RSS

Tag Archives: miên nam

NHÀ THỜ THÁNH TÂM – GÒ CÔNG

100_8391
Địa chỉ: 49 Nguyễn Trãi, phường 2, Gò Công, Tiền Giang
Chánh xứ : Linh mục Phêrô Nguyễn Phước Tường
Phó xứ     :Linh mục Phaolô Phạm Ngọc Hiền
pherotuong@yahoo.com

This slideshow requires JavaScript.

Advertisements
 
 

Nhãn: , , , , ,

CHÙA HỘI LINH

CHÙA HỘI LINH

Chùa tọa lạc tại số 314/36, đường Cách Mạng Tháng 8, phường An Thới, thành phố Cần Thơ. Chùa được ông bà Phạm Văn Bường xây dựng vào năm 1907 với tên Hội Long Tự. Chùa còn có tên là Xẻo Cạn vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn. Trụ trì thời gian đầu là ngài Thích Khánh Hưng. Đến năm 1914, Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa và đổi tên là Hội Linh Tự. Chùa đã qua 6 đời trụ trì, Hòa thượng Thích Chơn Đức trụ trì hiện nay đang tiếp tục công việc trùng tu, bảo tồn các tượng cổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Khi chùa mới thành lập có tên gọi “Hội Long Tự” có ý mong muốn sự thịnh vượng tốt đẹp cho nhân dân quanh vùng. Từ năm 1914, lúc Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì, chùa đổi tên là “Hội Linh Cổ Tự”. Ngoài ra chùa còn có tên “Chùa Xeo Cạn”, vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn, nay đã bị bồi lấp.

Nhìn vào cổng tam quan có đại tự Hội Linh Cổ Tự cùng đôi câu đối ở hai hàng cột cổng:

– Hội thượng diên chân chùa tiếp dân thập phương quy giác lộ.

– Linh sơn khai nhãn tạng đề huế tứ chúng xuất mê tân.

Ta hiểu 2 câu đối đó: Chùa Hội Linh là nơi hội tụ mọi người trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn để nghe phật pháp và được hướng dẫn bằng phương tiện mà Phật dạy, dẫn dắt mọi người đi vào con đường sáng sủa, hạnh phúc.

Chùa Hội linh thuộc số nhà 314/36, tổ 5, khu vực 3, đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường An Thới, Thành phố Cần Thơ tỉnh Cần Thơ.

Chùa được xây cất năm 1907, lúc đó còn là vùng đất ngoại vi thị xã. Từ UBND tỉnh theo đưòng Nguyễn Trãi đi tiếp theo con đường Cách Mạng Tháng Tám khoảng 4 km rồi nhìn về bên phải ta thấy một cổng lớn mang dòng chữ “Hội Linh Cổ Tự”, từ cổng vào 200 mét là nơi tọa lạc của ngôi chùa.

Ngày 15/1/1907, để làm điều kiện, ông Phạm Văn Bường và bà Nguyễn Thị Tám đã sáng lập nên chùa Hội Linh.

Lúc đầu chùa xây cất bằng tre lá, sau đó nhờ bà con quyên góp nên 1914 chùa được xây cất bằng gỗ và gạch ngói.

Tính đến 1992, chùa đã có 6 vị Hòa thượng trụ trì:

– 1907-1914: Hòa thượng Thích Khánh Hưng

– 1914-1922: Hòa thượng Thích Hoàng Đạo

– 1922-1944: Hòa thượng Thích Trí Đăng

– 1944-1970: Hòa thượng Thích Pháp Thân

– 1970-1972: Hòa thượng Thích Pháp Thiện

– 1972- đến nay: Hòa thượng Thích Chơn Đức.

Các vị hòa thượng trụ trì ở đây là các vị chân tu, có kiến thức sâu rộng biết phân biệt rõ cái ác, cái thiện trong giáo lý và trong đời sống xã hội.

Bước vào địa phận chùa, thoạt đầu ta gặp phòng thuốc từ thiện và nghĩa địa ở phía trước chùa, đó là thuyết sinh, lão, bệnh, sử của nhà Phật.

Chùa được xây bằng vật hiện đại nhưng vẫn giữ được phong cách Việt Nam, các thiết bị trang trí, đề tài thể hiện vẫn theo những quy ước truyền thống: mai- lan- trúc- sen- rồng, bầu rượu, vv… Tóm lại, mảng điêu khắc ở chùa Hội Linh rất đáng kể, không những về số lượng mà cả về chất, tiêu biểu là tượng Giám Trai, tượng này có thể xếp vào lọai quý hiếm.

Các hiện vật trong chùa có chuông đồng, mõ, bộ binh khí (16 cái), 66 tượng chất liệu có loại gỗ, xi măng, thạch cao và đồng, giường sắt vạt gỗ và bộ bàn ghế gỗ cán xà cừ.

TVHS

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA PHƯỚC HẬU

Từ Thành phố Cần Thơ, xuôi dòng sông Hậu về phía hạ lưu cách thị trấn Trà Ôm không đầy một cây số, bạn sẽ thấy ở Tản Nhạn có một ngôi chùa cổ đứng giữa những tán tre già. Đây là một di tích có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX cũng như lịch sử Cách mạng của tỉnh Vĩnh Long và khu Tây Nam Bộ. Giữa thế kỷ XIX nơi đây chỉ là một am nhỏ do các tu sĩ từ miền Trung vào đây lập nên. Nhờ công quả của các vị ấy cùng với dân làng Đông Hậu qua nhiều lần xây cất, trùng tu chùa Phước Hậu trở thành một thiền điện uy nghiêm. Từ đời Hoà thượng Hoàng Chỉnh khai sơn năm 1910 ngôi chùa là một trong các Tổ đình của Thiền Tông Nam Tế ở Việt Nam. Gọi là Tổ đình bởi trong Tháp Đa Bảo của chùa Phước Hậu có thờ di cốt của các vị cao tăng từng lãnh đạo phong trào Phật giáo ở Nam Kỳ, một phong trào tiến bộ nhằm gắn đạo phật với truyền thống dân tộc và đời sống xã hội, đó là Thiền sư Khánh Hoà người khởi xướng phong trào đấu tranh Phật giáo vào năm 1930, Thiền sư Huệ Quang vị pháp chủ đầu tiên của Giáo hội, Thiền sư Khánh Anh pháp chủ đời thứ hai, vị thứ tư là Hoà thượng Thích Quảng Đức, nhà sư đã tự thiêu tại Sài Gòn ngày 11/6 /1963 để phản kháng chế độ Ngô Đình Nhiệm được giới phật tử tôn vinh là Bồ Tát.

Chùa Phước Hậu xứng danh là một Tổ đình, bởi đây là nơi trụ trì hành đạo của nhiều vị hoà thượng có học vấn uyên bác, có tinh thần yêu nước và xu hướng tư tưởng tiến bộ. Nhiệm chủ đời thứ hai là Hoà thượng Khánh Anh trụ trì từ năm 1939 đến năm 1961, ông là một học giả lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Ông có công rất lớn trong việc nghiên cứu và giảng dạy Phật học ở Nam Bộ, đào tạo nhiều thế hệ tăng ni trong đó có các vị đã trở thành rường cột của Giáo hội như Thiện Hoà, Chí Thiện, Thanh Từ, Diệu Linh, Diệu Tỉnh…ông còn biên soạn nhiều kinh điển, phiên dịch nhiều tác phẩm phật học có giá trị. Thiền sư Khánh Anh không những tinh thông kinh kệ mà còn giỏi văn thơ, trong đời thường cũng như trong chữ nghĩa ông đã để lại trong lòng các môn đệ hình ảnh một người có tâm hồn lạc quan, rộng lượng và giàu lòng yêu nước, ông là một trong những người đã tích cực vận động cho phong trào thống nhất Phật giáo Việt Nam. Thiền sư Khánh Anh được đề cử vào chức vụ cao nhất của giáo hội vào năm 1959, sau khi Thiền Sư Khánh Anh tạ thế năm 1961, người kế nghiệp là Thượng toạ Thiện Hoa tiếp tục làm rạng rỡ thêm truyền thống của chùa Phước Hậu, là một cao tăng xuất gia từ năm lên bảy tuổi, ông đã giành trọn cuộc đời để phát huy những thành quả của các bậc tôn sư, ông dày công biên tập và xuất bản hàng trăm tác phẩm để quảng bá tư tưởng Phật giáo yêu nước và tiến bộ cho công chúng trong hoàn cảnh Miền Nam đang bị xâm lược bởi chủ nghĩa thực dân mới. Ông cũng là người đã góp phần to lớn làm cho học viện ấn Quang trở thành một trung tâm đào tạo cán bộ, một cơ sở hành pháp có uy thế có sức mạnh đoàn kết tăng ni phật tử vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì độc lập tự do. Chùa Phước Hậu dưới sự cai quản của ông càng tỏ rõ hơn ngôi vị một tổ đình, nơi mà chân tu phước đạo đã trở thành truyền thống đến ngày nay.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 28, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA LINH THỨU

Chùa thường được gọi là chùa Sắc tứ, tọa lạc gần chợ Xoài Hột, xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Chùa được dựng vào khoảng thế kỷ XVIII. Năm 1811, Vua Gia Long đổi tên chùa là Long Tuyền. Đến năm 1841, Vua Thiệu Trị đổi tên Linh Thứu. Chùa được trùng tu nhiều lần dưới thời Thiền sư Nguyệt Hiện (giữa thế kỷ XVIII), Hòa thượng Chánh Hậu (cuối thế kỷ XIX) và các Sư bà Như Nghĩa, Thông Huệ và Như Chơn (từ năm 1945 đến nay). Chánh điện chùa được bài trí trang nghiêm, chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ, đại hồng chung (năm 1745), các bao lam chạm trổ công phu và nhiều câu đối có ý nghĩa Phật pháp.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 28, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

MIẾU ÔNG BỔN

Miếu Ông Bổn có tên chính thức là 二府廟 – Nhị Phủ Miếu, tọa lạc tại số 264, đường Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Miếu được xem là một trong những đền miếu xưa nhất của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là công trình kiến trúc đặc sắc có giá trị lịch sử – văn hoá, không chỉ thể hiện sự giao lưu văn hóa Hoa – Việt, mà còn đánh dấu sự định cư và phát triển của người Hoa Phúc Kiến, gắn liền với sự phát triển của Sài Gòn xưa.

Miếu thờ Ông Bổn, tức Chu Đạt Quan – một viên quan nhà Nguyên, Trung Quốc, được người Hoa Phúc Kiến ở Sài Gòn tôn là Bổn Đầu Công – vị thần bảo vệ đất đai và con người vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Hằng năm, miếu mở nhiều lễ hội, đặc biệt hội rằm tháng Giêng và tháng Tám – ngày sinh và ngày hoá của Ông Bổn – là hai ngày lễ hội lớn nhất trong năm.

Về lai lịch Bổn Đầu Công,học giả Vương Hồng Sển cho biết:

Nguyên đời Vĩnh Lạc (1403 -1424), vua có sai ông thái giám Trịnh Hòa (sáchPháp âm: Cheng Ho), cỡi thuyền buồm dạo khắp các nước miền Đông Nam Á ban bố văn hoá Trung Hoa, và luôn dịp mua về cho hoàng đế Minh Triều những kỳ trân dị bửu Ấn Độ, Xiêm La, Miến Điện,Cao Miên, Việt Nam, Chiêm Thành, Tân Gia Ba, Chà Và, Nam Dương Quần Đảo, v. v…
Trịnh Hòa tỏ ra vừa nhà thám hiểm, du lịch, khảo cứu địa dư, ngoại giao, ngôn ngữ học, mỗi mỗi đều tài tình. Đi đến đâu, ông thi nhân bố đức, và đưa người Tàu đến lập nghiệp đến đó, hoặc chỗ nào có người Trung Hoa ở sẵn thì ông chỉnh đốn sắp đặt cho có thêm trật tự, v.v…, sau nầy ông mất, dân ngoại kiều cảm đức sâu, thờ làm phúc thần, vua sắc phong “Tam Bửu Công”, cũng gọi “Bổn Đầu Công” (đọc giọng Tàu là Bủn Thầu Cúng) gọi tắt là “Ông Bổn”.[7]

Ở Nhị Phủ, trang thờ “Phúc đức chính thần” tức ông Bổn, chiếm vị trí trung tâm của gian chính điện. Tượng ông Bổn bằng gỗ cao khoảng 1,5m, thể hiện một ông già quắc thước, khoan hòa với chòm râu bạc trắng buông dài, dáng ngồi thoải mái, một tay gác lên tay ngai, một tay vuốt chòm râu…

Ngoài Ông Bổn được thờ chính (ngày lễ tế: 15 tháng 8 ÂL), Nhị Phủ còn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế  Quảng Trạch Tôn Vương, Quảng Đại Tôn Vương, Thái Tuế, Quan Công, Quan Thế Âm bồ tát, Chúa Sanh nương nương, Hoa Phấn phu nhân, cùng rất nhiều vị thần khác.

Miếu Ông Bổn được thành lập do sự đóng góp của người Hoa gốc ở hai phủ Tuyền Châu và Chương Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, vì thế mới có tên là Nhị Phủ Miếu. Về sau, người Tuyền Châu xây dựng hội quán riêng có tên là Ôn Lăng, người Chương Châu xây dựng hội quán Hà Chương. Miếu Nhị Phủ được dùng làm hội quán của bang Phúc Kiến.

Miếu Nhị Phủ tọa lạc trong một khuôn viên có diện tích khoảng 2.500 m2, kiến trúc tổng thể theo hình chữ – Khẩu, gồm bốn dãy nhà dài, vuông góc nhau, khoảng trống ở giữa tạo nên sân thiên tỉnh. Mỗi khối nhà đều có một lớp mái riêng, lợp ngói ống, diềm mái lợp bằng ngói men xanh. Tiền điện có hai tầng mái, trang trí công phu.


Miếu Nhị Phủ có kết cấu quy mô với những vòm cửa bằng đá, những hàng cột gỗ to, có cột cao đến 7 m, chân cột kê trên các chân đế bằng đá chạm trổ mỹ thuật. Qua hết khoảng sân rộng, du khách sẽ thấy cặp kỳ lân bằng đá chầu hai bên tam cấp. Từ đây, du khách có thể nhìn rõ các bông sen chạm ngược ở đầu thanh chống xà gỗ, các tượng long mã, kỳ lân… gắn trên kèo, cột dưới mái hiên. Vách mặt tiền miếu được ghép bằng các phiến đá. Ngoài hai ô cửa sổ tròn, trên vách còn các phù điêu ghép bằng mảnh sứ hình rồng, hổ, thần tiên… Kết cấu gỗ chính của toàn bộ công trình là chồng rường giả thủ, tựa như năm ngón tay vươn lên, mỗi “giả thủ” biến thể hình quả bí thanh thoát, trang trí rườm rà và màu sắc.

Miếu Ông Bổn hiện còn lưu giữ nhiều liễn đối và hoành phi bằng gỗ, phần lớn có niên đại từ năm 1864 – 1901.Ngoài ra, miếu còn hai quả chuông, một bằng đồng và một bằng gang.

Hàng năm, miếu Nhị Phủ có nhiều ngày cúng tế, thu hút đông đảo đồng bào Hoa – Việt đến tham dự. Hai ngày tế lễ chính là rằm tháng Giêng và rằm tháng Tám – ngày sinh và ngày mất của ông Bổn. Lễ vật cúng tế gồm ngũ sinh (thịt của năm loài vật, trong đó phải có một con heo và một con dê sống đã làm lòng), ngũ quả (năm loại trái cây), hương hoa…

Miếu ông Bổn toạ lạc trong khu vực quận 5, là khu vực đông người Hoa sinh sống. Đây cũng là một địa chỉ thu hút nhiều du khách đến tham quan và lễ bái, đặc biệt là các du khách người Hoa ở các nước.

Miếu Nhị Phủ là một trong những ngôi chùa miếu, có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở TP. HCM. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa (Phúc Kiến).

Vì vậy, vào ngày 30 tháng 8 năm 1998, miếu Nhị Phủ đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là một Di tích Văn hóa Lịch sử cấp quốc gia Việt Nam.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 24, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA LONG HƯNG

CHÙA LONG HƯNG

(CHÙA MỘT CỘT Ở SÓC TRĂNG)

Từ QL1 đi vào, chỉ có thể bằng xe máy hoặc đi bộ, trên con đường rợp bóng cây, thoang thoảng mùi hương lúa, hương hoa, gió mát từ sông Kinh Xáng thổi vào cho bạn cảm giác đồng quê dễ chịu. Tới Tịnh xá Ngọc Hưng, quang cảnh một ngôi chùa bình thường, khu nhà gỗ thờ phật, phật bà Quan Âm đứng trên những hòn non bộ làm bằng đá cao sừng sững, dưới lá sen nở… Bạn còn đang choáng ngợp cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây thì ngay bên cạnh bên Tịnh Xá Ngọc Hưng là chùa Long Hưng mà phía sau ngôi chùa là một ngôi chùa Một Cột qui mô lộng lẫy giữa một ao sen đẹp.

Chùa Long Hưng còn gọi là chùa Bốn mặt. Theo truyền thuyết của những người già kể lại rằng trong khu đất của dòng họ Châu khai phá canh tác trồng cây trái bốn mùa đều xanh tốt, bỗng một sáng nọ, trên miếng đất cao nhất, có khí vượng nổi lên một phật đá bốn mặt to bằng cái thúng úp, biết là điềm lành, dòng họ Châu đã bàn bạc thống nhất xây cất ngôi chùa bằng lá đơn sơ thờ phật bốn mặt, trải qua một thời gian, với địa thế chùa mọi người gọi là chùa Long Hưng và từ đó đến nay tên gọi được giữ mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Long Hưng còn có nghĩa là Rồng thịnh, mảnh đất ấy có hình dáng của một con rồng, và hưng, theo giải thích của nhiều người vừa là sự thịnh vượng vừa là chữ cuối của làng Khánh Hưng xưa của thị xã Sóc Trăng. Chùa có niên đại hơn 200 năm nay, đầu tiên do dòng họ Châu quản lý, theo năm tháng đến nay trở thành chùa của các phật tử muốn tu hành, tụ điểm sinh hoạt tín ngưỡng của đông đảo đồng bào trong vùng. Hiện nay chùa nằm ở số 42A đường Điện Biên Phủ, khóm 1 phường 6 thị xã Sóc Trăng.

Do yêu cầu của nhiều phật tử và cũng là nỗi niềm riêng của hoà thượng Thích Hồng Chánh (còn gọi là Lý Công Khanh), một Hoà thượng có lòng yêu quê hương đất nước và trí tuệ thông mẫn, trước 1975 – Hoà thượng đã cho xây thêm chùa “Một cột” thờ phật bà Quan Âm trong nội khu chùa Long Hưng giữa năm 1965 và đầu năm 1966 thì hoàn thành, bản thảo kiến trúc do chính hoà thượng Thích Hồng Chánh chủ trì có sự tham gia đóng góp ý kiến của huynh đệ là hoà thượng Trí Bổn (hiện nay tu ở chùa Vĩnh Hưng – cũng tại thị xã Sóc Trăng). Với tài nghệ của các phật tử, chùa Một cột được xây dựng bằng bê tông cốt thép vững chắc nhưng vẫn giữ được nét mảnh mai mà uy nghi và đặc biệt giữ được nét truyền thống Á Đông theo mô-típ kiến trúc của chùa Một Cột tại Hà Nội. Nhìn xa xa, trong hơi nước ban mai, hay sương chiều tà mới chiêm ngưỡng thấy hết được vẻ đẹp của ngôi chùa có nét cổ kính, lòng ta nao nao nhớ về thủ đô Hà Nôi, nơi có ngôi chùa nguyên bản, trái tim của tổ quốc.


Chùa “Một cột” ở chùa Bốn Mặt – Long Hưng nhìn từ ngoài vào rất thanh mảnh và có nét riêng độc đáo, vừa có nét chung của truyền thống đình, chùa ở phương đông. Chùa cao khoảng 8 m (kể từ đáy hồ lên đỉnh), có 18 bậc lên xuống rộng 1 m được nâng đỡ bởi một cột xi măng cốt thép chữ H sát bờ. Cả ngôi chính điện của chùa được chịu bằng một cột tròn âm xuống ao sen, có đường kính khoảng 2m, xung quanh được bao bọc 3 vòng lớn của 4 chú rồng lớn, ngẩng đầu về 4 hướng, phật Thích Ca ngồi thiền dưới bóng cây bồ đề toả mát, đó cũng là hướng chính của điện thờ chùa Long Hưng. Quanh cột trụ các nghệ nhân còn trang điểm những áng mây trắng bồng bềnh làm cho ta có cảm giác như cả toà nhà được các con rồng cuốn bay đi lơ lửng giữa trời mây, chốn thần tiên. Trong khói chiều phảng phất, sưng mù ban mai càng cho ta cảm giác hư hư thực thực của nơi thờ phật.

Người xưa đã khéo kết hợp giữa kiến trúc xây dựng với không gian thiên nhiên tạo nên hình như vừa gần gũi vừa có nét thần tiên. 8 cột chống (bát chánh đạo) phía trên một cột như 8 cánh tay của người lực lưỡng đỡ toà điện thờ. Phía trên bát chánh đạo là 12 cột vuông vắn, viền bao lơn quanh toà điện thờ trong kết cấu hài hoà vững chắc, nền lát gạch bông màu xanh dịu. Trong khu chính điện xây một bệ thờ rộng 1,2m X 1m, mặt bệ làm bằng đá mài màu xanh có vân cẩn đá xanh đậm và đen, cao 0,8m phía trước có trang trí hoa văn hình kỷ hà, trong vành tròn vẽ một chiếc tàu đang vượt sóng trùng khi. Trên bệ thờ là ngoài bát nhang lớn màu lam phía trong là bức tượng bà Quan Âm làm bằng thạch cao đứng trên toà sen hồng tay phải giơ cao bắt ấn, tay trái cầm bầu nước cam lồ. Phía sau là một bức tranh phong cảnh sơn thuỷ hữu tình với màu sắc sặc sỡ vẽ cảnh dòng sông núi non cây cối, đặc biệt là có bụi tre ngà và hình con chim Phượng đang chao lượn ngậm chuỗi hạt trai. Trong khói nhang đèn mờ ảo..ta thấy tượng phật Quan Âm bồ tát sống động như đang từ cõi tiên về với đời thường…

Đường dẫn lên chùa Một Cột ở Sóc Trăng

Trên mái chùa là hình như quen thuộc với nét cong mái đao cổ kính, đỉnh cao nhất được gắn 2 con rồng bằng gốm nung đang châu đầu vào nhau thể hiện thuyết “Lưỡng Long Tranh Châu”. Bốn góc mái theo đường cong có 4 con cá chép to, nhân dân gọi là cá Hóa Long cùng chầu vào đỉnh cao. Bao quanh chùa Một Cột là một ao sen với diện tích trên 200m2 xung quanh bờ được gắn đan xi măng làm kè chống sạt lở và xung quanh ao là các loại cây trái bốn mùa tươi tốt, tích hương tạo mật, cùng hương hoa sen lan tỏa làm ngây ngất hồn người. Trước bậc lên chùa, hai bên là hai cây hoa sứ nở hoa trắng bốn mùa, chính giữa là một cây mai tứ quý… tạo cho chùa “Một Cột” vừa cổ kính, trang nghiêm vừa thực vừa hư như cho ta lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh…

Chùa “Một Cột” ở Sóc Trăng cùng với những danh lam thắng cảnh khác như chùa Dơi, Chùa Đất Sét, Khu du lịch văn hoá Hồ Nước Ngọt, Bình An và hàng trăm ngôi chùa Khmer, Hoa, Việt khác … với những nét kiến trúc văn hoá độc đáo của Sóc Trăng là những điểm du lịch lý thú hấp dẫn du khách bốn phương về thăm…một vùng miền quê sông nước hữu tình, vườn cây trái ngọt trĩu quả và những lễ hội, phong tục tập quán của mảnh đất đậm đà bản sắc văn hóa đa dân tộc…

(SocTrangonline)

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 23, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA ĐẤT SÉT

Chùa Đất Sét mang đậm nét văn hóa Việt Nam vì nguyên thủy, chùa chỉ thờ Phật. Nhưng triết lý của chùa Đất Sét và rất nhiều ngôi chùa khác trên khắp VN là ” tam giáo đồng qui” ( Phật – Lão – Nho). Cho nên, tại chùa Đất Sét ( Bửu Sơn Tự), các bạn sẽ thấy chùa vừa thờ các vị phật như Thích Ca Mâu Ni, Như Lai, Quán Thế Âm lại có các vị thần Thiện , Ác ( đạo Lão) và cũng có các “Mẫu” đặc trưng của người Việt.

* Những nét đặc biệt của chùa Đất Sét

Chùa Đất Sét còn có tên là Bửu Sơn tự nằm ở khóm 1, phường 5, thị xã Sóc Trăng. Chùa nổi tiếng bởi những vật được tạo hình từ đất sét. Từ tháp Đa Bảo 13 tầng, tháp Bảo Tòa cao hai mét, đến Lục Long Đăng và nhiều thứ khác đều làm bằng đất sét, sau đó được phủ ngoài bằng nước sơn, kim nhũ. Chùa Đất Sét là một công trình kiến trúc độc đáo ở Việt Nam.

Chùa Đất Sét đuợc xây dựng từ rất lâu để thờ Phật tại gia của dòng họ Ngô. Thuở ban đầu, Chùa được cất bằng các loại cây bình thường ở địa phương. Trải qua bao năm tháng nên đã bị hư mục khá nhiều và cũng đã được con cháu trong dòng họ tu sửa nhiều lần theo cấu trúc ban đầu. Mãi đến năm 1928, ông Ngô Kim Tông đã thực hiện một ý tưởng của mình là dùng chất liệu đất sét tại chỗ để dựng nên một ngôi chùa và tạc các tượng thờ Phật.

Xin nói thêm, khi ra đời, Bửu Sơn Tự là một ngôi chùa nghèo nên không có tiền mua tượng Phật về thờ. Nhưng với lòng mến mộ Phật pháp, ông Ngô Kim Tòng ( trụ trì đời thứ 5) đã miệt mài xây đắng ngôi chùa Đất Sét hiện nay trong suốt 42 năm ròng rã. ( Nếu ngày xưa ông Ngô Kim Tòng có tiền thì ắt hẳn ông đã “thỉnh” những pho tượng bằng thạch cao hay xi măng hoặc giả là ông sẽ thuê thợ về tạc tượng chứ không tự mình nặn ra các bức tượng của chùa Đất Sét ngày nay,).

Theo lời kể của người giữ chùa hiện nay, khi còn trẻ, ông Ngô Kim Tòng là một người hay đau yếu nhưng rất mộ đạo. Vì lòng mộ đạo nhưng lại không có tiền nên một hôm, ông Ngô Kim Tòng nằm mơ thấy Phật đến chỉ bảo cho ông đi về hướng tây để lấy đất sét về xây đắp tượng mà thờ. Có lẽ do đức tin cùng với lao động mà sức khỏe của ông ngày một cải thiện. Trong suốt 42 năm miệt mài sáng tạo, ông Ngô Kim Tòng đã dùng đất sét trộn với “mạt cưa làm nhang” ( bột hương) và keo Ô Dước để ngày nay, theo thống kê, chùa Đất Sét có 1991 tượng đất sét lớn nhỏ do một tay ông Ngô Kim Tòng làm ra. Trong đó, có những tác phẩm hết sức kỳ công như: 3 đỉnh; 6 lư hương; 1 toà sen nghìn cánh, mỗi cánh có 1 tượng Phật; 1 tháp Gia Bảo 13 tầng có 208 cửa, 208 tượng Phật và 156 con rồng nâng toà tháp. Tòa bảo tháp là một kỳ công mà ông Ngô Kim Tòng đã tạo ra để thỉnh Xá Lợi Phật về làm lễ trong vòng 2 giờ đồng hồ rồi mang trả lại. Tòa bảo tháp này có hình bát giác, theo nhiều người,hình bát giác là tượng trưng cho triết lý bát quái của Á Đông và đạo giáo ( càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài) nhưng theo tôi, hình bát giác đó là tượng trưng cho Bát Chánh Đạo ( Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm & Chánh định ) của Phật giáo hơn là Đạo Giáo. Tuy nhiên, để biết ai chính xác hơn, nếu bạn nào có dịp thì xin hãy đến chùa Đất Sét để xác minh lại nhé!

Ngoài hàng ngàn bức tượng bằng Đất Sét ra, chùa còn có 8 đôi đèn “cầy” ( nến) khổng lồ rất đặc biệt. Để đổ được 8 đôi đèn này, ông Ngô Kim Tòng đã phải mua sáp “thiệt” ( sáp nguyên chất, không lẫn tạp) từ “Sài Gòn” về nấu chảy ra rồi mới “đúc” đèn. Do các đôi đèn này có kích thước quá to nên ông Ngô Kim Tòng không tìm được khuôn thích hợp nên ông đã dùng tôn lợp nhà làm khuôn “đúc” đèn. Sau một tháng, các đôi đèn mới khô hẵn, khi dở bỏ khuôn, các đôi đèn này tự nhiên có hình dợn sóng của các tấm tôn!!!!! Sau đó, một đôi đèn nhỏ đã được thắp lên ròng rã trong 32 năm mà không tắt kể từ ngày ông Ngô Kim Tòng viên tịch.


Một chi tiết khá thú vị khác là người giữ chùa hiện tai là một ông lão tuổi đã ngoài 80 nhưng vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn.. Đến chùa, ngoài sự độc đáo của ngôi chùa ra, sự am hiểu của người giữ chùa cùng với vốn tiếng Pháp điêu luyện của ông cũng làm cho mọi người thán phục.

Sau khi nghe thuyết minh xong, các vị khách đã hết sức thán phục trước tài năng, sự sáng tạo và lòng kiên trì của ông Ngô Kim Tòng để ngần ấy hiện vật ra đời trong suốt 42 năm ròng rã.

* Vấn đề bảo tồn di tích

Trải qua bao năm tháng, ngôi chùa có nhiều hiện vật bi xuống cấp do ý thức giữ gìn của một số du khách chưa cao. Do ông Ngô Kim Tòng khéo tay, các tượng “đất sét do ông nặn ra khá tinh xảo lại được sơn phủ bên ngoài bằng sơn, kim nhũ nên các hiện vật trông rất giống đồng thao, thạch cao hay xi măng. Có nhiều du khách hiếu kỳ đã bẻ gãy hiện vật để xác định xem tượng làm bằng vàng!!!!! hay đất sét. Trên các đôi đèn sáp thì có “hằng hà sa số” vết vân móng tay của du khách như ghi dấu lại kỷ niệm của những lần viếng thăm.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 23, 2009 in nam bộ

 

Nhãn: , , , , , , , ,