RSS

Tag Archives: miền trung

ĐỀN THỜ VUA CHĂM PÔKLONG MƠHNAI

Khác với đền tháp Chăm được xây dựng bằng kỹ thuật và chất kết dính đặc biệt mà hơn cả ngàn năm sau và đến nay vẫn làm đau đầu các nhà nghiên cứu cùng với những giá trị tuyệt vời của một nền nghệ thuật và điêu khắc.

Ðối lập với nền nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng tháp Chăm từ thế kỷ XVII trở về trước, từ thế kỷ XVII trở về những thế kỷ sau khi đất nước bị suy kiệt, nhân tài vật lực và kỹ thuật bị thất truyền, mà nhu cầu thờ phụng Tổ tiên và tôn giáo vẫn là nhu cầu thường trực nên người Chăm chuyển sang xây dựng dạng kiến trúc đền thờ và sử dụng vật liệu gỗ, ngói, vôi như người Việt và hình dạng kiến trúc như một ngôi chùa đương thời. Tiêu biểu cho dạng kiến trúc này là đền thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai.

Ðền thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai được người Chăm xây dựng trên đỉnh đồi cát thuộc thôn Lương Bình, xã Lương Sơn ở về phía Nam và cách huyện lỵ Bắc Bình 15km, cách Phan Thiết gần 50km về hướng Bắc. Ðền thờ được xây dựng để thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai – một trong những vị vua cuối cùng của Vương quốc Chămpa trước khi Vương quốc này tan rã. Theo biên niên sử Chăm, ông được lên ngôi vào đầu thế kỷ XVII và đến năm 1627 nhường ngôi lại cho con rể là Pôklong GaHul.

Ðền thờ gồm có 5 gian thờ mà các nhà khảo cổ Pháp khi nghiên cứu lịch sử Chămpa ở thể kỷ XIX gọi là điện thờ. 5 gian đền thờ xây dựng theo hình chữ T. Dãy nhà 3 gian dùng để thờ phụng : Gian giữa thờ tượng Vua Pôklong MơhNai, gian bên phải thờ tượng Bà Thứ Phi người Việt (Công Chúa con của một vị Chúa Nguyễn) cùng một số tượng Kút con của Bà. Bên trái là gian thờ Bà Hoàng Hậu Chăm Pô Bia Sơm, vợ cả của Vua cùng một số tượng Kút chạm khắc đẹp là con của Bà. Dãy nhà trước gồm 2 gian lớn để trống dùng làm nơi chờ đợi và thực hiện nghi lễ bên ngoài trước lúc vào đền thờ.

Tượng vua Pôklong MơhNai được các nghệ nhân Chăm tạc vào một khối đá xanh xám với nghệ thuật điêu khắc tinh tế, pho tượng tả cảnh nhà Vua đang ngự ở Triều đình, đầu đội Vương miện oai nghiêm. Ðây là một trong những pho tượng Chăm có kích thước lớn còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay. Hai gian thờ ở bên Tả và bên Hữu gian thờ Tượng Vua là gian thờ Tượng Bà Hoàng Hậu người Chăm Pô Bia Sơm và Tượng Bà Thứ Phi người Việt bị kẻ gian đập phá mất phần đầu, một phần thân, hiện nay chúng ta thấy còn nguyên vẹn là những phần làm lại sau này.

Hàng năm gia đình, dòng tộc Hậu duệ nhà Vua cùng đồng bào Chăm tổ chức nhiều nghi lễ tại đền thờ. Lớn nhất là dịp lễ hội Katê tổ chức vào tháng 7 Chăm lịch với quy mô và giá trị lịch sử văn hóa của nó. Vào dịp lễ hội này ở di tích tổ chức nhiều nghi lễ, phong tục theo tập quán của người Chăm, trong đó có phần lễ nghi thuộc văn hóa phi vật thể diễn ra một cách tự nhiên, sinh động. Dịp này tượng Vua được đội Vương miện thật bằng vàng, được mặc áo Ðại lễ, tượng Hoàng Hậu và bà Thứ Phi cũng được tắm rửa mặc áo, đội mũ. Ðền thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai đã bị cháy vào cuối thế kỷ XIX, sau đó người Chăm tiếp tục tu sửa lại để thờ phụng. Năm 2001 tỉnh Bình Thuận đã có dự án trùng tu tôn tạo lại toàn bộ các hạng mục của di tích nhằm giữ gìn những giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật trong những ngôi đền thờ.

Ðền thờ đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1991.

Trang DTLSDLTC Bình Thuận

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH ĐÀ NẴNG

Giáo xứ Chính Trạch thuộc giáo phận Đà Nẵng ,bổn mạng là Mẹ Trưng Nữ Vương , được thành lập năm 1954. Sau hiệp định Genever có khoãng chừng một triệu người từ miền bắc di cư vào phía nam . Đa sốlà người công giáo thuộc các giáo phận miền bắc Việt Nam , trong số đó cũng có một số dân vùng lân cận duyên huyện Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình vào Đà Nẵng. Một số định cư trên mảnh đất nay gọi là Chính Trạch . Khu đất giáo xứ Chính Trạch đang sinh sống hiện nay là do cha Jeanningros ( Cố vị ) mua của thị xã Đà Nẵng vào ngày 15-1-1954 gồm ba lô đất tổng diện tích 6705m2. Iệc mua đất đã thực hiện trước khi có phong trào di cư . Địa điểm tọa lạc của giáo xứ Chính Trạch hiện nay , vào năm 1954 là một khu đất cát hoang vu , để dân di cư có chỗ tạm trú , người ta đã thiết lập lán trại bằng những dãy nhà gỗ lợp tôn lien kết với nhau . Những người di cư ai có gia đình từ 4 người trở lên thì nhận được 1 căn , còn ít thì 2 gia đình nhận một căn .Người công giáo được sự hướng dẫn của các linh mục nên được sống chung theo từng cụm gia đình . Tại Chính Trạch đa phần thuộc gốc Quảng Bình , ban đầu nơi đây chỉ có tính cách tạm cư chứkhông tính đến định cư . Nhưng sau đã trở thành định cư với những tranh chấp cả chính quyền lẫn giáo quyền . Mãi đến năm 1958 giáo quyền mới chính thức nhìn nhận là giáo xứ , với tước hiệu Nữ Vương Hoàn Vũ .


Là người sáng lập giáo xứ cha GiuSe Ngô Đình Phú , đã xây dựng một ngôi nhà thờ với chiều dài 27m , chiều rộng 8m , cao chừng 4m . Khung nhà bằng sắt .Ngài cũng xây một ngôi nhà xứ lợp ngói vào năm 1959 diện tích 12mx7m là nhà của cha xứ ở và sinh hoạt . Khi cha Gioan Baotixita nguyễn Duy Lượng được bổ nhiệm về coi xứ.Ngài vẫn duy trì các sinh hoạt mà cha GiuSe đã khởi sự . Từ cuối năm 1989 ngài cùng cộng đoàn giáo xứ tái thiết nhà thờ và khánh thành với thánh lễ cung hiến do đức giám mục giáo phận Phanxico Xavie Nguyễn Quang Sách chủ tế vào ngày 30-5-1991 . Cha Emmanual Nguyễn Tấn Lực về nhận xứvào năm đại thánh 2000 . Ngài đã chỉnh tranglại nhà thờ ,sơn lại màu trần , thay toàn bộ kính màu các cửa vì trước đây được che kín bằng những tấm tôn nhựa . Sửa và nâng cấp cung thánh , bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ thánh GiuSe . Đến thời điểm giáo xứ mừng 50 năm thành lập . Đức giám mục bổ nhiệm cha Đôminicô Trần Công Danh về coi sóc giáo xứ từ ngày 21-8-2003 . Trong quá trình phục vụ giáo xứ cha Đôminicô đã cho tái xây dựng lại các phòng học giáo lý và nhà xứ như hiện nay. Hơn thế nữa , vì nhà thờ là nơi thánh và đã cung hiến nên ngài cũng không ngớt lo toan ,mãi đến năm 2007 có điều kiện ngài cho thay toàn bộ plafond nhà thờ bằng công nghệ tân tiến , lót gạch nền ,ốp trụ bằng Alu công nghệ mới , đồng thời chỉnh trang toàn bộ bên tong nhà thờ như hiện nay . Có thể nói là xứng với nơi được cung hiến để thờ phượng Chúa

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đồng Dài

Nhà Thờ Phước Thiện

Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà Thờ Hòa NInh

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà THờ Tân Hà

Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

Nhà Thờ Bảo Lộc

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền trung

 

Nhãn: , , , , , , ,

TƯỢNG TÔN GIÁO 4

Nhấp vào ảnh nhỏ để xem ảnh lớn:

Các bài đã đăng :

*Album Ảnh Về Chùa

*Album Ảnh Về Tượng Tôn Giáo

*Những Ngôi Chùa Mang Tên Bà

*Chùa Thánh Chúa

*Chùa Tam Bảo

*Chùa Đại Bi ( Thanh Hóa )

*Chùa tam Thai

*Trúc lâm Tịnh Viện

*Chùa Bửu Linh

*Chùa Long Hưng

*Chùa Phật Lớn Trên Núi Cấm

 

Nhãn: , , , , , ,

CHÙA TAM THAI

CHÙA TAM THAI

Chùa Tam Thai (Đà Nẵng): Một di tích lịch sử – Văn hóa quốc gia

chuatamthai

Chùa tọa lạc trong quần thể Ngũ Hành Sơn thuộc Quận Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 13km. Chùa ở sườn núi phía Nam (Thủy Sơn), đi lên 156 bậc đá, là ngôi chùa cổ được dựng vào thời Hậu Lê. Có tài liệu cho là Thiền sư Nguyên Thiều đã khai sơn chùa vào hậu bán thế kỷ XVII.

Trong quần thể Ngũ Hành Sơn có nhiều hang động đặc biệt, không giống như các hang động ở những nơi khác là không ăn sâu xuống lòng đất. Ở đâu có cảnh đẹp, có các hang động là có chùa chiền. ở Ngũ Hành Sơn cũng vậy, có tất cả ở các hòn núi, nhất là ở hòn Thủy, với nhiều động nổi tiếng và đặc biệt là ngôi chùa cổ nổi tiếng Tam Thai.

Chùa nằm trên đỉnh Hòn Thuỷ – nơi có khối đá dựng đứng nằm trên một dãy đất hình thuẫn ở về phía Bắc nhóm nũi Ngũ Hành, trên đỉnh Hòn Thuỷ có ba ngọn nằm ở thế ba tần giống như sao Tam Thai nên chùa có tên chùa Tam Thai.

Chùa Tam Thai có 3 tầng: Tầng thứ nhất ở về phía Bắc gọi là Thượng Thai. Tầng thứ hai ở về phía Nam gọi là Trung Thai. Tầng thứ ba ở về phía Đông gọi là Hạ Thai.

Tổng thể chùa được xây dựng theo hình chữ “Vương” (Hán tự) với nhiều đường nét mang tính thẩm mỹ cao. Đây là di sản hiếm quý đặc trưng cho kiến trúc đình chùa thời nhà Nguyễn.

Phía Bắc sân chùa trước kia là hành cung có tên Đông Thiên Phước, nơi vua ngồi nghỉ mỗi khi viếng cảnh chùa. Cạnh chùa còn có tháp Phổ Đông, chùa Từ Lâm, Vọng Giang Đài (đài ngắm sông). Đứng trên Vọng Giang Đài, du khách nhìn rõ bao quát cả một vùng rộng lớn gồm xóm làng, đồng ruộng bao la, bát ngát, với những con sông như Trường Giang, Cẩm Lệ lượn quanh, còn xa nữa là dãy Trường Sơn trùng điệp luôn ẩn mình trong mây mờ.

Phía trái chùa Tam Thai là động Huyền Không. Bên trong động không khí mát lạnh vì khoảng không gian khá rộng, cao. Kề bên động Huyền Không là động Linh Nham, động Tàng Nhơn và chùa Linh Ứng.

Bên phải chùa là Vọng Hải Đài (đài ngắm biển). Đứng ở đài này, người ta nhìn rõ biển trời mênh mông và nhìn thấy được Cù lao Chàm xa xa ở về phía Đông Nam.

‘Đến với chùa Tam Thai trong quần thể danh lam Ngũ Hành du khách còn được chiêm ngưỡng nhiều cảnh đẹp đến mê hồn như động Tàng Nhơn, động Linh Nham, động Vân Sơn, động Huyền Không…

Nằm trong khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, chùa đã đón tiếp nhiều du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái hàng ngày. – một ngôi chùa gắn liền mảnh đất hùng thiêng, gắn với người dân nơi đây và mang đậm dấu ấn của lịch sử. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Các bài đã đăng :

*Chùa Bát Tháp

*Chùa Thánh Chúa

*Chùa Tam Bảo

*Chùa Đại Bi ( Thanh Hóa )

*Chùa Bà Thiên Hậu

*Chùa Thiên Vương Cổ Sát

*Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang

*Chùa Đình Quán

*Chùa Núi Ông

*Album Ảnh Về Tượng Tôn Giáo

*Album Ảnh Về Chùa

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 26, 2009 in trung bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

Hình ảnh những ngôi chùa tại miền Trung

Các bài đã đăng :

*Album Ảnh Về Chùa

*Album Ảnh Về Tượng Tôn Giáo

*Những Ngôi Chùa Mang Tên Bà

*Chùa Hội Sơn

*Chùa Đót Tiên

*Chùa An Lạc

*Chùa Ấn Quang

*Chùa Quỳnh Lâm

*Chùa Núi Châu Thới

*Chùa Tường Long

*Chùa Thiên Mụ

*Chùa Cổ Tôn Thạnh

*Chùa Phật Đà

 
 

Nhãn: , , ,

CHÙA THIÊN LỘC THIỀN TÔN

thiền lộc thiên lộc

Thiên Lộc Thiền Tôn tự: Ngôi chùa cổ, một danh thắng ở Diên Khánh-Khánh Hòa

Chùa Thiên Lộc Thiền Tôn toạ lạc tại thôn Phú Ân Nam, xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hoà. Đây là một ngôi chùa cổ đẹp có gần ba trăm năm, một danh thắng, nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh, hàng năm có cả chục ngàn khách du lịch trong và ngoài nước tham quan, chiêm bái.

Chùa được xây dựng trên một vị trí khá đẹp, mặt chùa hướng phía Nam, nhìn về dãy núi Chín Khúc (còn gọi là núi Hoàng Ngưu), bên cạnh chùa là dòng sông chỉ có nước vào mùa mưa lũ, nên gọi là sông Cạn.

Thật khó xác định đúng niên đại xây dựng chùa, nhưng những cổ vật có mặt trong chùa và các Long vị thờ chư Tổ sư tiền bối cho biết, ngôi chùa đã được xây dựng cách nay gần ba thế kỷ. Trong chùa còn lưu giữ một đại hồng chung và một bảo chúng là hai vật rất xưa có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, còn truyền lại. Trên Đại hồng chung có khắc “Thiên Lộc Thiền Tôn Tự”. Trên bảo chúng có ghi “Đinh Sửu niên, nhị nguyệt, nhị thập nhụt” , như vậy bảo chúng được đúc vào ngày hai mươi tháng hai năm Đinh Sửu, sau Vía Quan Thế Âm Bồ Tát một ngày và một cây trính có khắc ngày tháng năm trùng tu chùa: “Tự Đức cửu niên, tuế thứ Bình Thìn, mạnh thu nguyệt, cát nhật, trùng kiến Thiên Lộc Tự”.

Theo Đại việt sử ký toàn thư, kể từ ngày phần đất Khánh Hoà thuộc về Việt Nam năm 1693, cho đến ngày Kinh đô Huế thất thủ, Việt Nam bị thực dân pháp xâm lược 1885, có 4 lần năm Đinh Sửu:

-Đinh Sửu (1697) nằm trong niên hiệu Chính Hoà (1680-1705)

-Đinh Sửu (1757) nằm trong niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786)

-Đinh Sửu (1817) nằm trong niên hiệu Gia Long (1802-1820)

-Đinh Sửu (1877) nằm trong niên hiệu Tự Đức (1847-1883)

Như thế, suy luận bằng phương pháp loại trừ ta có thể bỏ qua năm Đinh Sửu 1887, vì căn cứ trên một cây trính có khắc ngày tháng trùng tu chùa: “Tự Đức cửu niên, tuế thứ Bình Thìn, mạnh thu nguyệt, cát nhật, trùng kiến Thiên Lộc Tự”, tức là trùng tu chùa niên hiệu Tự Đức năm thứ 9 (l856), tháng đầu mùa thu, ngày lành. Tất nhiên chùa phải khai sơn trước thời kỳ ấy.

thiên lộc thiền tôn

Có thể tin chắc là chùa Thiên Lộc đựoc kiến tạo năm Đinh Sửu (1757) thời Cảnh Hưng. Bởi vì dưới thời chúa Nguyễn, người Đàng Trong tuy vẫn dùng danh hiệu nhà Lê, song không chịu ân uy gì của nhà Lê, nên trên văn tự chỉ ghi tuế, nguyệt mà không ghi niên hiệu cũng không hề bị tội vạ gì. Từ khi Gia Long thống nhất lãnh thổ, buộc phải viết niên hiệu trước, rồi mới viêt tuế nguyệt sau, lệnh vua không ai dám trái. Như vậy trên bảo chúng chỉ ghi tuế nguyệt, chắc chắn không phải từ thời Gia Long về sau mà thời Cảnh Hưng.

chanh diien Thien Loc

Còn về Tổ khai sơn thì có câu chuyện huyền thoại truyền rằng:

Trong thôn có người quả phụ, tục gọi là Bà Sáu, chuyên làm nghề nuôi tằm. Một đêm mùa thu, trời mát, trăng sáng, có bốn người đàn ông lực lưởng vào nhà bà xin tá túc. Nhà không có chiếu dư, cũng không đủ chỗ nằm cho bốn người, khách bèn mượn bốn chiếc nong đem ra ngoài sân nằm. Gà gáy đầu, Bà Sáu thức dậy, ra giếng múc nước rửa. Vừa bước xuống sân, thấy trong mỗi nong có một con rắng lớn nằm khoanh tròn. Bà thất kinh thét lớn, rồi ngã xuống đất bất tỉnh. Khi tỉnh lại, bà thấy bốn người khách ngồi chung quang giường. Một người nói:

-Bà đừng sợ. Chúng tôi là Long thần ở thuỷ cung. Vâng lệnh Long vương lên núi lấy gỗ. Được bà chiếu cố, chúng tôi không quên ơn. Đoạn từ giả, lên đường.

Tháng sau, trời bỗng mưa tầm tả hai ngày đêm, nước sông chảy cuồn cuộn, ngập đến thềm nhà Bà. Đêm đến, chợt bốn người đàn ông tháng trước xuất hiện, bước vào và nói: Chúng tôi chở gỗ về thuỷ phủ, nhân đi ngang ghé thăm, cám ơn bà. Nói rồi từ biệt.

Sáng hôm sau, một bè gỗ nằm ngay ngắn nơi thềm bà Sáu. Bà biết rằng đó là của Long thần tặng mình. Nhân bên cạnh nhà có một Thiền sư che một thảo am tu hành. Bà đem toàn bộ số gỗ này cúng dường cho Thiền sư để dựng chùa. Vì thế chùa có tên là Thiên Lộc (lộc trời ban) và Thiền sư ấy chính là Tổ Khai sơn chùa. Khi bà chết, được xây miếu thờ sau chùa.

Trong khuôn viên chùa còn có Miếu Ông Thạch thờ một tượng đá xanh, điêu khắc phần âm dương nam, nữ (Yoni và Linga), đây là phiến đá cổ đã vài thế kỷ của người Chăm để lại với diện tích khoảng 1m2. Phần Linga nổi hẳn lên trên, phần Yoni khắc chìm xuống dưới rất khéo léo. Phiến đá Ông Thạch được thờ không chỉ như một tín ngưỡng mà còn là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật.

Chùa Thiên Lộc Thiền Tôn nằm sâu trong một vùng đất làng quê, yên tĩnh và thơ mộng với luỷ tre làng và dòng sông uốn lượn. Trước cửa chùa là một hồ sen hình bán nguyệt, nơi đó tôn trí tượng Phật Bà Quan Thế Âm với gương mặt hiền hoà, bao dung, phóng tầm mắt xa xăm như nguyện cứư khổ, cứu nạn cho mọi người dân ở làng quê Diên An, an bình, hạnh phúc.

Trong sân chùa có 12 cây tùng được trồng thẳng tắp, rất hài hoà theo: “Thập nhị nhân duyên”. Bước vào chùa ta còn được chiêm ngưởng Đại Hồng chung đúc vào ngày 29/9/1966 nặng 340 kg, cao 1,6 mét do bổn đạo của chùa đóng góp tạo nên. Đây là chiếc Đại Hồng chung lớn nhất, nhì trong tỉnh Khánh Hoà, với tiếng ngân vang rất xa, khi nghe tiêng chuông chùa lòng người như quên đi nổi nhọc nhằn, phiền muộn của người nông dân một nắng, hai sương.

Sau chùa Thiên Lộc có một cây bồ đề to lớn, vòng ôm bốn người giang tay không xuể, cao khoảng 60m, tán xoè rộng khoảng 40m che rợp bóng vườn chùa. Đây là cây bồ đề rất đẹp, nổi tiếng, trở thành điểm tham quan cho du khách và là nơi sinh hoạt của những em học trò quanh vùng vào các ngày nghỉ. Theo Hoà Thượng Trú trì Thích Như Pháp thì cây bồ đề được trồng vào năm 1959, nhưng đất tốt, khí hậu lành, tốc độ phát triển của cây giống như một cây bồ đề cổ thụ đã 200 năm tuổi.

Thiên Lộc Thiền Tôn Tự sau gần ba trăm năm xây dựng, pháp triển và trưởng thành luôn đồng hành cùng người dân địa phương trong mọi thời đại, là điểm văn hoá của xã Diên An, ngôi danh thắng của Diên Khánh, Khánh Hoà. Chùa Thiên Lộc đã ghi dấu ấn của nhiều đời Trú trì, chư vị Tôn đức đã dày công tài bồi xây dựng, gắn bó cùng chùa:

1.- Hoà Thượng Thích Viên Dung.

2.- Thiền sư Thích Hải Tạng.

3.- Thiền sư Thích Hải Vinh.

4.- Thiền sư Thích Hải Ân.

5.- Thượng Toạ Thích Chánh Ký.

6.- Hoà Thượng Thích Như Pháp từ năm 1955 đến nay.

Bài, ảnh: Trí Bửu

Các bài đã đăng :

*Chùa Phúc Linh

*Chùa Giác Viên

*Chùa Am

*Chùa Bổ Đà

*Chùa Cổ Lầm

*Chùa Vĩnh NGhiêm – Bắc Giang

*Nam Thiên Nhất Trụ

*Chùa Long Đọi Sơn

*Chùa Chuông

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA CỔ LẦM

Chùa Cổ Lâm với chí sĩ TRẦN CAO VÂN

chùa cổ lầm

Sáng ngày 17-5-1916, chí sĩ yêu nước Trần Cao Vân, một trong những yếu nhân của tổ chức Việt Nam quang phục hội, đã hy sinh lẫm liệt tại bãi chém An Hòa (Thừa Thiên – Huế) sau khi cuộc Khởi nghĩa Duy Tân ngày 4-5-1916 không may bị bại lộ và bị kẻ thù dìm trong máu.

Cuộc đời hoạt động cứu nước 30 năm của ông mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một tấm gương trung liệt cống hiến trọn đời vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Dấu ấn đầu tiền trong cuộc đời hoạt động của Chí sĩ Trần Cao Vân là Cổ Lâm tự (chùa Cổ Lâm).

Cổ Lâm là một trong những ngôi chùa cổ ở Quảng Nam, tọa lạc tại xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc. Chùa được xây dựng vào nằm 1687, Mùa đông năm Ất Dậu 1885, trên bước đường học hỏi để mưu nghiệp và thực hiện nghĩa vụ của người trai trước vận mệnh của đất nước đang lâm nguy, Trần Cao Vân dừng chân đầu tiên ở chùa Cổ Lâm. Ông được pháp sư trụ trì tiếp đón và sắm cho vai tu sĩ của chùa.

Thế là, ngôi chùa vốn tĩnh mịch xưa nay bỗng trở nên tấp nập khách thập phương. Họ đến không chỉ để nhờ vị tăng trẻ tuổi xem quẻ, mà còn rước thầy về nhà nhắm hướng, xem phương, giúp lập nên cơ nghiệp. Thực ra, đây chỉ là hoạt động che mắt địch của Trần Cao Vân và các đồng chí. Thông qua đây, Trần Cao Vân có địp tiếp xúc với các thân hào, nhân sĩ, bô lão, gieo mầm yêu nước cho các tầng lớp nhân dân đa phương.

Sau sự kiện Nghĩa hội Quảng Nam bị thất bại (1887), chùa Cổ Lâm bị bọn tay sai chính quyền bảo hộ dò xét. Trần Cao Vân rời chùa Cổ Lâm, khăn gói ra kinh đô Huế để dự khoa thi Hương năm Mậu Tý 1888. (Lần trước, 1882, ông ra kinh dự thi, nhưng giữa đường bị cảm hàn, đành phải bỏ dở chuyện khoa cử). Lần thi này, Trần Cao Vân vào đến trường ba, song bài thi của ông nói lên nỗi lòng lương dân đang sống lao khổ, nên bị đánh trượt.

Trở lại chùa Cổ Lâm, Trần Cao Vân sống ẩn dật, để tâm suy nghĩ nhiều về con đường cứu nước, cứu dân. Ông chủ trương dùng trí tuệ để giải thoát dân tộc …Tạm thời gác lại sự giao tiếp, trong bốn năm 1888 – 1891, Trần Cao Vân chuyên chú nghiên cứu Kinh Dịch, hoàn thành bản thảo : Trung thiên Dịch. Trung Thiên Dịch của Trần Cao Vân xây dựng trên căn bản chữ “trung”. Chữ “Trung” đề cao vai trò con người giữa trời – đất. Rất tiếc sách này đã thất truyền do Nam triều tịch thu tiêu hủy. Tuy nhiên, bài thơ “Luận về thiên – địa – nhân” (Trời – Đất – Người), mà người đời sưu tầm, phần nào thể hiện triết lý của Trần Cao Vân :

Ta cùng trời đất ba ngôi sách,

Trời đất in ra một chữ đồng.

Đất nứt ta ra trời chuyển động,

Ta thay trời mở đất mênh mông.

Tháng 7-1891, chùa Cổ Lâm bị địch ra lệnh khám xét. Các sư ở chùa bị thanh lọc. Trần Cao Vân được gia đình Võ Thạch (một người đồng chí quê Đại Đồng – Đại Lộc), giúp chuyên nơi ở sang làng Đại Giang, mở trường day học. Mùa thu năm 1892, Trần Cao Vân cùng vợ và các cộng sự lên đường vào Bình Định chọn địa bàn lập căn cứ, tích trữ lương thảo, xây dựng lực lượng, đề ra cương lĩnh, đoàn kết các dân tộc, mưu đồ khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho dân, cho nước. Rời đất Quảng, Trần Cao Vân thổ lộ nỗi niềm vương vấn qua bài thơ “Vịnh Chí” :

Nợ nước đã toan tròn nghĩa vụ

Tình nhà đành gác nỗi tư lương

Nam mô nguyện trả xong rồi nợ

Mối thánh đem về cõi Hạ Thương

Chùa Cổ Lâm giờ đây nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mơ (Đại Đồng, Đại Lộc). Từ thành phố Đà Nẵng, chưa đầy một giờ xe máy, bạn.sẽ có mặt ở khu du lịch sinh thái này. Để rồi, sau những giờ phút thưởng ngoạn cảnh trí thiên nhiên thơ mộng mà hùng vĩ, bạn có thể làm cuộc hành hương về với chùa Cổ Lâm – một di tích lịch sử gắn với hoạt động cứu nước của chí sĩ Trần Cao Vân.

Các bài đã đăng :

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Tiêu Sơn Tự

*Chùa Thượng Đồng

*Chùa Bạch Liên

*Chùa Bất Nhiễm

*Chùa Phúc Linh

*Chùa Giác Viên

*Chùa Am

*Chùa Bổ Đà

 

Nhãn: , , , , , ,