RSS

Tag Archives: nghệ thuật

CHÙA PHỤNG THÁNH

CHÙA PHỤNG THÁNH^

Chùa Phụng Thánh hiện ở ngõ Cống Trắng, phố Khâm Thiên, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Chùa Phụng Thánh cũng như làng Phụng Thánh được lý giải bằng truyền thuyết rất xưa liên quan đến vương triều Lý (1010 – 1225).

Theo truyền thuyết vào thế kỷ 12, dưới triều Lý, có một công chúa rất xinh đẹp, nàng quan tâm đến đời sống của nhân dân và phong cảnh đất nước. Một hôm nàng xin phép vua cha cho đi du ngoạn trên một chiếc thuyền. Khi con thuyền đưa nàng công chúa đến một chiếc hồ lớn thì gặp một cơn giông, làm thuyền bị đắm chết. Nhà vua bèn sai quân lýnh vớt xác, nhưng công chúa đã làm nhiều điều thiện giúp dân nên được hóa Phật. Để tưởng nhớ công lao của nàng, dân quanh vùng đã chọn mảnh đất quanh hồ để xây miếu thờ. Sau đó dân làng lại đóng góp công sức xây dựng nên ba gian nhà gỗ ở phía sau miếu để thờ Phật. Đó là tiền thân của di tích chùa Phụng Thánh.

Sau một thời gian tồn tại lâu dài, đến thời Tây Sơn, di tích nằm trong khu vực chiến trường Đống Đa, nên chùa bị hủy hoại. Sau cơn bin hòa, đến thời Nguyễn, chùa được phục hồi vào năm Ất Mão (1855) và năm Ất Sửu (1865). Đến đêm 26-12-1972 chùa bị bom B52 Mỹ phá sập khu chùa chính. Năm 1973 nhà sư Đàm Ánh trụ trì tại chùa đã tiến hành xây dựng lại di tích như hiện nay.

Di tích được dựng trên một khu đất bằng phẳng và có một khuôn viên rộng lớn bao quanh. Chùa quay mặt về hướng nam, trông ra hồ nước rộng. Trước đây, đi tích bao gồm tam quan, chùa chính, nhà tổ, nhà ngang, sân sạch và khu vườn rộng bao quanh. Do sự phát triển dân cư, tam quan chùa không còn, nên lối vào chùa hiện nay là một lối nhỏ, cửa gỗ dẫn vào hành lang nhà tổ và nhà Mẫu.

Các bộ phận kiến trúc chùa Phụng Thánh được xếp đặt trên trục bắc – nam. Sau chùa chính là sân gạch vuông dẫn tới nhà Tổ, hai dãy dải vì nằm song song với hậu cung chùa và và sân gạch tới hiên trước nhà Tổ.

Chùa chính thờ Phật, trong chùa lưu giữ 29 pho tượng tròn, trong số đó có 21 tượng hệ Phật điện, 8 pho tượng Mẫu, 2 quả chuông đồng, đồ gốm sứ, đồ gỗ, các bức đại tự, câu đối sơn son thếp vàng, bia đá.

Chùa vẫn bảo lưu được nhiều nét đẹp của kiến trúc truyền thống, đó là sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan, giữa các bộ phận kiến trúc với nhau. Các pho tượng cổ có giá trị là những tác phẩm nghệ thuật điển hình của thời Nguyễn.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 16.11.1988.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CỬU ĐỈNH

cửu đỉnh 2

Cửu Đỉnh là một công trình nghệ thuật bằng đồng có giá trị nhất tại Huế nói riêng, và Việt Nam nói chung. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837,

Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là:

• Cao Đỉnh: tương ứng với Thế Tổ Cao Hoàng Đế, vua đầu tiên của triều Nguyễn có niên hiệu là Gia Long.

• Nhân Đỉnh: tương ứng với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, niên hiệu Minh Mạng

• Chương Đỉnh: tương ứng với Hiến Tổ Chương Hoàng đế, niên hiệu Thiệu Trị

• Anh Đỉnh: tương ứng với Dực Tông Anh Hoàng đế, niên hiệu Tự Đức

• Nghị Đỉnh: tương ứng với Giản Tông Nghị Hoàng đế, niên hiệu Kiến Phúc

• Thuần Đỉnh: tương ứng với Cảnh Tông Thuần Hoàng đế,niên hiệu Đồng Khánh

• Tuyên Đỉnh: tương ứng với Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế, niên hiệu Khải Định

• Dụ Đỉnh

• Huyền Đỉnh

• Hai đỉnh Dụ và Huyền chưa được tương ứng với vị vua nào thì triều Nguyễn đã chấm dứt. Mặc dù còn 6 vị vua khác là Dục Đức, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Bảo Đại nhưng không được tương ứng với các đỉnh.

Cửu Đỉnh được đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía tây nam Hoàng Thành tại thành phố Huế. . Thoạt nhìn 9 cái đỉnh có vẻ giống nhau , nhưng thực tế chúng có nhiều điểm khác nhau . khác nhau về trọng lượng , chiều cao , hình dáng bộ chân , hình dáng bộ quai ,.đặc biệt nhất là 17 hình nổi kèm chữ chú thích xung quanh mỗi đỉnh , tạo thành 153 hình . những hình ảnh đó khái quát toàn cảnh đất nước Việt Nam từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau , qui thành các chủ đề : tinh tú ,song núi , biển cả ,thuyền bè , xe cộ , sản vật quí trên rừng , dưới biển …của đất nước đầu thế kỷ 20

Ứng với các án thờ trong Thế Miếu, Cửu Đỉnh từ hồi mới đúc đã được đặt vào chỗ như ta thấy hiện nay . Cao Đỉnh đứng giữa một mình ở hàng trước , các đỉnh khác đứng thành hàng ngang ở phía sau theo vị trí cứ một cái bên trái thì đến một cái bên phải đối xứng nhau qua đỉnh trung tâm là cao Đỉnh tới Nhân , Chương ,Anh ,Nghị, Thuần , Tuyên ,Dũ và Huyền .

Cửu Đỉnh là văn hóa nghệ thuật cổ truyền quí hiếm còn lại hầu như nguyên vẹn , khẳng định sự trường tồn và ước mong triều đại mãi vững vàng trong sự nghiệp giữ gìn sự thịnh vượng của đất nước Việt nam giàu đẹp , thống nhất . Cửu Đỉnh cũng hàm chứa tri thức uyên bác của tiền nhân .



Kích thước và trọng lượng các đỉnh ;


*CAO ĐỈNH :

độ cao toàn bộ 2,5m ,chiều cao quai 0,48m độ cao của chân 1,05m đường kính miếng1,38m trong lượng 2601kg

*NHÂN ĐỈNH :

Độ cao toàn bộ 2,31m , chiều cao quai 0,42m , độ cao của chân 0,87m , đường kính miệng 1,36m ,trọng lượng 2512kg

*CHƯƠNG ĐỈNH :

Độ cao toàn bộ 2,27m , chiều cao quai 0,41m, độ cao của chân 0,95m, đường kính miệng 1,35m , trọng lương 2097kg

*ANH ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,25m , chiều cao quai 0,42m , độ cao của chân 0,94m , đường kính miệng 1,37m , trọng lường 2595kg

*NGHỊ ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,31m , chiều cao quai 0,41m , độ cao của chân 0,89, đường kính miệng 1,37m , trọng lượng 2575kg

*THUẦN ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,32m , chiều cao quai 0,42m, độ cao của chân 0,95m , đường kính miếng,1,36m , trọng lượng 1950kg

*TUYÊN ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,45m , chiều cao quai 0,54m , độ cao của chân 0,93m , đường kính miệng 1,37m , trọng lượng 2006kg

*DŨ ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,34m , chiều cao quai 0,43m , độ cao của chân 0,96m , đường kính miệng 1,38m, trọng lượng 2018kg

*HUYỀN ĐỈNH :

• Độ cao toàn bộ 2,31m , chiều cao quai 0,41m , độ cao của chân 0,95m , đường kính miệng 1,41m , trọng lượng 1935kg

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 19, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA THÁNH CHÚA

thánh chúa

Chùa ở thôn Hậu xã Dịch Vọng , huyện Từ Liêm – Hà Nội , nay là phường Dịch Vọng quận Cầu Giấy – Hà nội . Chùa nằm trong khuôn viên trường Đại Học Quốc Gia .

Chùa được xây dựng từ lâu . Sách Đại Việt sử ký toàn thư , kỷ nhà Lý – Lý Thánh Tông , có chép rằng : “ Vào năm Quý Mão ( 1064 ) , vua Lý Thánh Tông bấy giờ xuân thì đã nhiều , tuổi 40 , mà chưa có con trai nối dõi , vua sai chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa , sau đó Ỷ lan phu nhân có mang , sinh hoàng tử Càn Đức, tức Lý Nhân Tông .

Tương truyền rằng , vua cúng khấn , cầu tự khắp các chùa quán . Xa giá đi đến đâu con trai con gái đổ đến xem . Duy có người con gái đứng tựa trong bụi cỏ lau , vua trông thấy , gọi đưa vào cung, đượcvua yêu phong là Ỷ Lan phu nhân . Lúc đó sư Đại Điên tu ở chùa Thánh chúa , người có tài pháp thuật đã xui tên quân hầu Nguyễn Bông dùng pháp thuật đầu thai hóa . Bông nghe theo , nhưng việc này bị phát giác , Nguyễn Bông bị điệu ra cánh đồng trước chùa chém đầu “

Ngày nay chùa có cảnh quamg khang trang , thanh tịnh , Tam quan xây hai tầng , tầng trên có 3 cửa tò vò treo chuông , khánh .

Chùa xây hình chữ Đinh , tiền đường 7 gian , đầu hồi bít đốc , bộ vì nóc kiểu “ chồng giường giá chiêng “. Trên kiến trúc trang trí các hình rồng , phượng , hổ phù .

Chùa thờ Phật với hệ thống tượng khá phong phú ( 77 pho ) gồm cả tượng gỗ và tượng đất nung , trong đó có nghiều pho tượng mang phong cách thế kỷ thứ 17 . Các hiện vật gỗ sơn son thiếp vàng , chạm trổ tinh tế . Điện Mẫu còn có một số pho tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỳ 19 có giá trị cao .

Trong chùa còn có đồ thờ tự như hoành phi , câu đối , bia đá , chuông đồng phản ánh phong cách nghệ thuật của các thế kỹ 17 – 20 .

Chùa đã được Bộ văn hóa và thông tin xếp hang Di tích Kiến trúc , nghệ thuật ngày 21 – 1 -1989 .

Hiện nay sư cụ Thích Đàm Văn 94 tuổi trụ trì chùa .

This slideshow requires JavaScript.

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA CHÂN TIÊN

ti 3

Chùa Chân Tiên ở số nhà 151 phố Bà Triệu , phường Lê Đại Hành , quận Hai Bà Trưng – Thành Phố Hà Nội .

Theo truyền thuyết , chùa Chân Tiên dựng vào đời vua Lý Thánh Tông ( thế kỷ 12 ) , hồi đó chùa có tên là chùa Báo Thiên ở thôn Tiên Thị ( khu vực Nhà Thờ Lớn ) . Đến thế kỷ thứ 18 Chùa bị di rời ra thôn An Phụ ( khu vực Hỏa Lò ) lấy tên là Chân Tiên nhằm giữ lại địa danh gốc của chùa ở thôn Tiên Thị , giáp thôn Chân Cầm. Khi thực dân Pháp xây trại giam Hỏa Lò đã chuyển chùa Chân Tiên về chỗ ở hiện nay .

Chùa đã sửa chữa một số lần . Chùa quay mặt về hướng Tây , tam quan chùa sát đường Bà Triệu . Bên trong có Tam bảo , nhà thờ tổ , nhà thờ Quan Âm , điện mẫu , trai phòng , vườn tháp nhà tưởng niệm anh Hùng liệt sỹ .

Trong chùa còn giữ được một số mảng chạm khắc trên kiến trúc , tượng , di vật , đồ tự , đồ tự khí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 , 19 .

Chùa đã được bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử , Nghệ thuật ngày 2 – 3 -1990 .

Hiện nay Sư cụ Thích Đàm Luận trụ trì chùa

This slideshow requires JavaScript.

 

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

VẠN NIÊN TỰ

VẠN NIÊN TỰ – NGÔI CHÙA CỔ HƠN NGÀN NĂM TUỔI

tu 1

Chùa Vạn Niên nằm soi bóng bên hồ Tây, thuộc địa phận ấp Quán La, nay là thôn Vệ Hồ của Xuân Tảo Sở, phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Hiện nay trên nóc chùa còn ba chữ triện đắp nổi “Vạn Niên tự” nhưng tên cũ của chùa là Vạn Tuế. Theo Thăng Long cổ tích khảo, “chùa ở bờ tây hồ Tây… Lý Thuận Thiên năm thứ 5 (1014), Hữu Nhai tăng thống xin tâu lập giới đàn tại đây, thụ giới cho các tăng đồ. Vua xuống chiếu ban cho. Bấy giờ, danh tăng Lâm Tuệ Sinh, Thảo Đường thời Lý kế thừa trụ trì ở đây”. Như vậy, ngôi chùa này phải được xây từ trước đời Lý. Đến thời Lý, chùa Vạn Niên đã là chốn tùng lâm thị giới cho các tăng đồ và phải là một ngôi chùa lớn có nhiều cao tăng đến trụ trì như Lâm Tuệ Sinh, Biện Tài, đặc biệt là Thảo Đường. Theo sách An Nam chí lược, cao tăng Thảo Đường theo sư phụ đi truyền giáo ở Chiêm Thành, khi vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt được sư Thảo Đường đã đưa về làm nô của Tăng Lục. Một lần, Tăng Lục viết ngữ lục để ở bàn rồi có việc ra ngoài, sư Thảo Đường lén lấy sửa lại. Tăng Lục lấy làm lạ về tên nô nên đã tâu lên vua. Và vua đã phong Thảo Đường là quốc sư. Cũng theo sách Nho Phật đạo bách khoa từ điển của Trung Quốc, Thảo Đường là đệ tử của Cao tăng Trọng Hiển núi Tuyết Đậu. Khi được phong quốc sư đời Lý Thánh Tông, Cao tăng Thảo Đường đã truyền bá phép tu Trọng Hiển, giảng hàng trăm phép tắc của sơn môn Tuyết Đậu và chính thức thành lập thiền phái Thảo Đường. Thiền phái Thảo Đường đã được các đời vua thời Lý như Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông ủng hộ, họ không xuất gia nhưng tự coi là đệ tử của thiền phái. Các chùa Hà Nội hiện nay, đặc biệt là các chùa ở Tây Hồ chịu ảnh hưởng rất lớn ở môn phái này, trong đó sư Thảo Đường từng trụ trì cả chùa Trấn Quốc và chùa Vạn Niên. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, Thảo Đường không chỉ dừng lại ở tư tưởng Thiền – Tịnh hợp nhất mà còn là Thiền – Tịnh – Mật hợp nhất (phái Thiền tông, phái Tịnh Độ tông và phái Mật tông).

Hiện nay, chùa Vạn Niên thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Suốt hơn 1.000 năm lịch sử, qua bao thăng trầm, thay đổi, ngôi chùa cũng đã nhiều lần trùng tu. Đến nay, chùa Vạn Niên có phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Mặt bằng chùa bao gồm: tam quan, chùa chính và điện mẫu, ẩn hiện dưới những vòm cây cổ thụ và in bóng xuống hồ Tây. Bộ di vật của chùa gồm hơn 40 pho tượng tròn và 10 đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn được đánh giá là lớn và có giá trị lịch sử – văn hoá nghệ thuật cao được lưu giữ tại chùa. Ngôi cổ tự này cũng là nơi dừng chân của nhiều du khách đến thưởng ngoạn cụm di tích phủ – đền – chùa Hồ Tây của thủ đô ngàn năm tuổi.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

TỔ ĐÌNH KIM CANG

kim cang

Tổ đình Kim Cang hiện tọa lạc tại số 90/1 Quốc lộ 1A, bên bờ Nam của dòng sông Cầu Voi hiền hòa xuôi dòng ra Vàm Cỏ Tây thơ mộng.

Vào năm 1820, Tổ sư Đại Bồ hiệu Thiện Đề thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 37, trên bước đường du hóa đã mục kích nơi đây có cơ duyên khai mở đạo tràng nên Ngài đã chấn tích trượng thiết lập ngôi Tam Bảo tên là Phước Long Tự (thôn Bình Khuê, tổng Thuận Đạo, huyện Cửu An, phủ Tân An). Đồng bào Phật tử quy ngưỡng Phật pháp và tu tập rất đông. Sau, Tổ viên tịch, chùa vắng trụ trì trong một thời gian dài.

Mãi đến năm 1860, Hòa thượng Chánh Tâm [1837-4/4/Bính Ngọ (1906)], húy Hải Lương thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 40 hiện đang trụ trì Chùa Hàn Lâm (phủ Tân An) thể theo lời thỉnh cầu của Phật tử vì mến mộ uy đức của bậc chân tu, đã hứa khả về đây hoằng truyền Chánh Pháp.

Năm 1865, Ngài nhận thấy chùa rêu phong do thời gian dài vắng bóng chư Tăng, không người chăm sóc nên lập nguyện trùng hưng tu bổ. Một hôm, sau giờ thiền tọa, Ngài nằm mộng thấy Thần Kim Cang tay cầm bảo sử uy nghiêm đến bảo rằng: “Nơi đây địa thế không lành, nên đời chùa vào phía cạnh bờ sông thì ngôi Già Lam sẽ được hưng vượng”. Sáng hôm sau, trong khi đang chấp tác quanh chùa, bổng nhiên có một con rắn to xuất hiện phùng mang đuổi Ngài đến bờ sông thì nó liền biến mất. Ngài quán chiếu lại giấc mộng và nghĩ thầm: “Đây có lẽ Thần Kim Cang hóa thân rắn để chỉ chỗ cho ta xây dựng ngôi Tam Bảo chăng?”. Duyên lành hội đủ, Phật tử Bùi Bá Kim phát tâm hỷ cúng 12,8 mẫu đất (cách chùa cũ khoảng 500m), Ngài quyết định dời chùa về đây và đổi hiệu là Kim Cang. Từ đây, uy đức của Ngài càng tỏa sang, đạo tràng càng hưng thạnh.

Ngay vào những năm 1878 cho đến khoảng năm 1906, Tổ đình Kim Cang được xem là Trung tâm văn hóa Phật giáo và Phật học miền Nam. HT Chánh Tâm đã khai mở Pháp Hội đào tạo Tăng tài đầu tiên ở miền Nam lúc bấy giờ. Chư Tăng khắp nơi câu hội về cầu pháp tu học với Tổ rất đông. Nhiều vị sau này là trở thành những bậc cao Tăng thạc đức chấn hưng và làm xương minh Phật pháp miền Tây Nam Bộ nói riêng và miền Nam nói chung, như HT Khánh Hòa, HT Khánh Huy, HT Khánh Đức, HT Khánh Thông, HT Khánh Hưng, HT Khánh Long, HT Khánh Dư, HT Khánh Tường, HT Khánh Thoại …. Song song với việc giáo dục, đào tạo Tăng tài, nơi đây còn là Pháp hội in ấn kinh sách Phật học. Hòa thượng chủ trì khắc bản và in ấn kinh luật để trùng hưng Pháp bảo. Một số bản khắc gỗ hiện còn lưu giữ tại chùa như Kinh Pháp Hoa, Kim Cang Chư Gia, Bồ Tát Giới Kinh, Tứ Phần Luật …, nghệ thuật khằc bản rất cao, đường nét tinh xảo khuôn chữ vuông vắn.

Đạo hạnh và uy đức của Tổ được tứ chúng khắp nơi quy ngưỡng, Ngài đã từng được thỉnh cầu làm Tôn Chứng Sư và Hòa thượng đàn cho đầu nhiều Đại Giới Đàn truyền trao giới pháp cho tứ chúng tu học, như Đại Giới Đàn Hoàng Long (Cai Lậy, Tiền Giang), Phước Lâm (Phú Nhuận, Gia Định), Bửu Sơn (Bến Tre), Khánh Quới (Cai Lậy) vào các năm 1872, 1873, 1904, 1905. Hóa duyên ký tất, Tổ thu thần viên tịch vào ngày 04/04/Bính Ngọ (1906), niên hiệu Thành Thái thứ 18, trụ thế 70 năm.

Trải qua nhiều đời trụ trì với nhiều lần trùng tu. Tổ đình Kim Cang vẫn giữ nét kiến trúc văn hóa truyền thống của miền Tây Nam Bộ, hài hòa và ẩn mình trong sông nước thiên nhiên. Mái lợp ngói âm dương, sường bằng gõ và căm se, nền lát gạch tàu. Nhiều câu đối, hoa văn trên những bao lam, bảo cái, thể hiện nét văn hóa nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của miền quê sông nước Tây Nam Bộ. Những pho tượng Tây phương Tam Thánh, 18 vị La Hán và nhiều pho tượng Bồ tát, thánh hiền như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thập Điện Diêm Vương, Thánh mẫu … thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên.

Năm 1993, TT Thích Tắc Ngộ về đây kế tục truyền thừa và phát huy tổ nghiệp. Từ đây, Tổ đình Kim Cang từng bước phát triển và tạo nên nét son lịch sử mới. Ngôi Tam Bảo được trùng tu mái nền, vách phên; xây mới Tăng xá, giảng đường, quang cảnh chung quanh cũng được tu tạo trang nghiêm. Tăng chúng hội tụ về thọ pháp ngày càng đông, Phật tử quy hướng tu tập rất đông đảo.

Từ năm 1996 đến nay, Ban Trị Sự THPG Long An liên tục chọn nơi đây là 1 trong 07 trú xứ thiết lập đạo tràng An Cư Kiết Hạ và khóa Bồi Dưỡng Kiến Thức Trụ Trì cho Chư Tăng trong tỉnh, mỗi năm khoảng 70-100 vị tham dự tu học. Nhiều sự kiện lễ hội lớn của Phật giáo tỉnh nhà như Hội thi giáo lý cư sĩ Phật tử do Ban Hoằng Pháp tỉnh Hội Phật giáo Long An tổ chức năm 2005 và 2006; Lễ Tổng Khai giảng và tổng kết các đạo tràng tu học trong tỉnh hằng năm có khoảng 400 Tăng Ni Phật tử tham dự. Những lễ hội Phật giáo truyền thống Phật giáo như Phật Đản, Vu Lan được tổ chức ngày càng trang nghiêm long trọng từ 600 đến 1500 đồng bào Phật tử câu hội. Riêng đạo tràng Bát Quan Trai tu tập vào ngày mùng 1 hàng tháng tại chùa có khoảng 300 Phật tử xa gần tham dự.

Hoạt động từ thiện ngày càng mở rộng, không chỉ các huyện thị trong tỉnh mà còn hướng đến nhiều tỉnh thành xa như Cần Thơ, Đồng Tháp, Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận … hỗ trợ đồng bào Phật tử và dân chúng trong các chương trình cứu trợ thiên tai bão lụt, xây nhà tình thương, trợ cấp người gia neo đơn, học bổng cho học sinh nghèo hiếu học …

Ngày 17/03/2007 (29/01/Đinh Hợi), TT Tắc Ngộ nhận thấy nhu cầu tu học và hoằng pháp ngày càng lớn nhưng cơ sở vật chất thì chật hẹp và hư cũ không đảm bảo an toàn nên đã phát nguyện thiết lễ đặt đá Đại trùng tu ngôi Tam Bảo (dài 40m, rộng 18m). Hiện nay, ngôi bảo điện được thành tựu trang nghiêm với kiến trúc truyền thống được tái hiện toàn mỹ trên chất liệu hiện đại (xi-măng, cốt thép). Từ những cặp giao long trên mái ngói, họa tiết trang trí, hoành phi, câu đối, bao lam, bảo cái và cả Đông – Tây lang đều được thể hiện tinh xảo và kiên cố. Có thể nói, đây là ngôi cổ tự sau khi đại trùng tu như tái hiện lại kiến trúc tinh hoa văn hóa tự viện đặc thù của niềm Tây Nam Bộ ít nơi có được, xứng đáng là điểm dừng chân không thể thiếu cho khách du lịch tâm linh quê hương Long An nói riêng và miền Tây nói chung. Dự kiến Lễ lạc thành tổ chức vào ngày 17/02/2008 (11/01/Mậu Tý).

Hiện nay, Tổ đình Kim Cang được giới thiệu vào danh sách các điểm tham quan du lịch và đang được xét cấp chứng nhận di tích văn hóa tỉnh Long An. Với vai trò là Phó Ban Trị Sự kiêm trưởng Ban Nghi Lễ THPG Long An, TT Tắc Ngộ sẽ không chỉ nối nghiệp chư Tổ trùng hưng Tổ đình Kim Cang ngày thêm hưng thịnh mà còn đóng góp thiết thực vào Phật sự quan trọng tỉnh nhà càng thêm xương minh.

Bài,ảnh Sen Vàm Cỏ

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CHÙA CỔ HÒE NHAI

hòe nhai

Chùa Hồng Phúc có tên là chùa Hòe Nhai – một trong những ngôi chùa cổ lớn ở kinh đô Thăng Long xây dựng từ thời Lý (1010-1225) nay thuộc phố Hoè Nhai – Hà Nội.

Chùa tọa lạc trên khuôn viên rộng 3.000 m2 theo kiến trúc nội công ngoại quốc, không gian chùa xanh mát bóng cau, cây bồ đề cổ thụ xòe tán rộng sum suê. Chùa gồm hai bái đường mỗi tòa 5 gian, chính điện 3 gian và nhà tổ 7 gian tạo thành hình chữ công. Sân chùa có hai ngọn tháp cao ba tầng, bên cạnh dựng hai bia đá lớn trong tổng số 28 bia tại chùa. Tấm bia có niên đại sớm dựng năm Chính Hòa thứ 24 (1703) thời vua Lê Hy Tông (1676-1705) Tiến sĩ Hồ Tông Mục soạn ghi rõ chùa xây dựng ở phường Hòe Nhai tại Đông Bộ Đầu (Bến Đông). Hiện vật cổ còn giữ: khánh đồng lớn (cao 1m, rộng 1,5m) đúc năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ ba (1734) đời vua Lê Thần Tông (1619-1662); trống đồng niên hiệu Tự Đức (1848-1883)…

Chùa Hòe Nhai còn là di tích “chốn Tổ” – phái Tào Động – một trong hai phái Phật giáo lớn ở miền Bắc Việt Nam .

Hệ thống tượng Phật ở chùa Hòe Nhai đa dạng với các chất liệu gỗ quý, đất nện, đồng hun. Mỗi pho tượng đều mang giá trị nghệ thuật qua kiểu dáng thuần hậu. Các pho tượng tổ khắc họa chân dung mỗi vị một gương mặt sống động, một sắc thái riêng biệt như tượng Cửu Long Thích Ca (Thích Ca sơ sinh); tượng Phật A Di Đà; tượng Phật Quan Thế Âm… Đáng chú ý có cả tượng Tổ pháp chủ Thích Đức Nhuận, người làm rạng danh Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX.

Đặc sắc và độc đáo nhất ở ngôi chùa cổ thời Lý (1010-1225) này còn lại pho tượng một vị Phật ngồi trên lưng một ông vua nằm phục xuống theo điển tích vua Đế Thích tình nguyện làm giường cho Phật Thích Ca ngồi thuyết pháp. Nói về pho tượng lạ này, theo giải thích, thời vua Lê Hy Tông (1675-1705) thi hành chính sách hà khắc với Phật giáo. Hòa thượng Chân Dun – vị Sư Tổ thứ hai chùa Hòe Nhai đã viết bài biểu bỏ vào tráp đem đến triều đình dâng vua và tâu: trong hộp có ngọc minh châu. Khi vua mở hộp xem không thấy ngọc mà chỉ có bài biểu nội dung: nhà Lê (1428-1527) được trị vì lâu bền bởi nhờ sự độ trì của đức Phật. Sau đó, vua Lê Hy Tông hạ chiếu sám hối thay đổi thái độ với Phật giáo. Xuất phát từ việc này mà bức tượng một vị vua trong tư thế để Phật ngồi trên lưng đặt ở chùa Hòe Nhai.

Những giá trị tôn giáo và nghệ thuật của chùa cổ Hòe Nhai thu hút khách thập phương tới chiêm ngưỡng, lễ bái.

Bài: Vĩnh Hưng – Ảnh: Hoàng Giáp (Báo Ảnh Việt Nam )

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

Nhãn: , , , , , , ,