh tốt quanh năm, mùa nào quả ấy, tiêu biểu cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lịch sử chùa Nam Nhã có nhiều nét độc đáo. Nguyên từ năm 1895 do chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng của các vị lão sư Đinh Hảo Khiêm, Ngô Cẩn Tiền ở chùa Quảng Nam (Đa Kao, Sài Gòn) xuống Bình Thủy truyền đạo Minh Sư thờ Tam Giáo (Nho, Phật, Lão), lão thái Nguyễn Giác Duyên bèn dẹp tiệm thuốc bắc ở chợ Bình Thủy về ấp Bình Nhật và lập nên ngôi chùa Nam Nhã. Đầu tiên, ngôi chùa chỉ có 3 gian, cột gỗ, cổng và mái lợp ngói rất đơn sơ gồm chính điện là gian giữa, hai gian bên là Đông Lan đường và Tây Lan đường. Đến năm Đinh Tî (1917), Nguyễn Giác Duyên và em là Nguyễn Giác Cung, cùng ban chủ sự chùa gồm Dương Văn Đạt (thầy Ba Chệt), Mai Thị Đồ, Bùi Hữu Sanh (con trai thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa) cùng chung lo xây lại chùa lần thứ hai có nhà Tam Bảo. Đến năm 1923, chùa lại được tu bổ, hoàn thiện thêm một lần nữa và có quy mô to lớn như ngày nay. Nam Nhã chính là tên hiệu thuốc bắc của lão thái Nguyễn Giác Duyên, chùa còn có tên là Minh Sư.

Từ ngày đầu thành lập, tại chùa đã có nhiều hoạt động yêu nước và tiến bộ. Chùa Nam Nhã còn nổi tiếng vì đây là trụ sở chính của phong trào Đông du (1907-1940) do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Ngôi chùa là nơi thường lui tới của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Hào Vĩnh… Trong thời kỳ Đông du, chùa đã tự tổ chức ra nhiều cơ sở kinh tài, lấy tiền nuôi học sinh du học, chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Tại đây, nhiều cuộc bình thơ, họa thơ đã được tổ chức và xuất hiện nhiều áng văn thơ yêu nước, có nội dung đòi độc lập dân tộc, dân chủ, dân quyền. Văn phẩm Đạo Nam kinh do chùa Nam Nhã phổ biến, thời kỳ này bị Pháp liệt vào loại sách cấm, đã đề cao vai trò học vấn, chống ngu muội, chống mê tín, đề cao tiến bộ khoa học kỹ thuật của văn minh loài người. Có những bài diễn ca như:

“Văn minh ta phải học khôn,

Theo người Anh, Pháp, theo gương Hoa Kỳ.

Trăm nghề học, học chi cũng được,

Học thiên văn rồi học địa dư,

Học toán pháp, học binh thư,

Canh nông học sách, lập thư viện đường”.

Chùa chủ trương ăn chay, nhưng không cạo đầu, không mặc nâu sồng, ai mặc quần áo gì cũng được miễn là trang nghiêm và kín đáo. Chùa chỉ có một cái chuông để thỉnh báo cho thiện nam tín nữ trước khi lễ. Chùa tập trung vào tu dưỡng tâm tính con người, lấy sản xuất, tự lực tự cường để tồn tại và phát triển. Ngày nay, chùa Nam Nhã vẫn duy trì được lối sống giản dị đó, du khách đến chùa bất kỳ lúc nào cũng thấy một không khí làm việc tấp nập trong sự yên tĩnh đặc biệt.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 12, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA PHẬT LỚN TRÊN NÚI CẤM

Chùa Phật Lớn trên núi Cấm

núi cấm

Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) là tên gọi chính thức bằng văn tự đầu tiên xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC, biên soạn vào cuối thế kỷ XIX). Còn trước đó, ngọn núi này được gọi là núi Đoài Tốn (Gia Định thành thông chí, biên soạn đầu thế kỷ XIX).

Ở ĐNNTC, núi Cấm được khảo tả rằng: “… thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt, là một trong Bảy Núi. Vì núi cao nên ít người lên đến chót”. Cái danh xưng Bảy Núi có lẽ cũng xuất hiện trong ĐNNTC là chứng cứ văn liệu đầu tiên.

Chúng ta không có cứ liệu khác để xác định chính xác từ bao giờ người dân vùng đất mới phương Nam qui tất thảy nhiều ngọn núi ở khu vực này vào con số bảy, cũng như qui tất cả những cửa sông của các nhánh sông Mê Kông đổ ra biển vào con số chín: Cửu Long. Song điều có thể nhận ra là sông ấy, núi ấy đã được thiêng hóa: một thực tại văn hóa đã định hình, bao trùm lên trên thực tại tự nhiên… Và rồi, thời gian lịch sử lại không ngừng bồi đắp thêm muôn vàn sự kiện tạo nên những ký ức nối kết chiều dài quá khứ với hiện tại.

1. Quay lại buổi đầu khai hoang, năm 1757, Nguyễn Cư Trinh – người đứng đầu công cuộc bình trị vùng đất mới phương Nam đã đề đạt lập 3 cứ điểm quan yếu án ngữ đầu nguồn sông Hậu và sông Tiền: đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc). Đó là tên gọi “hành chính”, còn đối với lưu dân thì vùng đất này được gọi là “Châu Đốc tân cương”, “Tân Châu ác địa”… bởi thời ấy đây là vùng đất úng thủy, hàng năm bị nước lũ từ Biển Hồ đổ tràn xuống. Đồng hoang đầy rắn và chuột, núi rừng lắm cọp beo, rắn rít và dưới sông sấu lội lềnh khênh. Mặt khác, nơi này còn là nơi binh lửa, chưa ổn định như Đồng Nai – Gia Định, chưa là xứ… “Tây An” như sau này, chưa được Thoại Ngọc Hầu đào kinh xẻ rạch nối thông qua Rạch Giá (kinh Thoại Hà), qua Đông Hồ, Hà Tiên (kinh Vĩnh Tế)…

Khi công cuộc khai phá đạt được kết quả ít nhiều thì thực dân Pháp xâm lược. Ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây lần lượt lọt vào tay giặc. Các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp dưới ngọn cờ yêu nước của sĩ phu lần lượt bị dập tắt. Đặc điểm nổi bật của những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nghĩa quân thất trận, nông dân mất ruộng và cơ cấu văn xã truyền thống đứng trước những thách thức lớn lao của sự đổi thay.

Hạ ngươn Giáp Tý đầu niên,

Gẫm trong thiên hạ:

không yên chỗ nào.

(Vãn, Sư Vãi Bán Khoai

Thực tế lịch sử đầy bi phẫn bấy giờ, dưới cái nhìn chuyển kiếp của nhà Phật… quả là thời mạt pháp, hay dưới cái nhìn biến dịch của Nho đạo thì hẳn đó là thời hạ ngươn (hạ nguyên). Những tín điều của dòng phái tiên tri Bửu Sơn Kỳ Hương được rao truyền từ thời Phật thầy Tây An… đã ứng nghiệm nhãn tiền, nên tự nó trở nên xu hướng thời thượng của thời buổi mọi con đường sáng đều bế tắc.

2. Núi Cấm có tên gọi khác là “Thiên Cẩm sơn” bởi cảnh sắc hoa cỏ, cây lá đẹp như dải gấm của trời. Đây là cách đặt tên hoa mỹ dưới cái nhìn thi vị hóa của các văn nhân và tuy cũng được thế nhân tán đồng, nhưng tên gọi phổ biến vẫn là núi Câm, được hiểu là “vùng cấm người lai vãng”, với nhiều lý giải suy nguyên khác nhau: hoặc đẩy về thời chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh hoặc thời Pháp thuộc. Song điều có thể dễ dàng nhận ra việc gọi núi Cấm là bắt nguồn tư nếp tư duy truyền thống về việc định danh các ngọn núi thiêng được coi là trục thiêng trung tâm của cộng đồng, là Cấm Sơn/Núi Cấm. Đây là một tập quán phổ biến từ lâu đời mà núi Nghĩa Lĩnh (nơi đặt đền thờ các Vua Hùng) ơ vùng đất Tổ Phú Thọ là một ví dụ. Ba đỉnh núi thiêng này được gọi là núi Cấm: Tam Sơn cấm địa.

Ở đây, chí ít là đến nửa sau thế kỷ XIX, Bảy Núi đã được các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là Bửu Sơn. Theo đó, núi Cấm, ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn, được xác tín là địa điểm Phật Di Lặc mở Hội Long Hoa, cuộc phán xét cuối cùng, kết thúc thời hạ ngươn/mạt pháp và khai mở kiếp đời thượng ngươn mới hạnh phúc và an lạc. Dấu hiệu chỉ báo là đến lúc đó, từ núi báu (Bửu sơn) sẽ tỏa ra mùi hương thơm kỳ diệu (Kỳ hương).

Về mặt tự nhiên, cứ như ghi chép của tác giả Gia Định thành thông chí, thì núi cao 50 trượng, chu vi 20 dặm dư (số đo thực: cao 705m), “hình như cai đài cao, nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ nên gọi là núi Đài Tốn… Núi cao đột ngột, sinh sản các loài trầm hương, tốc hương, súc sa, cây sao, giáng hương, thông tre. Cây cối tốt tươi có đường cong queo thông trong núi sâu, dấu người qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa có bến nước, kẻ cày cấy, người đánh cá chia từng loại ở nơi chân núi”. Đoạn trích dẫn trên cho ta thấy hình tướng lẫn hương vị của ngọn núi thiêng. Người đời sau kể rằng trên núi có suối Thanh Long nằm vắt qua điện Cây Quế. Điện không có cây quế nào mà được gọi tên như vậy vì ở đó luôn phảng phất mùi trầm lẫn trong gió. Người ta đoán rằng có trầm hương trong núi nhưng chẳng ai xeo đá, nổ mìn để tìm vì làm như vậy là cắt đứt sinh lực của núi Cấm là suối Thanh Long.

Lại nữa, tại đoạn trích dẫn trên, chúng ta được biết đường đi cong queo “thông vào núi sâu”, song lại không nói đặc điểm quan trọng của núi Cấm là các vồ đá: vồ Chư Thần, vồ Bồ Hong, vồ Ông Bướm, vồ Đầu, vồ Thiên Tuế… Đó là những địa điểm thiêng thờ tự Thần Phật và là nơi ẩn tu của các ông Đạo tu hành đắc đạo, hành tung bí mật, có phép thần thông và y thuật. Ông Cử Đa là một kỳ nhân tiêu biểu.

Lại nữa, ngọn núi này được xác tín là cõi thanh tịnh của các bậc tu hành chứng quả Phật, Tiên, Thần, Thánh nên ngay cả hổ báo cũng chỉ ăn hoa quả, tuyệt đối không sát sinh, không ăn thịt người. Loài ham ăn thịt người phải tìm nơi khác, như núi Bà Đội Om, để cư trú.

Nói tóm lại, núi Cấm một phần là do đặc điểm cùng vị thế tự nhiên của nó và phần nữa là do những nhân duyên và hệ lụy của lịch sử nên đã trở thành căn cứ-thánh địa cua những kỳ nhân nặng lòng với đạo với đời, trong thời kỳ đau thương của dân tộc.

3. Thực dân Pháp chiếm An Giang ngày 22-6-1867. Người đứng ra khẳng khái nêu tuyên ngôn:

Thà thua xuống láng xuống bưng,

Chứ không đầu giặc, lối chưng quân thần

là Đức cố quản Trần Văn Thành – một vị võ quan và đồng thời là cao đồ của Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương). Căn cứ Láng Linh (Bảy Thưa) của Trần Văn Thành vốn là một xóm đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và lực lượng nghĩa quân dưới cờ của ông không ít là tín đồ của dòng phái tôn giáo cứu thế này – tức có quan hệ với một mạng lưới gồm các cộng đồng đồng đạo khác: Thới Sơn, Nhơn Hưng (Tịnh Biên), Cái Dầu (Châu Phu), Trà Bang (Rạch Giá), Tân Thành (Đồng Tháp)…

Giáo thuyết của các cộng đồng này đặt nền tảng trên một mạt thế luận với kỳ vọng rằng Hội Long Hoa sắp khai mở ở Núi Cấm, giờ đây trong thực tế thì Hội Long Hoa là ngày đất nước Nam giành lấy chủ quyền độc lập, kiếp đời thượng ngươn mới là đất nước thanh bình, thịnh vượng. Đây là hai mặt lý-sự củng cố niềm tin, thúc đẩy các tín đồ các phong trào tôn giáo cứu thế nhiệt tình đứng lên chống Phap và nung nấu tâm can mãi đến sau này mặc cho giặc dìm tất cả các cuộc nổi dậy vào máu, triệt hạ tất cả làng mạc, phân tán các tín đồ ra khỏi các làng mạc mang tính “xóm đạo” và liên tục bủa mật thám theo dõi, bắt bớ những người mà chúng tình nghi có quan hệ với các ông đạo ở vùng “năm non bảy núi”, nhất là sau hai cuộc nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn Sài Gòn năm 1913 và năm 1916.

4. Theo bài viết “Đức Trung Tôn trên núi Cấm (Châu Đốc) hết cái nạn dầm mưa dang nắng” trên báo Từ Bi Âm (số 92, 15 Oct., 1935) thì chùa Phật Lớn do ông Bảy Do tạo dựng: “Nguyên thuở trước, ước chừng ba bốn chục năm nay, có một ông thầy tu theo đạo trên, tên là Bảy Do, lên choán chỗ đó ma cất một cảnh chùa bằng ngói rất nguy nga. Trong chùa ấy, ông lại mướn thợ lên cốt một vị Phật bằng ciment rất to, tục kêu “Đức Trung Tôn”, bề cao được một thước tám tây, ngồi kiết già trên cái bàn cũng bằng ciment và cao trên hai thước. Chùa vừa cất xong thì ông Bảy Do lại bị ở tù, kế từ trần trong ngục thất…”.

Ông Bảy Do, tên thật là Cao Văn Long, quê ở Bến Tre. Ông là một trong những người lãnh đạo cuộc nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn Sài Gòn năm 1916. Trước đó, ông thường lui tới hầu hết các tỉnh Nam Kỳ và đến núi Cấm xây chùa năm 1912, lấy đó làm trụ sở cho hội kín Thiên Địa hội. Ông bị giặc bắt ngày 17-3-1917 (Theo G.Coulet: Les sociétés secrètes en terre d’Annam. S, Ardrin, 1926). Giặc xua lính lùng sục núi Cấm và chùa Phật Lớn chẳng tìm được tang chứng gì, ngoài một số lượng lớn chén bát. Chúng dựa vào mớ chén bát đó để qui tội ông làm quốc sự…

Chùa Phật Lớn, sau khi Bảy Do bị giăc bắt, trở nên hoang tàn. Người có tâm đạo lấy cây làm cái trại lá để tạm che mưa nắng cho Phật tượng bởi họ nhiều lần xin phép cất cái trại thì nhà cầm quyền thời đó cũng nhất quyết không cho. Mãi đến năm 1914, ông Trần Văn Lầu (cựu Hương quản làng An Khánh, tổng Hòa Quới, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho) đến núi Cấm thấy cảnh chùa hoang phế bèn lên chùa Linh Sơn (Sài Gòn) nhờ Cò mi Chấn (Phó nhì Hội trưởng Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học) đứng ra xin phép tái thiết chùa Phật Lớn. Cò mi Chấn tính đủ cách cũng không được cấp phép làm lại chùa nên cuối cùng, ông bảo ông Lầu dỡ trại, cất liều cái am lợp lá. Lại có kẻ cáo quan chủ tỉnh. Sở Mật thám liền vào núi Cấm xem xét và rồi Chủ tỉnh Châu Đốc đòi ông Lầu đến tra vấn. Chủ tỉnh Châu Đốc gởi công văn buộc Cò mi Chấn phải dỡ bỏ cái am mới cất ngay lập tức. Nhưng Cò mi Chấn trả lời qua thư rằng: Theo tục lệ An Nam, không để Phật ngồi giữa trời dầm mưa, dang nắng như thế… Chủ tỉnh Châu Đốc lại gởi thư buộc Cò mi Chấn phải “dỡ am đi liền”. Lần này Cò mi Chấn lại đáp: “Cái am cất lỡ rồi, ông là người đạo Phật sợ phạm tội nên không dám dỡ!”. Nhờ việc qua lại ấy mà cái am không bị phá dỡ, che chở tượng Phật Lớn còn đến nay.

Cũng theo bài báo trên, tại chùa Phật Lớn bây giờ có hai bài thơ: một bài chữ Hán và một bài Quốc ngữ. Tiện thể chép ra đây để lưu dấu tích cũ.

Bài thơ chữ Hán:

Hà xứ tiên tiên ngã mộng hồn,

Cấm sơn triêu tịch,

Trắc Quang thôn.

Mô hồ cựu tích thiên niên khứ,

Cô lộ di dung nhứt Phật tồn.

Tằng thác lương nhơn

thành tiểu cái,

Nguyên tương vi thiện

chưởng lai côn.

Chứng minh tự hữu

Không vương tại,

Đa thiểu nhân nhơn vị hứa lôn.

Bài thơ Quốc ngữ:

Núi Cấm trèo chơi hãn biết rồi,

Có gì là cảnh gọi rằng vui

Xa xa hóc trảng nghe người nói,

Trùi trụi đầu non thấy Phật ngồi.

Nóng ruột vì cưu ơn tế độ,

Ra tay thề giúp lực tài bồi.

Am mây vững đặt ngôi Tam bảo,

Cúi nguyện mười phương

chứng dạ tôi.

Trần Nguyên Chấn

5. Chùa Phật Lớn, được coi là lớn là theo sự so sánh với kích cỡ Phật tượng ở chùa chiền đây đó thơi bấy giờ. Giờ đây thì Phật tượng cao 1,8m thì chẳng là mấy. Lại nữa, tên gọi “Phật lớn” coi ra đã lỗi thời, bởi kế đó giờ đây người ta đã dựng tượng Di Lặc Bố Đại cao đến 33,6m. Pho tượng có kích cỡ đạt Guinness Việt Nam này đã làm lu mờ cả danh lẫn thực của chùa Phật Lớn – một tập thành ký ức lịch sử-văn hóa của một thời tủi nhục và đầy vinh quang của dân tộc. Rồi nghe đâu nay mai, ngay trên cuộc đất chùa Phật Lớn này sẽ dựng lên một thiền viện qui mô tòa ngang dãy dọc và không biết di tích chùa Phật Lớn có còn trụ được với những thách đố của xu thế hoành tráng (colossus) đang bộc phát hệt như cái “chủ nghĩa Guinness” thời thượng.

Nói chung, ai mà không biết mọi vật đều thay đổi, song bao giờ cũng cần có sự cân bằng giữa chủ nghĩa tiến bộ và chủ nghĩa văn hóa. Bởi một kiểu phát triển nào đó sẽ phá vỡ sự thỏa hiệp thiêng liêng của con người với môi trường sống, trong đó có môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn và đặc biệt là tổng thể lịch sử-tự nhiên của cộng đồng. Các di tích lịch sử-văn hóa của mỗi cộng đồng là các di tích có tính độc đáo không gì thay thế được vì chúng đã truyền cảm hứng, làm nên những biểu tượng thiêng liêng gắn kết các thành viên của cộng đồng với chúng và mặt khác, chúng là những mẫu mực về đổi thay văn hóa, đổi thay thái độ của các thế hệ với chúng – tức chúng là chứng tích sông động của lịch sử văn hóa địa phương. Ngoài các di tích văn hóa nhân tạo đó là các địa điểm tự nhiên. Tổng thể núi non, sông suối, ao hồ, gò nổng, bến bãi… tạo nên cái gọi là “làng ta phong cảnh hữu tình” và hơn thế, các địa điểm đó gắn bó với các giá trị vô hình, phi vật thể – một tổng thể tản mác gồm tín ngưỡng, truyền thuyết, các truyền thống thành văn và truyền khẩu. Đấy là hiện thân cho một tập thành văn hóa đa dạng và là chứng tích của ký ức hào hùng hay đau thương của các thế hệ tổ tiên. Chúng mãi truyền cho mai hậu những niềm tin sơ khai về tinh thần phản kháng hay hy vọng.

HUỲNH NGỌC TRẢNG

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 27, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA LONG HƯNG

Chùa Long Hưng: Dấu ấn của tổ Đạo Trung- Thiện Hiếu

long hưng 2

Vào năm Mậu Tý (1768) đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29, ở vùng đất Thới Hoà, Bến Cát ( nay thuộc xã Tân Định, Bến Cát, Bình Dương), dân chúng lập am cho Hòa thượng Đạo Trung tu hành sau này lấy tên là chùa Long Hưng . Thiền sư Đạo Trung – Thiện Hiếu là một cao Tăng thuộc thế hệ thứ 38 phái Thiền Lâm Tế truyền theo dòng kệ của Tổ Liễu Quán: Thiệt Tế Đại Đạo. Thiền sư Đạo Trung là đệ tử đắc pháp với Thiền Sư Đại Quang- Chí Thành ( Theo Hòa thượng Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo sử lược và Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang cũng như lịch sử Phật Giáo Đàng trong của Hiền Đức, thì Đạo Trung là đệ tử của Đại Cơ- Đức Huân. Nhưng theo bản truyền thừa mà chúng tôi có, thì Đạo Trung là đệ tử của Ngài Đại Quang- Chí Thành. Thiền Sư Đại Quang là người có công xiển dương Phật giáo ở miền Tây).

Ngài Đạo Trung từ chùa Hội Sơn ở Thủ Đức đi hoằng hóa đạo pháp, Ngài đến khai lập chùa Linh Sơn ở núi Điện Bà ( Tây Ninh ) vào năm 1763 ( theo Việt Nam Phật giáo sử luận). Từ chùa Linh Sơn, Ngài về vùng đất Thới Hòa, Bến Cát. Thấy cảnh thanh tịnh, đồng ruộng thoáng mát nên Sư thường tới dừng chân nghỉ dưới gốc cây Trâm ở ven “ Bưng Đỉa”. Tương truyền vùng bưng này đất đai phì nhiêu nhưng rất nhiều đỉa nên nông dân ở đây không cấy lúa, trồng hoa màu được. Do đó đồng ruộng phải bỏ hoang. Thấy Sư đến, dân làng mến mộ lập am tranh cho Ngài tá túc, đồng thời cũng mong được sự chú nguyện đem đến bình an trong việc cày cấy cho nông dân. Thấy sự vất vả, nghèo nàn của người nông dân vùng này vì bưng ruộng quá nhiều đỉa. Một hôm sư phát tâm xuống giữa đồng bưng ngồi thiền định phát lời nguyện: “ Nếu loài đỉa do nghiệp chướng chưa vãn sanh thì bây giờ sớm giác ngộ vãn sanh và nếu cần, ta nguyện hiến xác thân này cho loài đỉa ở đây và chỉ mong cho dân chúng được bình yên cày cấy để được cơm no áo ấm…” Trong khi Sư ngồi chú nguyện đỉa quay quanh Sư rất nhiều và có một con đỉa thật to màu trắng (có lẽ là đỉa chúa ) bò thẳng lên đầu Sư, nhưng Sư vẫn an nhiên thiền định. Một lát sau, đỉa chúa và các đỉa khác ngã lăn ra chết. Từ đó, vùng này không còn đỉa. Dân chúng dễ dàng cày cấy ruộng đồng, cuộc sống dần sung túc. Sau này, dân chúng gọi sư Đạo Trung là ” Tổ Đỉa” ( theo truyền tích dân làng kể lại).

long hưng 1

Tổ đạo Trung – Thiện Hiếu sanh năm Quý Hợi (1743). Ngài đến vùng bưng (Cầu Định) vào khoảng năm 1768 được dân làng dựng am nhỏ cho sư tá túc, thiền định. Đến năm 1794 (Giáp Dần), danh tiếng, đạo đức của Sư được lan rộng khắp vùng. Dân chúng phát tâm xin tổ cho trùng tu lại chùa để làm nơi thờ phượng được khang trang hơn. Tổ Đạo Trung – Thiện Hiếu có công lớn trong việc truyền bá chánh pháp nơi đây. Hiện nay chưa biết rõ tên tục và nguyên quán của Sư, chỉ biết Sư là bậc long trượng của chốn thiền môn, là vị khai sơn và trùng tu nhiều ngôi chùa như: Linh Sơn trên núi Bà Đen ( Tỉnh Tây Ninh); Long Hưng ( ấp 4 xã Tân Định, Bến cát); Hội Hưng ( xã Trung An, Củ Chi, TP.HCM); Hội Lâm còn gọi là chùa Bà Tang (xóm Chùa xã An Phú). Ngài từng đền hành đạo tại các chùa: Hội Khánh (Thủ Dầu Một); Long Thọ (Thủ Dầu Một); Hội Sơn (Thủ Đức) và Bửu An (Bến Gỗ – Biên Hoà).

Sau một thời gian hành đạo ở chùa Long Hưng, Tổ Đạo Trung thâu thần thị tịch vào ngày 20 tháng 12 năm Kỷ Mùi (1800). Trước khi thị tịch, hàng tứ chúng tôn xưng Ngài là Tổ, nhưng Ngài nói : Sau khi thị tịch môn đồ thiêu xác ta, nếu còn lại bàn tay làm vật chứng thì mới gọi là Tổ. Quả thật như lời phát nguyện, đồ chúng hoả thiêu thân xác thành tro chỉ còn lại 1 bàn tay và từ đây Ngài được tôn xưng vào hàng Tổ, môn đồ xây tháp phía sau chùa để tôn thờ. Hiện nay có nhiều chùa tưởng niệm ân đức sư, lập long vị và tháp vọng để thờ như: Chùa Long Thọ, Chùa Hội Khánh. Riêng chùa Thiên Bửu ( Bình Nhâm) có lập tháp vọng để thờ Tổ Đạo Trung.

Có lẽ Ngài Đạo Trung không có đệ tử truyền thừa nên sau khi Ngài viên tịch, vị kế thế trụ trì là Hoà Thượng Tiên Đề – Chơn Phẩm thuộc thế hệ thứ 37 theo dòng “ Đạo Bổn Nguyên” Ngài là huynh đệ với Thiền Sư Tiên Huệ – Tịnh Nhãn và là học trò của Hoà Thượng Tổ An – Mật Hoằng. Thiền sư Tổ Ấn – Mật Hoằng phái Thiền Lâm Tế đời 36 (1735 – 1835). Tổ Mật Hoằng từng được vua nhà Nguyễn cữ làm Tăng Cang trụ trì chùa Thiên Mụ vào năm Gia Long thứ ba ( 1804 ). Sau một thời gian hoằng pháp làm hưng thịnh nơi đây, Ngài Tiên Đề – Chơn Phẩm thị tịch vào ngày 18 tháng 4 năm Nhâm Tý (1852). Đồ chúng lập tháp thờ trong khuôn viên chùa. Tiếp các vị trụ trì là Thiền sư Minh Lịch thế hệ 38, Thiền sư Như Sơn – Thới Cư, thế hệ 39, Thiền sư Nguyên Tô thế hệ 44 (dòng Thiền Liễu Quán), Hoà thượng Quảng Phúc, Nhuận Đức, Đức Trường.

Chùa Long Hưng trải qua 9 đời trụ trì theo dòng kệ khác nhau. Trong biến cố thăng trầm của lịch sử có thịnh, có suy, nhưng ngôi chùa Bưng Đỉa vẫn mãi mãi được người dân vùng này sùng kính. Những hiện vật cổ được lưu lại đến nay là tháp Tổ Đạo Trung, một pho tượng của tổ sư Đạo Trung tạc bằng gỗ mít có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ 19, một pho tượng bằng đồng cao khoảng 1m và các pho tượng Tam Thế, Thập Điện Diêm Vương bằng gỗ, 1 Đại Hồng chung, các long vị của các vị tổ sư và trụ trì, các bộ tượng gỗ khác …Tất cả hiện vậ này có niên đại khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, một bức hoành phi đề Long Hưng tự , sơn son thếp vàng lập vào năm Giáp Dần ( 1854) , giảng đường còn lưu lại câu đối (có vào năm 1903 ) của Hoà Thượng Thế Cư vị trụ trì đời thứ tư :

慈 蕓 法 雨 森 籮 變 地 皆 成 清 淨 境

Từ vân pháp vũ sâm la biến địa giai thành thanh tịnh cảnh

慧 日 曇 華 洎 在 竺 間 爭 睹 喜 歡 場

Huệ nhật đàm hoa tự tại gian tranh đổ hỉ hoan tràng

Tạm dịch :

Mây lành mưa pháp, phủ khắp ở cõi trần gian, đều trở thành nơi thanh tịnh.

Ngày huệ hoa đàm, tự tại như miền Thiên Trúc, sẽ trông thấy chốn an vui.

Chùa hiện nay không còn di tích cũ. Ngôi chánh điện đã bị chiến tranh làm đổ nát vào ngày 19 tháng 9 năm 1966. Vào năm 1986, Phật tử chùa đã xây dựng lại ngôi chánh điện nằm ở phía sau nền chánh điện cũ bằng vật liệu gỗ, kiến trúc cổ 3 gian 2 chái. Sau khi Hoà thượng trụ trì đời thứ 8 viên tịch vào năm 1989, chùa không có người thừa kế. Mãi đến năm 1995, Tỉnh hội mới bổ nhiệm Thượng toạ Thích Hồng Long (Chánh BĐD Phật giáo Bến Cát, Đại biểu HĐND, Uỷ viên UBMTTQ.VN huyện Bến Cát) về trụ trì. Vào tháng 3 năm 2001, Thượng toạ trụ trì và Phật tử tổ chức đặt đá trùng tu ngôi chánh điện trên nền cũ. Đến với chùa Long Hưng hôm nay hẳn là ta thấy hoàn toàn khác với cảnh trí của ngôi chùa năm xưa. Từ đường chính vào chùa độ khoảng gần 500 mét vùng bưng đỉa và đồng ruộng bạt ngàn năm xưa không còn nữa bởi do sự phát triển của khu công nghiệp cũng như sự phát triển dân số và nhà cửa, nhưng chùa Bưng Đỉa vẫn còn giữ được sự trầm lặng thánh thoát của thiền môn và thấp thoáng ta vẫn còn trông thấy vài mảnh ruộng còn sót lại của vùng Bưng Đỉa năm xưa.

Do có niên đại hình thành khá sớm so với các ngôi chùa cổ ở Bình Dương cũng như với lịch sử và hành trạng của Thiền Sư Đạo Trung – Thiện Hiếu nên chùa Long Hưng được sở Văn Hoá – Thông Tin tỉnh xếp hạng Di Tích Lịch sử cấp tỉnh vào ngày 4 tháng 7 năm 2005.

Chùa Long Hưng là nơi hành đạo của tổ Đạo Trung. Ngài đã đem đến cho vùng đất này một tinh thần từ bi vô ngã của đạo Phật. Hình ảnh của chùa Tổ Đỉa mãi mãi được ghi dấu mà người dân nơi đây đã ngưỡng mộ bậc chân tu.

Môn đồ pháp quyến đồng bái soạn

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 27, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA BỬU LINH

Chùa Bửu Linh Ở Sóc Trăng

chùa bửu linh sóc trăng

Chùa Bửu Linh nằm ở ấp Dương Kiểng, xã Hòa Tú II, huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX trên một vùng đất rộng 3500m2 và bao bọc bởi một vườn cây um tùm. Mặt chùa quay về hướng Nam, với bố cục hình chữ đinh có diện tích 216m2, được xây dựng bằng bê tông cốt thép.

Theo lời kể của người dân và một số tài liệu mà chùa còn lưu giữ được, thì vào cuối thế kỷ XIX, cư dân ở các nơi đã đến vùng đất hoang vu này để khai phá, sinh cơ lập nghiệp. Nhờ cần cù lao động, lại được đất đai màu mỡ, họ trở nên giàu có. Trong số này có ông Nguyễn Tấn Phát (người dân thường gọi là ông huyện Phát), đã hiến 50 công đất để tạ ơn trời Phật vào năm 1881 và cho xây dựng ngôi chùa có tên gọi “Bửu Linh Tự”, theo hệ phái Bắc tông để làm nơi thờ phụng, cúng tế.

Đặc điểm kiến trúc của ngôi chùa lúc này là: “Cửu lâu chín nóc”, cột đúc, vách trát vôi, mái lợp ngói, mặt quay về hướng Nam, chiều dài 18m, chiều ngang 12m và cao 7m theo hình chữ đinh. Trong thời gian dựng chùa, ông đã mời 4 người thợ ở Huế đến để tạc tượng, khắc Kinh,… Sau khi việc dựng chùa đã hoàn tất, năm 1885, ông đích thân đến Cần Thơ mời Hòa thượng Thích Quảng Đạt về làm trụ trì.

Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp trở lại đánh chiếm nước ta, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Hòa thượng Thích Quảng Đạt đã cho dỡ bỏ chùa (chỉ giữ lại một ngôi nhà nhỏ ở hậu liêu) và thỉnh dấu các tượng, kinh sách… vào rừng. Năm 1946, nhận thấy tình hình khá yên ổn, Hòa thượng đã đứng ra kêu gọi bà con dựng tạm một ngôi chùa nhỏ vách ván, mái lợp lá để thỉnh các tượng về thờ, nhưng không theo hướng của ngôi chùa cũ mà quay về phía Đông. Vào năm 1994, Đại đức Thích Giác Thời đã vận động bà con dựng lại chùa mới trên nền móng của ngôi chùa cũ, với chiều dài 18m, chiều ngang 12m và cao 8,1m.

Ngày nay, bước vào ngôi chùa, chúng ta như trút bỏ được cái ồn ào, bon chen nơi thị tứ để đón nhận cái không gian tĩnh lặng, yên bình hằng có của nhà Phật. Bởi trước chùa là con sông Cái hiền hòa nghiêng mình chảy qua, đằng sau là vườn cây um tùm xanh mát. Bên trong, khói hương trầm nghi ngút với tiếng kinh, tiếng mõ, tiếng chuông chùa ngân vang mỗi sớm chiều.

Qua cổng chùa, tượng Quan Âm Nam Hải đứng trên đài sen hình bát giác, tay trái cầm bình Tịnh thủy, tay phải bắt ấn. Từ đây đi vào khoảng 15m, trên lối nhỏ được trải bêtông với những ven đường hàng cây, ta sẽ đến chánh điện. Mặt trước chánh điện có ba cửa ra vào, mỗi cửa rộng 3,7m, bộ mái được lợp bằng tôn ximăng, các đầu đao ôm lấy bánh xe Luân hồi. Nền của chánh điện được lót bằng gạch hoa, chiều dài đo được 18m, rộng 12m và cao 6,1m, gồm 1 gian 2 chái với 4 hàng cột tròn đỡ lấy hai tầng mái. Trong đó, hàng cột thứ hai có đắp nổi hình hai con rồng đầu hướng vào nhau và cuộn dài theo chiều cao của cột.

Bên phải chánh diện là bàn thờ Tiêu Diện, bên trái là bàn thờ Hộ Pháp. Ở vị trí cao nhất trên điện thờ là tượng Thích Ca ngồi thiền định, tóc nổi bụt ốc, tai to chảy dài, hai mắt hiền từ nhìn xuống. Phối trí ở đằng sau là hình vẽ cây bồ đề, nơi đức Phật đã chứng ngộ. Ở tầng thứ hai thấp hơn là tượng Cửu Long bằng đồng, có hai Sám bài “Bồ tát thượng kỳ thú” bằng gỗ chạm trợ thủ. Tầng thứ ba là bộ tượng Di đà tam tôn, tầng thứ tư, thấp nhất là nơi để bát hương, chuông mõ và kinh sách nhật tụng.

Ở hậu liêu, đối xứng với gian giữa chánh điện là bàn thờ Tổ Đạt Ma, cũng như di ảnh và bài vị của các vị sư đã từng trụ trì. Nhà Tổ có chiều dài 18m, rộng 8m, cao 7m, gồm 5 gian 2 chái mái lợp tôn ximăng, rui mè, cột kèo tất cả đều được đúc bằng bê tông cốt thép. Ở gian giữa, là tượng Chuẩn Để tay cầm bát bửu ngồi trên đài sen. Đằng sau là bàn thờ các Phật tử ký tự. Các gian còn lại là nhà nghỉ, nhà khách và phòng hội họp.

Nhìn chung, Bửu Linh là ngôi chùa Việt có niên đại ra đời khá sớm ở vùng đất Mỹ Xuyên, Sóc Trăng. Mặc dù đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, nên kiến trúc không còn giữ được những yếu tố ban đầu. Nhưng lối bố trí kiến trúc như hiện nay là hoàn toàn trùng khớp với tổng thể kiến trúc của ngôi chùa trước kia. Hơn nữa, chùa vẫn còn lưu giữ được rất nhiều di sản quý giá ở vùng đất này.

Theo lời kể của ông Trần Minh Mẫn (nguyên Trưởng Ban đại diện chùa) thì chùa có 108 tượng gỗ; 01 cây đèn Dược Sư với 49 tượng gỗ nhỏ gắn trên đó; 01 tượng Cửu Long bằng đồng nặng 40 kg; 04 bộ Kinh gỗ với hàng trăm bản làm khuôn in, bao gồm: Kinh Vu Lan, Phổ Môn, Hồng Danh, Di Đà; nhiều phù điêu và sám bài Bồ Tát thượng kỳ thú, cùng rất nhiều đồ thờ khác bằng đồng. Từ năm 1947 đến 1950, khi chính phủ phát động Tuần lễ vàng, thay mặt chùa Bửu Linh Hòa thượng Thích Quảng Đạt đã hiến rất nhiều hiện vật như: 01 bộ lư bằng đồng; 12 chân đèn đồng; 01 cái chuông vàng cao 8cm; 02 cái mâm đồng lớn (1)

Còn những di vật khác, do chiến tranh, mưa nắng, mối mọt nên phần nhiều đã bị hư hại, mất mát. Hiện nay, nhà chùa chỉ còn lưu giữ: 01 tượng Cửu Long bằng đồng; 01 cây đèn Dược Sư; 02 cặp liễn gỗ chạm nổi Long ẩn vân; 05 sám bài Bồ Tát thượng kỳ thú; 33 tượng gỗ; 67 bản kinh gỗ làm khuôn in.

Trong số những di vật này, đáng chú ý có tượng Cửu Long, các sám bài, tượng và bản kinh khắc gỗ. Tượng Cửu Long, được đúc bằng đồng pha với hợp kim, sau đó nung đen, nay sơn nhũ màu vàng.

Về các sám bài, theo Trần Hồng Liên trong cuốn Chùa Giác Lâm: di tích lịch sử – văn hóa, là hiện vật dùng trong việc thờ cúng tại các ngôi chùa cổ. “Sám là bái sám và Bài là bài vị. Bài vị dùng bái sám này thể hiện rõ đặc trưng của cư dân vùng đất mới”. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, có thể thấy rằng thuở mới khai hoang mở đất, dù con người đã cố kết với nhau nhưng vẫn không trấn an được nỗi lo sợ của họ nơi vùng đất mới, thế là họ dựng miếu, đình để thờ thần, dựng chùa để thờ Phật, cầu mong sự ấm no, yên ổn. Và sự ra đời của các Sám bài cũng chính từ nhu cầu này, do nhỏ, gọn nên dễ dàng mang đến nhà của phật tử khi cầu cúng (cầu an, cầu siêu…). Bộ sám bài ở chùa Bửu Linh được chạm khắc trên gỗ hình ảnh của Phật Thích Ca và bốn vị Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền, Quan âm, Đại Thế Chí ngồi trên mình thú, với kỹ thuật chạm khắc điêu luyện, đặc sắc, đồng thời, nó còn là dấu ấn đầu tiên minh chứng cho hình thức tín ngưỡng Phật giáo vùng đất mới.

Trong 33 tượng gỗ hiện còn, tượng Thích Ca sơ sinh có chiều cao 63cm (bệ 25cm), tượng Hộ Pháp cao 148cm (bệ 18cm). Có tất cả 18 tượng đứng (trên bệ gỗ), 15 tượng ngồi. Trong đó có những tượng như: Quan Công; Tiêu Diện; Hộ Pháp; Địa Tạng cưỡi Đề Thính; Thập điện Diêm Vương (nay còn 9 tượng); Bồ đề Đạt Ma; Nam Tào, Bắc Đẩu;… Về hình dáng, một số tượng vẫn còn ảnh hưởng phong cách tạc của người Trung Hoa, với nét mặt thon, đôi mắt xếch, nhỏ, mày cong, mũi nhỏ, môi mỏng (tượng Thích Ca sơ sinh, Quan Âm với Thiện Tài Đồng tử). Còn hầu hết các tượng khác, đều được thể hiện với khuôn mặt mang yếu tố văn hóa của người Việt Nam bộ với cái nhìn an nhiên tự tại, phóng khoáng, cởi mở, không bị ràng buộc vào quy ước của cách tạc. Chính điều này đã làm cho các tượng có nét dí dỏm, gần gũi hơn, hiện thực hơn. Về cơ thể học, mặc dù các tượng chưa được cân xứng, với người mập, cổ ngắn nhưng lại thể hiện rõ quý tướng của Phật và các vị Bồ Tát bằng những đường nét tạo hình rất sống động, công phu, mang thần thái, khí sắc của bậc chân tu ngộ đạo.

Cũng trong 33 tượng này, đáng chú ý có bộ tượng Thập điện Diêm Vương. Bởi ở đây tập trung tất cả sự tinh tế, khéo léo của nghệ nhân tạc tượng. Hoa văn trên áo, mão, cùng một kiểu tay, một thế ngồi, một kiểu áo nhưng mỗi tượng một vẻ. Tinh xảo nhất là những đường nét thể hiện trên khuôn mặt, không vui không buồn mà toát lên vẻ trang nghiêm, trịnh trọng của người đang phán xử. Rồi sự thêm bớt hoa văn trên áo, mão tuy tiểu tiết, nhưng chính nó đã làm cho bộ tượng sinh động hơn, mềm mại hơn.

Các bản kinh khắc gỗ, với nhiều kích cỡ khác nhau, trong đó, bản dài nhất là trên 100cm và ngắn nhất là 29cm, được khắc theo thể khải thư ở cả hai mặt. Trong kinh có nhiều hình ảnh minh họa rất sống động, nét chữ thanh thoát, rõ ràng, nắm bắt được cái “thần” trong từng câu chữ, trong từng lời kinh Phật dạy. Điều đó chứng tỏ những người khắc kinh xưa, phải là những người có tay nghề cực giỏi và cũng là những người rất am tường kinh điển Phật giáo.

Trên đây là những tác phẩm điêu khắc của những người thợ bậc thầy, là những di sản quý của nền văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng, nhưng đáng tiếc những di sản này đang ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Sự bào mòn của tự nhiên, của các loại nấm mốc côn trùng và đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh. Trong 33 pho tượng còn lại, chỉ có 05 tượng là khá nguyên vẹn, còn những tượng khác: pho thì mất tay, chân; tượng bị thủng do đạn bắn; bị nứt, bể do mối mọt; có tượng chỉ còn phần đầu; có tượng đầu đã lìa khỏi thân,… Và để cứu vãn những pho tượng này, người dân địa phương đã lấy vữa hồ để gắn lại các tượng hoặc dùng sơn, phẩm màu tô quét mới. Đây là một việc làm tự phát, trước mắt, thiếu cơ sở khoa học, nhưng vẫn cần thiết trong khi các cơ quan chức năng ở địa phương vẫn chưa quan tâm đến. Theo như ý của người dân ở đây, nếu không làm vậy thì thật đau lòng khi nhìn thấy các “ngài” tay một nơi thân một nẻo, và quan trọng hơn là phần lớn những pho tượng này sẽ sụp đổ vì mối mọt.

Số phận các bản kinh cũng chẳng hơn gì, khi hơn một nữa trong số đó đã không còn nguyên vẹn. Đây là những tạng kinh quan trọng của Phật giáo đại thừa, thường được làm phần lớn ở miền Bắc lại có mặt (được khắc) ở miền Tây Nam Bộ, mà rõ hơn là Sóc Trăng, nơi mà Phật giáo của người Khơme đã phát triển huy hoàng là điều hiếm có. Tiếc rằng hiện nay, ở chùa chưa có người thông thạo chữ Hán, nên những bản kinh này vẫn còn ngổn ngang chưa thể phân loại được.

Việc những di sản này ra đời và tồn tại cho đến ngày nay có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm hiểu về lịch sử giao thoa giữa các luồng văn hóa được chuyển dịch từ Bắc vào Nam, theo các đoàn di dân trên hành trình đi tìm đất mới. Nhưng cho đến nay, các cơ quan chức năng ở địa phương vẫn chưa có một động thái cụ thể nào đối với những di sản này, như: tuyên truyền, hướng dẫn và phối hợp với các nhà sư trong chùa tiến hành bảo quản, gìn giữ. Nếu không được cứu vãn kịp thời, thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa, e rằng những di sản này sẽ chỉ còn trong những tài liệu ghi chép và trong ký ức của người dân nơi đây. Vô tình hay cố ý lãng quên, chúng ta đều sẽ có tội với tiền nhân, những người đã dày công kiến tạo.

Nguyễn Thái Hòa

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM



 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 26, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , ,