RSS

Tag Archives: nam định

LỜI NGUYỀN Ở CHÙA KHÔNG SƯ

Lời nguyền ở chùa không sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo Phật và khói nhang, tượng Phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng Phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng Phật, cái gì liên quan đến nhà Phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên…

Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí… Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ – chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

Người giữ… “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất Phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề.

Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng Phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Như đoán được suy nghĩ của khách, ông kể rằng: Kể từ khi ngôi chùa này có mặt trên doi đất hình con cá chép này thì tổ tiên nhà ông là những Thủ từ truyền từ đời này qua đời khác, những khi có việc làng, trùng tu hay lễ hội thì ông lại bàn giao cho làng sử dụng. Lúc hội làng sắp mở, làng bắt đầu cắt cử đội bảo vệ chùa, chọn ông chủ lễ phải là người “đức cao vọng trọng”. Thường người được chọn là bậc cao niên, hai ông bà còn song toàn, phải thượng thọ, được ăn yến lão.

Khi hội làng vừa xong, lại bàn giao ngôi chùa này cho ông Thủ từ. Nên, mọi lịch sử, biến đổi đều do Thủ từ ghi chép lại trong cuốn “Hành thiện xã chí”, Ông vừa làm nhiệm vụ khói nhang cho đức Phật.

Ông Thủ từ cho biết: “Bố tôi kế nghiệp của ông tôi, ông tôi kế nghiệp của cố… đã qua 20 đời nhà tôi làm nghề Thủ từ. Và đến đời tôi, cũng phải ghi chép đầy đủ mọi cái diễn ra, từ cái nhỏ, đến cả tên tuổi, ngày tháng năm sinh của các Thủ từ. Nên cũng từ đó, ngôi chùa có bao nhiêu bí mật đều nằm trong cuốn “Hành thiện xã chí” cả, nhưng số người được tiếp cận tính đến nay thì rất hiếm”.

Cuốn “Hành thiện xã chí” còn ghi, cách đây mấy trăm năm, chùa đã từng có rất nhiều vị sư hành khất đến, ở được một thời gian, thấy trong người khó ở, lại khăn gói ra đi bởi nhiều điều không ngộ ra giáo lý của ngôi chùa, cũng bởi trong người có một cái gì đó rối rắm như tơ vò mà ra đi không giải thích lý do gì. Ông Thủ từ cho biết: “Cách đây vài năm, có một vị sư khăn gói từ Thái Bình lên, quyết tâm xin ở lại tu đạo và cũng là nghiên cứu, hóa giải lời nguyền nhưng rồi cũng phải ra đi.

Lúc đó, Thầy bảo tôi là bị nhức đầu, suy nhược thần kinh, không đủ khả năng để tịnh cái tâm, phải đi mới yên ổn”.

Từ đó, câu chuyện về chùa không sư lại tăng thêm phần kỳ bí, nhưng đến giờ chưa một nhà làm khoa học, học thuật hoặc nhà sư nào hóa giải nổi tính khí huyền thoại của ngôi chùa. Còn ông Thủ từ kín đáo ấy, có bao nhiều bí mật về ngôi chùa lạ, ông mãi giấu những điều bí mật thuộc về giới đạo chăng?

Lịch sử chùa không sư

Trong cuốn “Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập” có ghi, chùa Hành Thiện do thánh Không Lộ Thiền sư (1016- 1094) xây cất. Thiền sư Không Lộ xuất thân trong một gia đình họ Dương, làm nghề ngư phủ, lớn lên ông xuất gia theo thiền sư Lôi Hà Trạch. Truyền thuyết còn kể lại rằng, khi viên tịch, ông hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên khúc gỗ trầm hương biến thành tượng.

Thánh tượng này còn được lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, không cho ai được thấy dung nhan của ngài. Cứ phải qua 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử để làm lễ trang hoàng tượng thánh. Nên rất nhiều du khách đến chùa muốn xem “mặt ngài” cũng phải đợi 12 năm mới có dịp.

Nói thêm về phần chọn người tắm rửa, trang hoàng cho ngài cũng phải thuộc những người có nhân phẩm, ăn chay, mặc quần áo mới. Sau khi rước thánh ra từ cấm cung mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho ngài. Nhưng họ buộc phải giữ bí mật cho đến khi chết mang đi về những điều đã thấy khi trang hoàng cho ngài. Điều đó càng tạo nên lớp sương mù bí hiểm bao bọc lấy ngôi chùa nhiều huyền thoại này…

Nghiên cứu thêm về lịch sử của chùa

Chùa Hành Thiện mang dấu tích của chùa Keo ở làng Dũng Nhân, Giao Thủy, Nam Định. Vì năm 1061, Không Lộ Thiền sư dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng, theo thời gian, chùa bị nước làm cho xói mòn. Đến 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích của ngôi chùa. Dân làng Keo phải rời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng (Về sau, dựng nên chùa Keo Thái Bình). Còn một phần xuống Xuân Trường, Nam Định, dựng chùa Hành Thiện và tồn tại cho đến tận bây giờ.

Bao giờ giải được “lời nguyền”? Chúng tôi đã cố gắng vén một chút về bức màn bí ẩn này, thế nhưng đến nay cũng chỉ biết được về lịch sử ngôi chùa: Chùa là một trong hai ngôi chùa gắn với tên tuổi của nhà sư Không Lộ. Ông có công truyền bá rộng rãi đạo Phật trong dân gian. Khởi nguồn về mô hình của Chùa Hành Thiện được tính từ hồi 1062, thời Tiền Lý, người ta di dân đến xây mô hình chùa ở làng Dũng Nhuệ- Giao Thủy.

Sau đó về đất Hành Thiện vào năm 1588, sang Thái Bình năm 1611, về mặt quy mô chùa Keo Thái Bình lớn hơn chùa Keo Hành Thiện, bề thế hơn nhưng cấu trúc lại sao chép như nguyên vẹn; Cả hai chùa đều dựng bằng gỗ Lim, kết với nhau bằng mộng tre, mộng vược…. và mang cấu trúc thời Tiền Lê, thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh vượng nhất ở nước ta.

Trải qua ngàn năm Bắc thuộc, rồi đến thời kỳ kháng chiến chống pháp, chống Mỹ, chùa Hành Thiện vẫn uy nghi, nhiều phen bọn thực dân Pháp có ý đồ phá, mà do sự tích kỳ bí về chùa quá lớn đến nỗi họng súng của bọn giặc cũng không dám nhóm ngó tới. Ngày xưa, Thái Bình, Nam Định là những nơi nằm trong các dự án di dân dưới các triều đại phong kiến.

Dân hai bên sông Hồng chạy lũ, kéo theo đủ nét văn hóa, phong tục, từ văn minh lúa nước đến tín ngưỡng đạo Phật mà cụ thể là đem theo cấu trúc cũng như mô hình chùa chiền đến vùng đất mới. Đói kém, mất mùa, thiên nhiên bạc đãi, thú dữ… là những thế lực mà con người sợ. Thế nên người ta tôn sùng ngài Không Lộ Thiền sư, người đi đâu, đem ngài theo đó để thờ cúng, như một biểu tượng của sự che chở tinh thần.

Nên khi chùa Hành Thiện được dựng lên, những cái gì thuộc về nguyên sơ mà người ta đem đến đều được tôn sùng, giấu kín để thờ phụng, thì đến nay, nhiều thứ còn lại thuộc về di sản đó đang là điều bí mật, không được công bố cho dư luận cũng là điều thường thấy ở các chùa chiền. Nhưng đó cũng là yếu tố để tạo nên những huyền thoại về thánh thần nơi cửa Phật…

Còn về vấn đề sao các sư không sống được ở chùa, trong một số sách, trong đó có cuốn “Hành Thiện xã chí” của gia tộc Thủ từ cũng có đề cập đến: “Có thể, do không quen với thổ nhưỡng, chướng khí… Mà cụ thể là cơ địa con người, nhà sư đạo cao cũng là người, thì không hợp chất đất, nguồn nước… là phải.

Thì sinh ra ốm đau, bệnh tật, ở lâu có sư bị “viên tịch” ngoài ý muốn là phải”.

Như vậy, mới có chuyện sinh ra các sư đến lưu trú, hành đạo, tu đạo trong chùa sẽ bị ốm, bệnh, chết… rồi bỏ đi chăng? Về cơ sở lý thuyết này, đến nay vẫn chưa có nhà khoa học, tổ chức nào nghiên cứu cụ thể, sát với thực tế, vấn đề “lời nguyền” trong truyền thuyết làm cho câu chuyện về “chùa không sư” thêm phần huyền bí.

Dẫu chùa không sư, không vãi, không tiếng mõ vang âm nhưng ngôi chùa vẫn tồn tại với thời gian. Du khách đến đây ngoài tìm lại bản chất con người nơi cửa chùa ra, còn tìm về huyền thoại, tín ngưỡng của cha ông ta- những điều chưa biết chăng?

Các bài đã đăng :

**Chùa Đại Bi

*Chùa  Dục Khánh

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Tiêu Sơn Tự

*Chùa Thượng Đồng

*Chùa Bạch Liên

*Chùa Bất Nhiễm

*Chùa Phúc Linh

*Chùa Giác Viên

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 14, 2009 in miền bắc

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ TRUNG LAO

Nhà thờ Trung Lao – Nam Định

nhà thờ trung lao________________________________________

Bên cạnh tháp Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, Nam Định còn một công trình kiến trúc độc đáo không kém. Đó là nhà thờ Trung Lao, tọa lạc tại thôn Trung Lao, xã Trung Đồng, huyện Nam Ninh.

Nhà thờ được khởi công xây dựng năm Mậu Tý 1888, tới năm Mậu Tuất 1898 thì lạc thành. Kiến trúc nhà thờ được làm theo lối cổ, chú trọng phát triển bề rộng, ít vươn lên tầm cao; không gian bên trong khi nào cũng ôn hòa, mát mẻ.

Nhà thờ có chiều dài 50m, rộng 16m, gồm 11 gian, được xây bằng gạch, mái lợp ngói đỏ hình vẩy rồng, còn gọi là ngói Nam. Toàn bộ nội thất cung thánh đường đều được làm từ lõi gỗ lim do thợ mộc lành nghề thực hiện. Cột của nhà thờ là những thân gỗ lim có đường kính từ 70cm đến 80cm được để mộc mạc, không trang trí. Các vì kèo, xà khóa, xà cân nâng đỡ cây long cốt được chạm trổ rất công phu với hoa văn hoa lá, nét chạm khỏe, mạnh mẽ nhưng lại rất uyển chuyển, tạo sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Cây long cốt được sơn màu đỏ, khắc niên đại xây dựng nhà thờ bằng chữ Hán. Tường nhà thờ được trang trí hoa văn theo kiểu tứ quý với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nội điện tôn trí tượng Đức mẹ Maria cùng các vị thánh trên một bệ thờ lộng lẫy với hai màu vàng, đỏ. Bệ thờ là một công trình điêu khắc hết sức công phu, được trau chuốt tới những chi tiết nhỏ nhất. Gam màu nóng của bệ thờ kết hợp với gam màu nâu của gỗ khiến cho nội điện có một vẻ đẹp hoành tráng nhưng cũng rất uy nghiêm, tạo cho người bước vào cảm giác ấm áp, bình an.

Có thể nói, nhà thờ Trung Lao là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương Tây và phương Đông. Sự kết hợp đó tạo nét rất riêng cho công trình. Đã 116 năm trôi qua, nhà thờ Trung Lao vẫn còn nguyên vẹn như ban đầu, chưa phải trùng tu một lần nào.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà


 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA PHỔ MINH – NAM ĐỊNH

Chùa Phổ Minh TP Nam Định.

chùa pm 2

Chùa thường gọi là chùa Tháp, tọa lạc ở thôn Tức Mạc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định, tỉnh Nam Định. Chùa cách thành phố Nam Định khoảng 5km về phía Bắc.

Chùa được vua Trần Thánh Tông cho dựng vào năm 1262 ở phía Tây cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Các bản văn khắc trên bia cho biết chùa có từ thời Lý, được mở rộng với quy mô lớn vào thời Trần.

Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường gắn với thiêu hương 3 gian, thượng điện 3 gian. Qua sân hẹp, dãy ngang 11 gian kết hợp với hành lang mỗi bên 11 gian tạo thành quần thể “Nội Công ngoại Quốc”.

Chùa Phổ Minh mở đầu kiến trúc Phật giáo thời Trần. Các công trình kiến trúc và chạm khắc ở đây còn giữ được dấu ấn của thời Trần, thời Mạc như: bộ cánh cửa bằng gỗ lim chạm rồng (mỗi tấm cao 1,92m, rộng 0,79m) ở nhà bái đường, tháp Phổ Minh, đôi sấu ở tam quan, rồng ở thành bậc tiền đường, tháp và tượng Bà chúa Mạc (tài liệu ở chùa ghi là Công chúa Mạc Ngọc Lâm) v.v… Chùa xưa có một vạc lớn bằng đồng được xếp vào “Thiên Nam tứ đại pháp khí” (vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm) nay không còn.

Tháp Phổ Minh được xây vào năm 1305, gồm 14 tầng, cao 21,2m, nặng khoảng 700 tấn, mặt quay hướng Nam. Mặt bằng tháp được bố cục vuông, cạnh đáy của đế dài 5,21m, cửa các tầng ở 4 phía được trổ theo lối cuốn tò vò. Nền tháp và tầng thứ nhất xây bằng đá, những tầng phía trên xây bằng gạch. Sách Mỹ thuật của người Việt (Hà Nội, 1989) cho biết, ban đầu 13 tầng trên được xây bằng gạch trần hòn sắc đỏ au trên nền cây xanh mướt. Một thương gia giàu có đã bỏ tiền trát vữa lên 13 tầng đó. Dạng kiến trúc của tháp là dạng trung gian giữa loại tháp hoa sen (phần trên) và tháp tu-di-tọa (phần đế). Tháp được trùng tu năm 1987.

Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 12-12-2007 là Ngôi chùa có ngôi tháp bằng gạch cao nhất Việt Nam.

Chùa thờ chư Phật, Bồ tát và thờ tượng Trúc Lâm Tam Tổ : Tổ Trần Nhân Tông nhập niết bàn, Tổ Pháp Loa và Tổ Huyền Quang.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần, lần đại tu gần nhất là vào các năm 1994-1995.

Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

This slideshow requires JavaScript.

 

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ PHÚ NHAI – NAM ĐỊNH

NHÀ THỜ PHÚ NHAI

p nhai 16

Nhà thờ Phú Nhai nằm ở xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Là một trong những ngôi nhà thờ có diện tích khá rộng lớn. Nhà thờ này đã được cha Chính Hòa cho xây năm 1881 Nhà thờ có phong cách kiến trúc Tây Ban Nha, có kích thước: dài 88 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg – 1.200 kg – 600 kg và 100 kg.

Lược sử Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Nhai

Vào năm 1858 tại Lộ Đức, nước Pháp, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ tên là Bernadette và xưng mình là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cùng thời gian này việc truyền đạo và giữ đạo tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn và thử thách.

Trong hoàn cảnh bi đát, khó khăn, đen tối nhất của lịch sử Công Giáo Việt Nam nói chung, nhất là của địa phận Bùi Chu nói riêng, năm 1858 (tức là chỉ sau 10 năm thành lập địa phận) Đức Cha Valentinô Berrio-Ochoa Vinh, Giám Mục Bùi Chu (ĐC Vinh được phúc Tử Đạo năm 1861 và được phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988) cùng với cha chính địa phận, cha chính Emmanuel Rianô Hoà đã cùng nhau tha thiết khấn cùng Đức Mẹ Vô Nhiễm rằng: Nếu Đức Mẹ ban sự bình an cho địa phận, thì địa phận sẽ nhận Đức Mẹ làm quan Thầy và sẽ xây một Đền Thờ xứng đáng để dâng kính Người.

Lời khấn đã được Đức Mẹ chấp nhận, tuy chưa có bằng an ngay, nhưng tinh thần giáo dân và giáo sĩ mạnh dạn hơn. Những người quá yếu đuối đã bỏ đạo thì tiếp tục ăn năn trở lại, dần lắng dịu. Cha chính Hoà làm Giám Mục năm 1868, ngài đã giữ lời khấn hứa với Đức Mẹ và năm 1881, ngài cùng với Cha chính Ninh (Isaac Barquero) xây nhà thờ kính Mẹ Vô Nhiễm tại Phú Nhai, tuyên bố nhận Đức Mẹ làm Quan Thầy Địa Phận. Ngài cũng là người đầu tiên đưa sáng kiến hàng năm vào ngày 8/12 tổ chức trọng thể lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Quan Thầy địa phận Bùi Chu. Vào ngày lễ đó, ngài kêu gọi tất cả các cha, các tu sĩ và toàn thể giáo dân về Phú Nhai mừng lễ, để tạ ơn Đức Mẹ.

Nhà thờ Phú Nhai đã qua 3 lần xây cất. Lần đầu tiên là năm 1881, vì hoàn cảnh còn eo hẹp. Nhà thờ đã xây xong, nhưng chưa đúng như lòng mong ước, nên những thập niên về sau, giáo quyền đã đặt kế hoạch xây một Đền Thờ lớn hơn hoàn tất năm 1923, có thể nói là nhà thờ lớn nhất Đông Dương. Nhà thờ xây theo kiểu gothic, dài 88m, 2 tháp cao 44m, cha chính Y vẽ đồ án và trông nom xây cất, 7 năm mới hoàn tất. Khánh thành đúng vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 8/12/1923 do Đức Cha Munagori Trung, Giám Mục Bùi Chu chủ toạ, hầu hết các linh mục địa phận và trên 50.000 giáo dân tham dự.

Cơn bão 30/9/1929 làm đổ nhà thờ Phú Nhai. Cha già Phạm Văn Nguyện 82 tuổi, địa phận Thanh Hoá hiện đang hưu dưỡng tại nhà hưu dưỡng 12772 Loisse St, Garden Grove, CA 92841 kể lại như sau. Hồi đó, ngài hơn kém 20 tuổi, thỉnh thoảng dịch những bài báo từ Pháp văn sang Việt văn đăng trên tờ Trung Hoà nhật báo, tờ nhật báo Công Giáo đầu tiên tại Việt Nam. Trung Hoà nhật báo tường thuật cơn bão đó như sau:

Trận bão chỉ kéo dài hơn kém một giờ mà đã làm đổ 48 nhà thờ, trong đó có nhà thờ Phú Nhai. Nhà thờ đổ vào hồi 8 giờ sáng vì lý do trần nhà thờ bị mưa, chứa quá nhiều nước, bị gió lớn làm sập trần và kéo theo đổ cả nhà thờ. Thiệt hại về nhân mạng là 16 người chết, trong đó có ông từ đang đốt đèn. Rất may trận bão chỉ kéo dài có một giờ, nếu kéo dài lâu hơn, thì số thương vong rất nhiều. Dân làng ai ai cũng vội vàng thu dọn nhà cửa rồi vào trú ẩn trong nhà thờ. Chưa kịp vào thì nhà thờ đã bị sập.

Địa phận Bùi Chu vẫn cố gắng và lần thứ ba, với sự đóng góp của toàn thể giáo dân Bùi Chu và sự trợ giúp của các giáo phận Việt Nam, sau 4 năm cố gắng, giáo phận Bùi Chu lại hoàn thành một Đền Thánh đồ sộ, nguy nga hơn để kính dâng Đức Mẹ Vô Nhiễm vào năm 1933.

Đền Thánh Phú Nhai hiện nay được xây cất năm 1933 đã trải qua nhiều năm với bao nhiêu bão gió và bom đạn chiến tranh, nhà thờ cần phải sửa chữa. Vì thế, giáo quyền Bùi Chu đã đề ra công tác Đại Tu Bổ Đền Thánh Phú Nhai.

Vương Cung Phú Nhai không chỉ là một công trình tín ngưỡng, điểm tham quan du lịch của du khách gần xa mà còn là đối tượng nghiên cứu của các kỹ sư xây dựng, các kiến trúc sư và các nhà nghiên cứu văn hóa.

Trong tâm trí của nhiều người, tòa thánh Phú Nhai có một sức lôi cuốn huyền bí, nhất là vào những ngày lễ Thánh. Giáo đường là nơi mọi người hướng đến. Ở đó luôn có những hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi được tổ chức rất long trọng.

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

 
 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

CHÙA CỔ LỄ – NAM ĐỊNH

co le nam dinh 1

Tương truyền rằng chùa Cổ Lễ được sáng lập năm 1109 do Thiền sư Minh Không, tên thật là Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1076 tại làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định.

co le 3

Cách TP Nam Định 15km về hướng Đông, thị trấn Cổ Lễ được nối liền với trung tâm tỉnh lỵ bằng con đường số 21. Cổ Lễ vốn là tên một làng trước đây thuộc xã Trực Nghĩa, huyện Nam Ninh; đồng thời cũng là tên một ngôi chùa có từ lâu đời và đã trở thành một di tích lịch sử – văn hóa của tỉnh Nam Định.

co le 4

Trước cửa chùa Cổ Lễ

Thiền sư Minh Không đã có công sang Trung Quốc xin vua Tống cấp đồng để về nước đúc “An Nam Tứ Khí” (tượng Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh). Ông cũng chính là vị y sư đã chữa cho vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) khỏi bệnh “hóa hổ” nên được vua phong làm Đại Pháp Thiền Sư kiêm Quốc sư. Sư viên tịch năm 1154, thọ 78 tuổi.

Kiến trúc chùa Cổ Lễ hiện nay là do Hòa thượng Phạm Quang Tuyên hạ giải ba ngôi chùa nhỏ ở làng Cổ Lễ và lập thành vào năm 1920. Hòa thượng Phạm Quang Tuyên là một cao tăng có kiến thức uyên bác. Chính Ngài đã thiết kế và trông coi việc xây dựng ngôi chùa. Vật liệu xây dựng không phải là xi măng, sắt thép mà là gạch, vôi vữa, mật mía, giấy bản tạo nên độ cố kết vững bền của toàn bộ kiến trúc ngôi chùa.

co le 8

Tháp chùa Cổ Lễ

Đứng trước chùa, vươn lên nền trời giữa những cây cổ thụ bốn mùa xanh tươi là tháp Cửu Phẩm Liên Hoa rất độc đáo. Tháp được xây dựng những năm 1926 – 1927, có 12 tầng và một tầng đế tháp đặt trên lưng một con rùa lớn đầu hướng vào chùa. Tháp cao 32m, có 8 mặt, các cạnh tháp đều đắp hình rồng, mái cong. Trong lòng tháp có 62 bậc dẫn lên bàn thờ Phật trên đỉnh theo đường xoáy trôn ốc. Tháp đứng giữa một hồ vuông, bốn góc là bốn hòn giả sơn.

co le 9

Chuông chùa Cổ Lễ

Một cầu cong ba nhịp, mặt cầu lát gạch, nối liền khu tháp với một tòa kiến trúc mái vòm cao: đó là Phật giáo hội quán. Bên trái hội quán là dãy nhà ba gian thờ Trần Hưng Đạo và hai danh sĩ đời Trần quê ở Cổ Lễ là Bảng nhãn Đào Sư Mỗ và Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ.

Sau khu Hội quán Phật giáo là một khoảng sân rộng. Giữa sân chùa đặt một quả đại hồng chung cao 4,20m, đường kính 2,20m, nặng 9 tấn, do Hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936. Chùa chính có cấu trúc mái vòm, bên trong thờ Phật và Thiền sư Minh Không. Sau thượng điện là nhà khách và nhà tổ.

Nhờ kết hợp tinh hoa kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các yếu tố của phong cách kiến trúc phương Tây, chùa Cổ Lễ đã trở thành một danh lam ở vùng đồng bằng sông Hồng.

co le 11

Hội chùa Cổ Lể được tổ chức vào giữa tháng 9 âm lịch hàng năm . Du khách thập phương đổ về đây , trước là lễ Phật  vãn cảnh chùa sau là xem lễ hội Bơi Chải ,đấu vật , đấu cờ người và nhiều trò chơi dân gian độc đáo của vùng đất Chiem trũng này .

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,