RSS

Tag Archives: kiến trúc tôn giáo

CHÙA TẠI MIỀN BẮC – PHẦN 6

CHÙA TẠI MIỀN BẮC – PHẦN 6

 

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

Advertisements
 

Nhãn: , , , , ,

CẢM ỨNG TỰ

Cảm Ứng tự (Bắc Ninh)

Cảm Ứng tự là ngôi chùa đẹp nổi tiếng ở xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Đây là công trình kiến trúc tiêu biểu vào loại bậc nhất trên vùng quê xứ Bắc, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1992.

Trải qua nhiều giai đoạn trùng tu, tôn tạo, đặc biệt là giai đoạn từ 2005 tới nay với mức đầu tư trên 16,4 tỷ đồng của chương trình mục tiêu quốc gia, chùa Cảm Ứng đã được phục dựng lại gần như nguyên vẹn, trở thành một điểm du lịch tín ngưỡng, tâm linh lôi cuốn nhân dân và du khách thập phương.

Chùa Cảm Ứng có 100 gian với 18 công trình, hạng mục công trình, tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo vừa hoành tráng vừa mang dáng vẻ cổ kính, rêu phong khiến cho những người tới đây có được cảm giác thăng hoa, sống trong triết lý thanh bạch và “từ bi hỷ xả”.

Chùa Cảm Ứng ngay từ thời Tiền Lê, đầu thời Lý đã là một trong những trung tâm Phật giáo của vùng Kinh Bắc và cả nước.

Theo sách “Việt sử lược” khoảng năm niên hiệu Ứng Thiên (995- 1007) chùa là nơi thiền sư Vạn Hạnh đã từng đưa Lý Công Uẩn về đây lánh nạn. Khi Vương triều Lý ra đời, chùa vẫn là nơi trụ trì và hành đạo của nhiều vị tổ sư đã có nhiều công lao đóng góp vào việc xây dựng triều chính và nền văn hóa dân tộc.

Năm 1063, để ghi dấu về việc cầu tự ở chùa Cảm Ứng, vua Lý Thái Tôn đã cho xây dựng chùa với qui mô to lớn, trở thành một danh lam thắng cảnh và một trung tâm đào tạo Phật giáo cho các tăng ni. Từ giữa thế kỷ thứ 15 trở đi, cùng với sự phát triển kinh tế của địa phương, chùa Cảm Ứng được sửa chữa với qui mô lớn vào năm 1519.

Những năm 1693-1697 chùa được trùng tu và mở rộng với nhiều hạng mục công trình, trong chùa có hàng trăm pho tượng sơn son, thếp vàng lộng lẫy. Năm 1826, chùa được xây dựng hoàn chỉnh 100 gian, 18 hạng mục công trình trở nên ngôi chùa đẹp vào bậc nhất ở vùng Kinh Bắc.

Năm 1972, do bị giặc Mỹ ném bom, nhiều công trình, hạng mục trong chùa bị đổ nát, nhiều tượng Phật bị cháy hỏng. Các năm 1975 và 2000, nhân dân xã Tam Sơn đã đóng góp sức người và tiền của tu bổ di tích với qui mô kiến trúc gần như nguyên vẹn.

Chùa Cảm Ứng hiện còn lưu giữ được nhiều pho tượng Phật, cổ vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc như Khánh đá tạo tác năm 1672, cây hương đá dựng khắc năm 1697, chuông đồng đúc năm 1826 và tấm bia đá “Tam Sơn xã đăng khoa bi kí” dựng khắc năm 1902.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sư dân tộc, chùa Cảm Ứng đã được bảo quản, trùng tu, tôn tạo với đầy đủ dáng vẻ cổ xưa. Chùa là báu vật và niềm tự hào của người Bắc Ninh-Kinh Bắc, quê hương của Vương triều Lý, một vương triều vàng son bậc nhất trong các thời kỳ phong kiến Việt Nam.

Vào những ngày chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, chùa luôn được tiếp đón đông đảo người dân, du khách đến thăm, thắp hương, tưởng nhớ tới nhiều bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao của họ trong các thời kỳ dựng nước và giữ nước

Theo website Quê Hương

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA NÚI

CHÙA NÚI

CHÙA NÚI tức Chùa Tà Cú xây dựng chính thức vào năm 1879 do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao 563m (hiện nay thuộc địa phận xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam). Trước kia ngôi chùa chỉ là một thảo am nhỏ bằng gỗ, tranh, nứa. Mãi sau này, từ ngôi chùa cổ ban đầu tách thêm một ngôi chùa ở bên dưới gần đó. Để phân biệt, chùa trên có tên là Linh Sơn Trường Thọ, chùa dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn và dân gian gọi chung là Chùa Núi.

Năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức (1812 – 1887) pháp danh Thông âm, từ miền Trung vào, một mình vượt núi, xuyên rừng, lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành. Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới phát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư nên đã góp công dựng. Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thì nhà sư viên tịch. Từ đó nhà chùa lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm làm ngày giỗ Tổ.

Lúc còn sống, nhà sư là thầy thuốc giỏi. Tương truyền vào năm Canh Thìn (1880), nhà sư đã cứu Hoàng thái hậu thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo bằng thuốc của mình. Vua Tự Đức đã ban sắc đặt tên chùa là “Linh Sơn Trường Thọ” và suy tôn nhà sư Trần Hữu Đức là “Đại lão Hòa thượng”. Ngôi chùa dưới “Linh Sơn Long Đoàn” được xây dựng vào cuốn thế kỷ XIX theo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch.


Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng đã có tiếng là nơi thắng cảnh từ xưa. Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm tam cấp theo con đường ngoằn ngoèo giữa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, hơi nước lạnh mát toát ra từ núi đá. Chùa Núi nổi tiếng nhờ ở phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng; mặt khác, bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đấp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ có một không hai. Đó là pho tượng khổng lồ “Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Bằng tài nghệ, kỹ thuật điêu khắc và lòng sùng kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Đình Ý chủ trì thực hiện vào năm 1962. Tượng Phật Thích Ca trong tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên tay phải, 2 chân duỗi thẳng, mặt quay về hướng tây nam, lưng dựa vào vách núi. Pho tượng dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn. Với hàng chục ngàn kg vật liệu đúc tượng, hàng ngàn lượt người đã phải vượt 4 – 5 km đường núi hiểm trở với thời gian dài vận chuyển đủ để tạo nên tác phẩm điêu khắc nghệ thuật này.

Cách pho tượng chừng 50m là nhóm tam thể phật trong tư thế đứng: tượng A di đà, tượng Quan Âm bồ tát, tượng Đại thế chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian.

Hằng năm vào bất cứ thời điểm nào, nhất là dịp xuân sang, hàng vạn người từ khấp nơi kéo đến chùa Núi viếng Phật, thưởng ngoạn cảnh non nước thiên nhiên.

Chùa Núi cùng với những cánh rừng bảo tồn thiên nhiên lân cận đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

* MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN TRUNG

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

LINH QUANG TỰ

LINH QUANG TỰ là ngôi chùa cổ nhất ở đảo Phú Quý và cũng là một trong những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi ở xã Tam Thanh.

Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay chùa đã có niên đại trên 250 năm.

Qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa được biến đổi dần về diện tích của các công trình kiến trúc và trang trí nghệ thuật. Đến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất, chùa bị cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị thiêu hủy, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm: chính điện, nhà Tiền hiền, võ ca, có dạng hình chữ Đinh. Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt theo qui cách “Tiền Phật hậu Tổ”.(1)

Lịch sử của quá trình xây dựng chùa Linh Quang bao gồm cả về mặt kiến trúc, tôn giáo và giá trị nghệ thuật của nền văn hóa biển trên đảo – gắn liền với quá trình định cư và phát triển của nhân dân trên đảo. Ở đây, vườn chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với thiên nhiên tạo cho ngôi chùa cổ nét gần gũi, thân quen mà không biệt lập. Từ trong những vòm cây dày bóng mát ấy nổi lên phần kiến trúc mái chùa với đầu đao, đuôi rắn vút cong thấp thoáng. Giữa biển khơi nhìn về đảo, ngôi chùa nổi lên như một tòa lâu đài cổ kính.

Linh Quang Tự còn lưu giữ nhiều văn tự cổ nói đến sự hình thành dân cư trên đảo, là nơi bảo tồn nhiều di sản văn hóa, sưu tập các pho tượng cổ quý. Có chăng pho tượng cổ, lớn gắn liền với những huyền thoại trên đảo trong các thế kỷ trước. Chiếc đại hồng chung ở chùa là quà tặng của chùa Trà Bang (Ninh Thuận), có niên đại ở cuối thế kỷ XVIII. Trong số những cổ tự lưu giữ ở chùa còn có 5 bức sắc của triều Nguyễn ban tặng. Hàng năm khi có những nghi lễ trọng đại, nhà chùa làm lễ thỉnh sắc mới đưa xuống.

Cảnh Linh Quang Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12 tháng 1 năm 1996.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , , , , , ,

LINH SƠN TỰ

LINH SƠN TỰ thiết lập vào những năm đầu của thế kỷ XIX trong khu rừng già thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong ngày nay.

Sự tích ra đời của ngôi chùa được lưu truyền trong dân gian: đầu thế kỷ XIX một nhà sư từ miền Trung vào, không biết vì lý do gì đã ẩn vào một hang đá trong rừng. Dân làng đi rừng phát hiện được tiếng tụng kinh ở hang đá vọng ra. Biết mình bị lộ, nhà sư bỏ hang đá ra đi để lại một tấm bản đồ chỉ dẫn vị trí xây cất ngôi chùa sau này. Theo đó dân làng đã chuyển vật liệu lên xây chùa. Vị trí xây dựng chùa thật lý tưởng: cảnh núi rừng âm u, yên tĩnh tạo nên sự thanh tịnh của giới tu hành. Xung quanh các đỉnh núi tạo nên tả thanh long, hữu bạch hổ, nhiều hang đá tự nhiên hình hàm ếch, hàm rồng, giếng rún rồng không bao giờ cạn nước, hang Tổ… Những hang động có sẵn của tự nhiên mà y như có sự sắp đặt của bàn tay con người.

Thời chống Pháp, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, dân làng đã dời tượng Phật vào giấu ở trong hang đá và phá dỡ chùa; mãi đến năm 1986 – 1987, mới có điều kiện xây dựng lại ngôi chùa trên nền xưa. Trước đó vài năm, nhà sư già Phạm Hành đào đất trồng chuối cạnh tảng đá “Voi phục” trước chùa, lỡi cuốc đụng phải một chiếc ấn đúc bằng đồng màu đen, nặng 650gram, ấn có hình chữ nhật, chiều dài 9,8cm, rộng 6,5cm bên trên có núm tròn để cầm. Phía lưng ấn có 15 chữ Hán khắc chìm chia thành 2 dòng hai bên núm ấn. Dòng bên phải khắc 10 chữ với nội dung: “Trung nghĩa vệ, Trung thắng tứ hiệu quán quân sứ”. Dòng bên trái khắc 5 chữ: “Tân Hợi niên đông tạo”. Dưới mặt ấn có 10 chữ khắc theo lối chữ triện; hai dòng hai bên, mỗi bên 3 chữ và dòng ở giữa 4 chữ. 10 chữ trên mặt ấn trùng với 10 chữ trên lưng ấn. Về niên đại với 5 chữ: “Tân Hợi niên đông tạo” có thể biết chiếc ấn làm vào năm Quang Trung thứ tư (1791) (Ở Bảo tàng lịch sử Hà Nội hiện lưu giữ 2 quả ấn tương tự như chiến ấn Quang Trung tìm thấy ở Linh Sơn Tự. Chiếc thứ nhất đúc năm Quang Trung thứ tư với 9 chữ Hán “Suất cùng cư quan hệ ngũ hiệu đô ty”.).

Linh Sơn tự còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như chuông đồng, tượng nhà sư Bửu Tạng, tượng Địa tạng v.v…

Mặc cho đường xá xa xôi, nhưng hàng ngày vẫn có nhiều đoàn khách từ các nơi đến chiêm ngưỡng cảnh núi rừng, ngắm cảnh chùa và tận hưởng không khí mát mẻ trong lành của Linh Sơn Tự.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA PHỤNG THÁNH

CHÙA PHỤNG THÁNH^

Chùa Phụng Thánh hiện ở ngõ Cống Trắng, phố Khâm Thiên, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Chùa Phụng Thánh cũng như làng Phụng Thánh được lý giải bằng truyền thuyết rất xưa liên quan đến vương triều Lý (1010 – 1225).

Theo truyền thuyết vào thế kỷ 12, dưới triều Lý, có một công chúa rất xinh đẹp, nàng quan tâm đến đời sống của nhân dân và phong cảnh đất nước. Một hôm nàng xin phép vua cha cho đi du ngoạn trên một chiếc thuyền. Khi con thuyền đưa nàng công chúa đến một chiếc hồ lớn thì gặp một cơn giông, làm thuyền bị đắm chết. Nhà vua bèn sai quân lýnh vớt xác, nhưng công chúa đã làm nhiều điều thiện giúp dân nên được hóa Phật. Để tưởng nhớ công lao của nàng, dân quanh vùng đã chọn mảnh đất quanh hồ để xây miếu thờ. Sau đó dân làng lại đóng góp công sức xây dựng nên ba gian nhà gỗ ở phía sau miếu để thờ Phật. Đó là tiền thân của di tích chùa Phụng Thánh.

Sau một thời gian tồn tại lâu dài, đến thời Tây Sơn, di tích nằm trong khu vực chiến trường Đống Đa, nên chùa bị hủy hoại. Sau cơn bin hòa, đến thời Nguyễn, chùa được phục hồi vào năm Ất Mão (1855) và năm Ất Sửu (1865). Đến đêm 26-12-1972 chùa bị bom B52 Mỹ phá sập khu chùa chính. Năm 1973 nhà sư Đàm Ánh trụ trì tại chùa đã tiến hành xây dựng lại di tích như hiện nay.

Di tích được dựng trên một khu đất bằng phẳng và có một khuôn viên rộng lớn bao quanh. Chùa quay mặt về hướng nam, trông ra hồ nước rộng. Trước đây, đi tích bao gồm tam quan, chùa chính, nhà tổ, nhà ngang, sân sạch và khu vườn rộng bao quanh. Do sự phát triển dân cư, tam quan chùa không còn, nên lối vào chùa hiện nay là một lối nhỏ, cửa gỗ dẫn vào hành lang nhà tổ và nhà Mẫu.

Các bộ phận kiến trúc chùa Phụng Thánh được xếp đặt trên trục bắc – nam. Sau chùa chính là sân gạch vuông dẫn tới nhà Tổ, hai dãy dải vì nằm song song với hậu cung chùa và và sân gạch tới hiên trước nhà Tổ.

Chùa chính thờ Phật, trong chùa lưu giữ 29 pho tượng tròn, trong số đó có 21 tượng hệ Phật điện, 8 pho tượng Mẫu, 2 quả chuông đồng, đồ gốm sứ, đồ gỗ, các bức đại tự, câu đối sơn son thếp vàng, bia đá.

Chùa vẫn bảo lưu được nhiều nét đẹp của kiến trúc truyền thống, đó là sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan, giữa các bộ phận kiến trúc với nhau. Các pho tượng cổ có giá trị là những tác phẩm nghệ thuật điển hình của thời Nguyễn.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 16.11.1988.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CHÙA HỘI LINH

CHÙA HỘI LINH

Chùa tọa lạc tại số 314/36, đường Cách Mạng Tháng 8, phường An Thới, thành phố Cần Thơ. Chùa được ông bà Phạm Văn Bường xây dựng vào năm 1907 với tên Hội Long Tự. Chùa còn có tên là Xẻo Cạn vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn. Trụ trì thời gian đầu là ngài Thích Khánh Hưng. Đến năm 1914, Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa và đổi tên là Hội Linh Tự. Chùa đã qua 6 đời trụ trì, Hòa thượng Thích Chơn Đức trụ trì hiện nay đang tiếp tục công việc trùng tu, bảo tồn các tượng cổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Khi chùa mới thành lập có tên gọi “Hội Long Tự” có ý mong muốn sự thịnh vượng tốt đẹp cho nhân dân quanh vùng. Từ năm 1914, lúc Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì, chùa đổi tên là “Hội Linh Cổ Tự”. Ngoài ra chùa còn có tên “Chùa Xeo Cạn”, vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn, nay đã bị bồi lấp.

Nhìn vào cổng tam quan có đại tự Hội Linh Cổ Tự cùng đôi câu đối ở hai hàng cột cổng:

– Hội thượng diên chân chùa tiếp dân thập phương quy giác lộ.

– Linh sơn khai nhãn tạng đề huế tứ chúng xuất mê tân.

Ta hiểu 2 câu đối đó: Chùa Hội Linh là nơi hội tụ mọi người trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn để nghe phật pháp và được hướng dẫn bằng phương tiện mà Phật dạy, dẫn dắt mọi người đi vào con đường sáng sủa, hạnh phúc.

Chùa Hội linh thuộc số nhà 314/36, tổ 5, khu vực 3, đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường An Thới, Thành phố Cần Thơ tỉnh Cần Thơ.

Chùa được xây cất năm 1907, lúc đó còn là vùng đất ngoại vi thị xã. Từ UBND tỉnh theo đưòng Nguyễn Trãi đi tiếp theo con đường Cách Mạng Tháng Tám khoảng 4 km rồi nhìn về bên phải ta thấy một cổng lớn mang dòng chữ “Hội Linh Cổ Tự”, từ cổng vào 200 mét là nơi tọa lạc của ngôi chùa.

Ngày 15/1/1907, để làm điều kiện, ông Phạm Văn Bường và bà Nguyễn Thị Tám đã sáng lập nên chùa Hội Linh.

Lúc đầu chùa xây cất bằng tre lá, sau đó nhờ bà con quyên góp nên 1914 chùa được xây cất bằng gỗ và gạch ngói.

Tính đến 1992, chùa đã có 6 vị Hòa thượng trụ trì:

– 1907-1914: Hòa thượng Thích Khánh Hưng

– 1914-1922: Hòa thượng Thích Hoàng Đạo

– 1922-1944: Hòa thượng Thích Trí Đăng

– 1944-1970: Hòa thượng Thích Pháp Thân

– 1970-1972: Hòa thượng Thích Pháp Thiện

– 1972- đến nay: Hòa thượng Thích Chơn Đức.

Các vị hòa thượng trụ trì ở đây là các vị chân tu, có kiến thức sâu rộng biết phân biệt rõ cái ác, cái thiện trong giáo lý và trong đời sống xã hội.

Bước vào địa phận chùa, thoạt đầu ta gặp phòng thuốc từ thiện và nghĩa địa ở phía trước chùa, đó là thuyết sinh, lão, bệnh, sử của nhà Phật.

Chùa được xây bằng vật hiện đại nhưng vẫn giữ được phong cách Việt Nam, các thiết bị trang trí, đề tài thể hiện vẫn theo những quy ước truyền thống: mai- lan- trúc- sen- rồng, bầu rượu, vv… Tóm lại, mảng điêu khắc ở chùa Hội Linh rất đáng kể, không những về số lượng mà cả về chất, tiêu biểu là tượng Giám Trai, tượng này có thể xếp vào lọai quý hiếm.

Các hiện vật trong chùa có chuông đồng, mõ, bộ binh khí (16 cái), 66 tượng chất liệu có loại gỗ, xi măng, thạch cao và đồng, giường sắt vạt gỗ và bộ bàn ghế gỗ cán xà cừ.

TVHS

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , ,