RSS

Tag Archives: tháp chuông

NHÀ THỜ CHÁNH TÒA THÁI BÌNH

Nhà thờ Chính Tòa Thái Bình

nhà thờ thái bình 2

Vào năm 1906, khi Thái Bình còn nằm trong địa phận Trung, Cố Tây Ban Nha An-rê Kiên (Andres Kiên) đã lãnh trách nhiệm chỉ đạo việc xây cất ngôi Thánh đường với chiều dài còn rất hạn chế.

Năm 1936, Toà Thánh tách Thái Bình và Hưng Yên ra khỏi Giáo Phận Bùi Chu, thành lập Giáo phận mới. Cha Ca-sa-đô Thuận, thuộc dòng Đaminh, được Toà Thánh tấn phong giám mục cai quản địa phận mới. Ngài là vị Giám mục đại diện tông tòa tiên khởi (vicarius Apostolicus) của Toà Giám Mục và địa phận Thái Bình.

Vào năm 1937, khi giáo phận vừa được sinh ra từ giáo phận mẹ Bùi Chu, ngôi thánh đường xứ thị xã Thái Bình trở thành Nhà Thờ Chính Tòa của giáo phận. Đức Giám mục đại diện tông tòa tiên khởi, Gio-an Ca-sa-đô Thuận, truyền cho Cố Tây Ban Nha là Ren-ghen (Rengel) Lễ, lúc bấy giờ là cha sở xứ Thái Bình, đốc công xây cất thêm phần nhà thờ từ cánh Thánh giá trở lên. Ngài cũng cho lập bàn thờ sơn son thiếp vàng, làm cho ngôi thánh đường trở nên bề thế và khang trang hơn nhiều, xứng với tầm vóc của ngôi Thánh đường Mẹ.

Thời điểm ngôi thánh đường Nhà thờ Chính Tòa được xây dựng (1936), thị xã Thái Bình mới chỉ có một vài tòa nhà cao tầng; thế nên, cùng với cơ sở nhà ba tầng của Tòa Giám mục, lúc bấy giờ, ngôi nhà thờ đã từng là một trong những công trình bề thế vào bậc nhất trong thị xã Thái Bình nhỏ bé. Nằm cạnh dòng sông Trà Lý hiền hòa, qua năm tháng vẫn kiên nhẫn chở phù sa về bồi đắp cho lòng đất mẹ, ngôi nhà thờ lại càng trở nên bề thế và uy nghi. Thánh đường đã cùng với dòng sông ấy chứng kiến những mất mát, đau thương trong những năm chiến tranh, cũng như chung hưởng niềm vui chiến thắng của con dân thị xã Thái Bình. Cũng kể từ đó, từng nhịp thở, từng bước đi của nhà thờ đều gắn liền với nhịp sống không phải của riêng chi thể giáo xứ thị xã Thái Bình nữa mà với toàn thân giáo phận. Mọi biến cố thăng trầm, mọi thay đổi thời cuộc, mọi sinh hoạt của giáo dân đều được ảnh hưởng, được chia sẻ chung phần ở nơi đây. ………

……….. Rồi chiến tranh cũng qua đi, hòa bình lại trở về trên mảnh đất mẹ. Thái Bình trở về đúng với cái tên của nó. Nhà thờ Chính Tòa lại trở nên náo nhiệt với những cuộc đại lễ diễn ra giữa những hoa đăng rực rỡ, tưng bừng.

Ngày 13 tháng 10 năm 2007, 25 Ðức Giám mục, các linh mục trong các giáo phận và đông đảo cộng đoàn Dân Chúa trong nước cũng như hải ngoại về chia vui với giáo phận Thái Bình và tham dự nghi thức cắt băng khánh thành, cung hiến Nhà thờ chính tòa và thánh lễ tạ ơn.

GIỚI THIỆU VỀ NGÔI THÁNH ĐƯỜNG NHÀ THỜ CHÍNH TÒA MỚI

Tọa lạc trên một khu đất rộng chừng 1.500m2, Nhà thờ Chính Tòa Thái Bình được thiết kế theo lối kiến trúc Gothique kết hợp với phong cách kiến trúc Phương Đông pha chút hiện đại, tạo thành một tổng thể hài hòa. Vì thế, ngôi thánh đường mới vẫn giữ được nét truyền thống của một ngôi nhà thờ Phương Tây, với hai tháp đối xứng, đồng thời, cũng mang phong cách Phương Đông với mái cong, cột tròn, con sơn được cách điệu thành dạng khối… Ngôi thánh đường được thiết kế hai tầng, có tổng chiều dài là 69 mét; rộng 18 mét lòng sử dụng và hai hành lang chạy dài với chiều rộng 3 mét. Tầng trên của nhà thờ được dùng để cử hành Thánh Lễ và các nghi thức phụng vụ.

Ngôi thánh đường khoác trên mình chiếc áo màu kem sáng, thiên về màu phù sa, gợi nhắc một miền quê lúa đã một thời đi vào lịch sử. Nằm ở lưu vực của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Trà Lý, quê hương Thái Bình đã được bồi đắp và nuôi sống bởi lớp phù sa màu mỡ, giúp cho Thái Bình một thời là vựa lúa của cả miền Bắc Việt. Chính mảnh đất đầy tiềm năng ấy đã tạo ra những con người Thái Bình hiền lành, chất phác, chịu thương chịu khó trong đời thường nhưng can trường trong những thử thách đức tin.

Thánh đường nhà thờ Chính Tòa mới được xây dựng trên nền đất và hướng trục tâm của ngôi nhà thờ trước. Tuy nhiên, nó đã được dịch chuyển lên phía đầu nhà thờ khoảng 30 mét, để tạo một khoảng không gian rộng lớn phía cuối nhà thờ trở thành quảng trường trong những dịp lễ đại triều.

Về tổng thể, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, không gian kiến trúc thiên về thiên nhiên đã được đưa vào nhiều hơn. Đặt chân tới khuôn viên nhà thờ, người ta như bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ. Bởi nơi đây, họ đã tìm lại được sự bình yên, và những phút thanh tịnh hiếm hoi sau những ngày làm việc vất vả.

Đây thực sự là không gian lý tưởng giúp chúng ta dễ dàng tiếp xúc với Thiên Chúa và tìm lại chính mình. Chúng ta sẽ khó có thể gặp được Thiên Chúa trong những ồn ào, náo nhiệt nhưng; chúng ta sẽ gặp được Ngài trong thinh lặng và trong thâm sâu tâm hồn của mỗi người.

Trên hai trụ cổng chính của ngôi Thánh đường mới có bức tượng hai Thiên Thần đang thổi loa. Cũng giống như tượng các thánh Tông Đồ, hai bức tượng này được tạc theo mô-típ những bức tượng thời Phục Hưng. Bên ngoài được phủ một lớp nhũ đồng sáng, càng làm cho hai bức tượng thêm phần uy nghiêm.

Nổi bật trong toàn bộ khuôn viên của ngôi thánh đường Nhà thờ Chính tòa Thái Bình là linh đài Đức Mẹ Lavang. Thoạt nhìn, du khách có thể hơi ngỡ ngàng về toàn cảnh linh đài Mẹ, bởi có một nét gì đó quen quen… Điều đó cũng dễ hiểu, vì Linh đài Mẹ Lavang Thái Bình được mô phỏng theo linh đài thật ở thánh địa Lavang – thuộc địa hạt huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Để xây dựng linh đài này, các nghệ nhân đã phải nhiều lần đến Lavang, để đo đạc, chụp hình, cũng như sống trong tâm tình của người con cái Mẹ.

Xét về tổng thể, ngôi thánh đường nhà thờ Chính Tòa mang đậm nét kiến trúc Việt. nhà thờ Chính Tòa được thiết kế hai tầng, có hành lang rộng và mái hiên xung quanh. Ngày mưa gió, vẫn có thể tổ chức những cuộc rước kiệu, cung nghinh Thánh Thể xung quanh nhà thờ mà không lo thời tiết đổi thay thất thường.

Dù không nổi bật giữa những tòa nhà cao tầng đang ngày một nhiều trong lòng thành phố Thái Bình, nhưng đứng trên cầu Thái Bình hoặc trên hai bờ tả ngạn của dòng Trà Lý, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hai ngọn tháp của ngôi thánh đường nhà thờ Chính Tòa mới đang hiên ngang vươn lên trời xanh.

Với chiều cao 46 mét, tháp chuông được thiết kế theo lối Gothique nhưng đã được cách điệu cho đơn giản, phù hợp với xu hướng hiện đại. Điều đó đã tạo cho hai cây tháp một dáng dấp độc đáo, không giống với bất cứ ngọn tháp nào của các ngôi nhà thờ trong giáo phận. Nếu nhìn từ xa, hai ngọn tháp như hai ngọn nến cháy sáng, được nâng niu bởi đôi bàn tay vững chãi đang hướng thẳng lên trời cao.

Nhà thờ cũ trước đây đã có 2 quả chuông nhỏ. Nhân dịp xây dựng ngôi thánh đường mới, Đức Cha giáo phận đã cho đúc thêm một quả chuông lớn với trọng lượng 1,8 tấn, cung mi giáng (MI¬¬¬¬b) với thánh hiệu là Phanxicô Xaviê. Trên thành quả chuông có khắc trổ những hàng sau đây:

“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa”

Không trung loan báo việc tay Người làm”

(Tv 19,15)

Quả chuông này được chế tác từ đôi tay của các nghệ nhân xuất thân từ quê hương giáo phận mẹ Bùi Chu. Tiếng chuông ấy đã trang trọng gióng lên những tiếng đầu tiên để chung với niềm vui của cả giáo phận

Khác với những tòa nhà to lớn được lợp bằng mái ngói với màu đỏ tươi gợi nhắc một sự cổ kính, ngôi nhà thờ được lợp bằng tôn màu xanh nước biển, thể hiện một dáng vóc trẻ trung và mới mẻ nhưng cũng mang đậm tính cách Á Đông. Khi ngắm nhìn đường nét vút cong của mái nhà thờ, người ta dễ liên tưởng tới mái của những ngôi đình, ngôi chùa mà đâu đó, người ta vẫn trông thấy ở những miền quê.

Khi nhắc đến Thái Bình, người ta thường nhắc tới một giáo phận có lòng sùng kính, mến yêu Đức Maria và các thánh cách đặc biệt. Chính vì thế mà chung quanh mái của ngôi nhà thờ mới được trang trí bằng những pho tượng Thánh Thiên Thần, các Thánh nam nữ và đặc biệt là các vị thánh Tử Đạo Việt Nam.

Nói đến các vị thánh Tử Đạo Việt Nam, là những thế hệ cháu con, người giáo dân Thái Bình hôm nay có quyền tự hào về truyền thống hào hùng và tinh thần giữ đạo bất khuất của các thế hệ cha ông trong giai đoạn đức tin bị thử thách cam go nhất. Trong hàng trăm ngàn người đã đổ máu đào minh chứng cho đức tin, Giáo phận Thái Bình đã hân hoan dâng lên Thiên Chúa 19 vị Tử Đạo trong 117 Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài thực sự là những hoa quả đầu mùa, là hạt giống để sinh ra những tín hữu Thái Bình hôm nay.

Khi nhìn ngắm những pho tượng Thánh với dáng vẻ sống động, chúng ta mới hiểu được rằng, nghệ nhân đã gửi gắm nơi mỗi tác phẩm của mình không chỉ là kinh nghiệm, là trình độ điêu khắc, nhưng còn là cả tâm hồn và niềm tin tôn giáo nữa.

Xung quanh hai bệ tháp là tượng mười hai Thánh Tông đồ đang đứng hiên ngang như một minh chứng cho sự trường tồn của niềm tin Tông truyền trên mảnh đất Thái Bình. Mỗi bức tượng Thánh Tông đồ cao 2,2 mét, được tạc phỏng theo phong cách những pho tượng thời Trung cổ nhưng cũng có những nét rất riêng. Song điều đặc biệt là, những bức tượng đó lại được tạc nên bởi những đôi bàn tay khéo léo của chính những nghệ nhân là con dân đất mẹ Thái Bình.

Mái vòm của ngôi nhà thờ mới được tạo nên bởi những đường cong lớn nối liền hai chân của tháp chuông. Nhìn từ ngoài, mái vòm trông như cánh hoa đang hé nở theo hướng đi lên; giao điểm của hai đường cong gặp nhau tại tâm của cây Thập giá.

Để lên được nơi cử hành Thánh lễ của nhà thờ Chính Tòa, chúng ta phải đi qua bậc tam cấp. Đây cũng là một đặc điểm kiến trúc của ngôi nhà Việt. Truyền thống văn hóa nông nghiệp của người Việt vốn coi trọng số lẻ (vì lẻ là số dương = động = dành cho người sống). Thế nên, bước vào sân thì phải qua cổng tam quan; lên nhà thì phải qua bậc tam cấp; nhà dân thường có ba gian hoặc năm gian; các kiến trúc lớn thường dựng theo lối tam tòa. (Cổng Ngọ Môn – Huế; nhà thờ đá – Phát Diệm…); các tòa thành (như Cổ Loa, Huế) đều có kiến trúc ba vòng…

Để lên đến nhà thờ, ngoài bậc tam cấp, công trình cũng được thiết kế thêm hai đường dốc thoai thoải, kèm theo tay vịn hai bên để tạo điều kiện cho những người cao tuổi có thể lên xuống dễ dàng.

Qua bậc tam cấp, ta như rũ bỏ được những lắng lo, những vấn vương của cuộc sống thường nhật để bước vào một thế giới hoàn toàn khác biệt – thế giới tâm linh – nơi đó, con người có thể an tâm mà sốt sắng cử hành Thánh lễ, an tâm chia sẻ những vui buồn và thanh thản dâng những lời nguyện cầu lên Thiên Chúa. Giếng rửa tội của nhà thờ chính tòa được thiết kế hết sức độc đáo. Lòng giếng được thiết kế hình một chiếc lá sen; chung quanh có một bông hoa sen trắng và một đài sen vàng. Phía trước chiếc lá sen xanh có bức tượng Đức Giêsu đang đứng giang tay và một dòng nước chảy ra từ chính đôi bàn tay của Ngài.

Cửa chính của nhà thờ chính tòa có hình vuông, ở giữa hai cánh cửa chính là một hình tròn – một sự thể hiện rõ nét triết lý âm dương. Có vuông có tròn, tức là có âm có dương; vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), tròn tượng trưng cho trời (thuộc dương). Theo quan niệm về âm dương thì: trong âm có dương và trong dương có âm. Hai cánh cửa được làm bằng một loại gỗ quý, bên cạnh có hai bức phù điêu bằng đồng đắp nổi. Chung quanh cửa có những đường gân khác nhau dẫn đến cây thánh giá ở chính giữa hai cửa.

Hình ảnh cây thánh giá hiện diện ở cửa chính của ngôi thánh đường vẫn luôn là biểu tượng của Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh. Nổi bật trên đầu của cây thập giá là hình ảnh một bông lúa chín vàng. Phía bên trên có một bức phù điêu hình Thiên Chúa Cha đang một tay nâng trái đất và một tay giơ ra để chở che nhân loại. Những đường gân được điểm xuyến bằng những mũ đinh nổi, thường thấy ở cánh cửa chính của những ngôi thánh đường lớn ở châu Âu Hình ảnh đó gợi nhắc đến cuộc sống lữ hành trần thế của người tín hữu hôm nay;

Bước vào nhà thờ, chúng ta có cảm một cảm giác linh thiêng và huyền nhiệm. Nội thất của ngôi thánh đường được sơn một gam màu trầm. Nổi bật lên giữa gam màu trầm lắng đó là sự rực sáng lung linh của bàn tòa chính mới được thiếp vàng. Sự kết hợp hài hòa giữa gam màu trầm của nội thất nhà thờ và màu sáng của gian cung thánh giúp cộng đoàn không bị xao nhãng, nhưng dễ dàng tập trung vào việc tham dự thánh lễ và các cử hành phụng vụ nơi đây.

Bàn tòa của nhà thờ cũ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn, không mất đi dù một chi tiết nhỏ. Quan sát những đường nét hoa văn được chạm trổ một cách tinh vi, chúng ta càng cảm phục đôi bàn tay tài hoa của những nghệ nhân thế hệ trước. Gian cung thánh của ngôi nhà thờ mới được thiết kế rộng … Nền của cung thánh được lát bằng đá garanit màu đỏ, nếu nhìn từ trên cao, như một tấm thảm đỏ khổng lồ. Mới thoáng nhìn, người xem có thể nhận thấy sự trang trọng, uy nghi của gian cung thánh – xứng đáng là nơi diễn ra các cử hành Thánh Thể. Nhưng quan sát kỹ, chúng ta lại có một cảm giác thật gần gũi giữa cộng đoàn và bàn tiệc Thánh Thể.

Nhiều người có cảm giác, gian cung thánh như một chiếc trống đồng lớn. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi chân của cung thánh được trang trí bằng bức phù điều lớn mang các họa tiết vẫn được trạm khắc trên các trống đồng: những cánh chim Lạc Việt, những cảnh sinh hoạt thường ngày như săn bắn, hái lượm… những hình ảnh tuy đơn sơ nhưng lại được diễn tả một cách sống động dưới bàn tay tài tình của những nghệ nhân.

Nổi bật giữa gian cung thánh là bàn thờ được làm từ đá cảm thạch. Trông xa, bàn thờ như một tấm bánh trắng lớn, được nâng lên bởi những đôi bàn tay xinh xắn của hai thiên thần bé nhỏ.

Mặt bàn thờ hình tròn (tượng trưng cho trời) được đặt trên một trụ có chân hình bát giác Đối với người Công giáo, hình bát giác thể hiện Bát phúc (8 mối phúc); đây là 8 phương thế và cũng là 8 con đường dẫn đưa chúng ta về quê trời.

Xung quanh bàn thờ được trạm trổ hình những chùm nho và lúa miến. Dưới chân bàn thờ được trang trí bằng một tấm thảm lớn, trên đó được điểm xuyến bằng hình những mặt trống đồng. Giữa mặt trống là hình ngôi sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công và những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau .

Trên cung thánh có hai nhà tạm đều được làm bằng đá cẩm thạch: một để Mình Thánh Chúa và một để Lời Chúa.

Nơi Nhà Tạm để Mình Thánh Chúa có khắc hai câu thơ được trích trong bài thơ “Chiếc đèn chầu” của nhà thơ Bạch Lạp (bút danh của Đức Cha Phanxicô Xaviê, giám mục giáo phận Thái Bình) như sau:

“Linh hồn con như chiếc đèn chầu

Âm thầm tỏa sáng trong đêm thâu”.

Xét về nguồn gốc, “nhà tạm” theo cách hiểu của chúng ta hiện nay chỉ có từ thế kỷ XVI, đặc biệt khi Giáo Hội phải đương đầu với những người chống đối sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Quả thật, trong những thế kỷ đầu, với những người chống đối sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, nhà tạm được hiểu là nơi cất giữ Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân và những người vắng mặt; nơi cất giữ này chưa chiếm vị trí trung tâm của cung thánh như hiện nay. Thế rồi, từ việc cất giữ Mình Thánh cho bệnh nhân, người ta ngày càng khám phá ra ý nghĩa sâu xa sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Từ đó, lòng tôn thờ Chúa phát triển mạnh mẽ qua việc chầu Thánh Thể.

Hai cột trụ dưới bàn tòa chính được thiết kế trở thành hai cây bạch lạp với ngọn lửa hồng rực sáng

Giảng đài của nhà thờ Chính Tòa mới được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối. Ở  phía trước có trạm trổ bức phù điêu hình cây thập giá và con cá thể hiện cho Đức Kitô.

Mười bốn đàng thánh giá của nhà thờ Chính tòa Thái Bình được liên kết bởi những bức phù điêu chạy dài, dọc hai bên nhà thờ tạo thành một tổng thể liên hoàn. Những chặng đàng thánh giá được phủ một màu đồng với những hình khối uốn lượn, tạo nên một quang cảnh thật sống động.

Tầng hầm của nhà thờ Chính Tòa là nơi hàng năm, cử hành Thánh lễ trọng thể để cầu nguyện cho các linh hồn, và xin ơn tha thứ cho những người đã ra đi trước chúng ta .Ở chính giữa của tầng hầm, có đặt bức tượng Mẹ Sầu Bi được tạc một cách hết sức tinh xảo. Dưới chân tượng Mẹ Sầu Bi là phần mộ của hai Đức Cố Giám Mục Đaminh Đinh Đức Trụ và Giuse Maria Đinh Bỉnh. Cả hai ngôi mộ đều được ốp bằng đá sà cừ, trên đó đặt một bảng đồng chạm trổ các hoa văn theo lối cổ điển, đề tên và ngày qua đời của các ngài.

Có thể nói, ngôi nhà thờ mới chính là hoa quả đầu mùa, là kết tinh của bao công khó của tất cả mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận. Nhưng công lao đầu tiên và trên hết, phải kể đến Đức Cha Phanxicô Xaviê – vị cha chung của giáo phận.

Kể sao cho hết những ưu tư lo lắng của vị mục tử giáo phận khi đã ở vào độ tuổi “xưa nay hiếm”. Ngài đã trăn trở, lo toan, từng ngày từng giờ để săn sóc, cho công trình nhà thờ Chính Tòa được thành toàn. Kể từ khi có kế hoạch xây lại ngôi thánh đường nhà thờ Chính Tòa, Đức Cha đã phải nhiều lần lặn lội sang tận trời Tây để lo tài chính cho công trình; không phải lần nào cũng thuận buồm, xuôi gió. Những lần như thế không tránh khỏi những hiểu nhầm, nghi ngại…

Để có được ngôi thánh đường nguy nga lộng lẫy như ngày hôm nay, giáo phận Thái Bình không thể quên được công lao của các đấng bậc trong giáo phận; các kỹ sư thiết kế, các tổ thợ thi công… và cũng không thể không nhắc đến những tấm lòng hảo tâm, đã hy sinh công của, chung sức với giáo phận để xây lên ngôi đền thánh này. Có những người được giáo phận biết đến để ghi ơn; nhưng cũng không thiếu những người chỉ âm thầm chắt chiu từng đồng xu nhỏ của mình nhưng là cả số tài sản lớn, như đồng tiền của bà góa xưa được Tin Mừng nhắc tới. Có những người âm thầm hiến tặng những ngày công, hay những cụ già chỉ đóng góp bằng những lời cầu nguyện…

Mỗi thành phần dân Chúa, trong và ngoài giáo phận bằng sự đóng góp của mình đã như là những viên gạch để xây lên ngôi nhà thờ Chính Tòa Thái Bình hôm nay. Không ai khác, ngoài một mình Thiên Chúa có thể chứng giám và trả công cho các đấng bậc và quý vị.

Việc ngôi nhà thờ Chính tòa mới được khánh thành, lại một lần nữa, khẳng định sức sống và niềm tin của giáo phận Thái Bình. Trong ánh nắng ban mai huy hoàng, ngôi nhà thờ đang và sẽ mãi vươn cao như thách thức với thời gian, như một sự tái khẳng định với con người, với cuộc đời rằng: cho dù đất trời có đổi thay, nhưng lòng những người con dân Thái Bình vẫn luôn son sắt thủy chung.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , ,

CHÙA THẠNH LÂM

Chùa Thạnh Lâm trên đảo Phú Quý

chùa thạnh lâm

Chùa Thạnh Lâm tọa lạc tại xã Ngũ Phụng huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận, được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVIII. Tại chùa còn lưu giữ trên 30 tượng Phật cổ với nhiều chất liệu: đồng, gỗ, đất nung.

Trải qua hơn 200 năm tồn tại, chùa Thạnh Lâm trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo không thể thiếu của nhiều thế hệ người dân trên đảo Phú Quý.

Quần thể kiến trúc chùa Thạnh Lâm gồm nhiều hạng mục có quy mô bề thế, trang nghiêm đan xen giữa lối kiến trúc cổ kính và kiến trúc hiện đại như: Cổng Tam quan, Bảo tháp, Tháp bia, Tháp chuông, Chính điện và nhà Tổ.

Cổng chính nằm đối diện với Chính điện được kiến tạo thành ba lối đi. Qua khỏi cổng chính là khoảng sân rộng đặt hòn non bộ ở giữa, bên tả là Bảo tháp cao 21m được kiến tạo hình bát giác với bảy tầng, chân tháp rộng, càng lên cao càng thu nhỏ dần và vuốt nhọn ở phần đỉnh. Tất cả các tầng mái tháp lợp ngói ống; các góc mái trang trí hình tượng giao long nhìn về tám hướng khác nhau. Ở tầng trệt, ứng với tám cạnh là tám cột hình trụ tròn, trên mỗi cột đắp nổi một con rồng quấn lượn quanh.

Phía sau Bảo tháp là Tháp bia xây theo dạng hình tứ giác. Tháp bia ba tầng mái, các góc mái vuốt cong và bên trên trang trí giao long. Đỉnh nóc thu nhỏ, vuốt nhọn và bên trên trang trí một bình nước cam lồ. Trên bốn cột của tầng trệt tháp bia đắp nổi một con rồng quấn quanh rất đẹp. Nội thất đặt một tấm bia đá cao 1,7m x rộng 1,2m và mặt trước khắc chữ Hán Nôm ghi lại công trạng của sư Thích Tường Nguyện đối với chùa.

Chính điện (điện thờ Phật) là công trình kiến trúc xây dựng bề thế, trang nghiêm và trang trí công phu nhất. Tổng thể được kiến tạo theo dạng kiến trúc chữ Công, gồm có 3 nóc nối tiếp nhau từ trước ra sau. Nóc trước xây cổ lầu, hai bên là hai dạng lầu chuông. Đỉnh nóc trang trí phù điêu lưỡng long chầu vòng luân hồi; các góc mái vuốt cong gắn giao long và phượng bên trên. Trên các vách tường cổ lầu, đắp nổi các điển tích xưa liên quan đến Phật giáo và các họa tiết như: mai, lan, cúc, trúc, cá hóa long, hổ, hoa lá và mây nước…. Trên các thân cột ở mặt tiền cửa chính ra vào đắp nổi những câu đối ca ngợi cảnh đẹp của đảo, cuộc sống thanh tịnh:

Phú Quý hoa khai hương biến, triều dương huy hoàng lệ sa hải hội

Thạnh Lâm bát nhã từ hàng, thanh tịnh thiên nhân phổ lợi liên trì

Tạm dịch:

Phú Quý nở hoa hương tỏa, mặt trời rực rỡ sáng chiếu trên vùng biển cát

Thạnh Lâm trí tuệ từ hàng, con người thanh tịnh như sống chốn liên trì

Đến với chùa Thạnh Lâm, ngoài việc vãng cảnh, bái Phật, còn được thưởng thức những nét đặc sắc của một công trình kiến trúc Phật giáo bề thế trên đảo Phú Quý, trong đó nổi bật là ngôi Bảo tháp 7 tầng và Đại hồng chung nặng 1,2 tấn được xem là những công trình kiến trúc, hiện vật lớn và đẹp nhất hiện nay tại các di tích ở Bình Thuận.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ PHÚ NHAI – NAM ĐỊNH

NHÀ THỜ PHÚ NHAI

p nhai 16

Nhà thờ Phú Nhai nằm ở xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Là một trong những ngôi nhà thờ có diện tích khá rộng lớn. Nhà thờ này đã được cha Chính Hòa cho xây năm 1881 Nhà thờ có phong cách kiến trúc Tây Ban Nha, có kích thước: dài 88 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg – 1.200 kg – 600 kg và 100 kg.

Lược sử Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Nhai

Vào năm 1858 tại Lộ Đức, nước Pháp, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ tên là Bernadette và xưng mình là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cùng thời gian này việc truyền đạo và giữ đạo tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn và thử thách.

Trong hoàn cảnh bi đát, khó khăn, đen tối nhất của lịch sử Công Giáo Việt Nam nói chung, nhất là của địa phận Bùi Chu nói riêng, năm 1858 (tức là chỉ sau 10 năm thành lập địa phận) Đức Cha Valentinô Berrio-Ochoa Vinh, Giám Mục Bùi Chu (ĐC Vinh được phúc Tử Đạo năm 1861 và được phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988) cùng với cha chính địa phận, cha chính Emmanuel Rianô Hoà đã cùng nhau tha thiết khấn cùng Đức Mẹ Vô Nhiễm rằng: Nếu Đức Mẹ ban sự bình an cho địa phận, thì địa phận sẽ nhận Đức Mẹ làm quan Thầy và sẽ xây một Đền Thờ xứng đáng để dâng kính Người.

Lời khấn đã được Đức Mẹ chấp nhận, tuy chưa có bằng an ngay, nhưng tinh thần giáo dân và giáo sĩ mạnh dạn hơn. Những người quá yếu đuối đã bỏ đạo thì tiếp tục ăn năn trở lại, dần lắng dịu. Cha chính Hoà làm Giám Mục năm 1868, ngài đã giữ lời khấn hứa với Đức Mẹ và năm 1881, ngài cùng với Cha chính Ninh (Isaac Barquero) xây nhà thờ kính Mẹ Vô Nhiễm tại Phú Nhai, tuyên bố nhận Đức Mẹ làm Quan Thầy Địa Phận. Ngài cũng là người đầu tiên đưa sáng kiến hàng năm vào ngày 8/12 tổ chức trọng thể lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Quan Thầy địa phận Bùi Chu. Vào ngày lễ đó, ngài kêu gọi tất cả các cha, các tu sĩ và toàn thể giáo dân về Phú Nhai mừng lễ, để tạ ơn Đức Mẹ.

Nhà thờ Phú Nhai đã qua 3 lần xây cất. Lần đầu tiên là năm 1881, vì hoàn cảnh còn eo hẹp. Nhà thờ đã xây xong, nhưng chưa đúng như lòng mong ước, nên những thập niên về sau, giáo quyền đã đặt kế hoạch xây một Đền Thờ lớn hơn hoàn tất năm 1923, có thể nói là nhà thờ lớn nhất Đông Dương. Nhà thờ xây theo kiểu gothic, dài 88m, 2 tháp cao 44m, cha chính Y vẽ đồ án và trông nom xây cất, 7 năm mới hoàn tất. Khánh thành đúng vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 8/12/1923 do Đức Cha Munagori Trung, Giám Mục Bùi Chu chủ toạ, hầu hết các linh mục địa phận và trên 50.000 giáo dân tham dự.

Cơn bão 30/9/1929 làm đổ nhà thờ Phú Nhai. Cha già Phạm Văn Nguyện 82 tuổi, địa phận Thanh Hoá hiện đang hưu dưỡng tại nhà hưu dưỡng 12772 Loisse St, Garden Grove, CA 92841 kể lại như sau. Hồi đó, ngài hơn kém 20 tuổi, thỉnh thoảng dịch những bài báo từ Pháp văn sang Việt văn đăng trên tờ Trung Hoà nhật báo, tờ nhật báo Công Giáo đầu tiên tại Việt Nam. Trung Hoà nhật báo tường thuật cơn bão đó như sau:

Trận bão chỉ kéo dài hơn kém một giờ mà đã làm đổ 48 nhà thờ, trong đó có nhà thờ Phú Nhai. Nhà thờ đổ vào hồi 8 giờ sáng vì lý do trần nhà thờ bị mưa, chứa quá nhiều nước, bị gió lớn làm sập trần và kéo theo đổ cả nhà thờ. Thiệt hại về nhân mạng là 16 người chết, trong đó có ông từ đang đốt đèn. Rất may trận bão chỉ kéo dài có một giờ, nếu kéo dài lâu hơn, thì số thương vong rất nhiều. Dân làng ai ai cũng vội vàng thu dọn nhà cửa rồi vào trú ẩn trong nhà thờ. Chưa kịp vào thì nhà thờ đã bị sập.

Địa phận Bùi Chu vẫn cố gắng và lần thứ ba, với sự đóng góp của toàn thể giáo dân Bùi Chu và sự trợ giúp của các giáo phận Việt Nam, sau 4 năm cố gắng, giáo phận Bùi Chu lại hoàn thành một Đền Thánh đồ sộ, nguy nga hơn để kính dâng Đức Mẹ Vô Nhiễm vào năm 1933.

Đền Thánh Phú Nhai hiện nay được xây cất năm 1933 đã trải qua nhiều năm với bao nhiêu bão gió và bom đạn chiến tranh, nhà thờ cần phải sửa chữa. Vì thế, giáo quyền Bùi Chu đã đề ra công tác Đại Tu Bổ Đền Thánh Phú Nhai.

Vương Cung Phú Nhai không chỉ là một công trình tín ngưỡng, điểm tham quan du lịch của du khách gần xa mà còn là đối tượng nghiên cứu của các kỹ sư xây dựng, các kiến trúc sư và các nhà nghiên cứu văn hóa.

Trong tâm trí của nhiều người, tòa thánh Phú Nhai có một sức lôi cuốn huyền bí, nhất là vào những ngày lễ Thánh. Giáo đường là nơi mọi người hướng đến. Ở đó luôn có những hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi được tổ chức rất long trọng.

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

 
 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ THỦ ĐỨC – TP HCM

Thánh đường trên trăm tuổi

thu duc

Mặt tiền nhà thờ Thủ Đức

Tương truyền, giáo dân vùng phụ cận Thủ Đức rất sùng đạo nhưng trong vùng không có nhà thờ. Mỗi chủ nhật, người dân phải cùng nhau đến nhà thờ Lái Thiêu để dự lễ. Khi đó vùng Thủ Đức bây giờ đang là rừng rậm, cọp beo rất nhiều, việc đi lại hết sức khó khăn, nguy hiểm. Năm 1880, linh mục Boutier được bổ nhiệm làm cha sở họ Phong Phú – Thủ Đức. Ông là một kiến trúc sư có tài và nhà thờ Thủ Đức hiện nay là một trong những công trình kiến trúc do ông thiết kế.

Nhà thờ Thủ Đức được xây dựng theo kiến trúc Gothique. Nhìn từ ngoài vào, tất cả các cửa chính và cửa sổ của nhà thờ đều có hình vòm nhọn, tạo cho công trình vẻ cao ráo, nhẹ nhàng. Hai hàng cột chính trong thánh đường không cầu kỳ như kiến trúc Roman nhưng vẫn đẹp nhờ những đường nét trang trí thanh thoát phần đỉnh cột. Vòm trần nhà thờ có hình nhiều quả trám chụm lại, tạo cảm giác thánh đường rộng và cao vút. Các cửa sổ nằm sát mái gắn kính màu sáng có hình hoa hồng, vừa là nơi lấy ánh sáng vừa là điểm nhấn trang trí. Suốt chiều dài tường hai bên nhà thờ trang trí rất nhiều tượng gỗ diễn tả các tích trong kinh thánh. Phong cách kiến trúc Gothique khiến nhà thờ Thủ Đức mang đậm vẻ thâm nghiêm nhưng hết sức lộng lẫy và gần gũi. Năm 1931, nhà thờ được mở rộng ra hai bên. Năm 1935, nhà thờ một lần nữa được nới rộng thêm và có hình dáng như hiện nay. Điều đáng nói là tất cả các phần nới thêm không hề phá vỡ kiến trúc vốn có của ngôi thánh đường mà còn khiến nó đẹp và bề thế hơn. Nhà thờ Thủ Đức có khuôn viên rất rộng, khoảng trên sáu ngàn mét vuông. Khu vườn quanh nhà thờ còn nhiều cây cổ thụ tuổi ngót nghét bằng tuổi ngôi thánh đường. Khu rừng cây tạo cho nhà thờ một không gian thoáng mát, màu sơn hồng đậm của thánh đường được màu xanh mát của cây lá tôn lên càng nổi bật.

nha tho Thu duc

Được biết, ngoài nhà thờ Thủ Đức, linh mục Boutier còn là người vẽ thiết kế nhà thờ Huyện Sĩ ở TPHCM. Hai ngôi thánh đường có chung kiến trúc Gothique nhưng mỗi nơi có một vẻ đẹp riêng.

Từ chợ Thủ Đức, lên một con dốc thoai thoải, bên trái đường là một ngôi thánh đường màu hồng đậm nằm lọt trong rừng cây xanh um tùm, đó là nhà thờ Thủ Đức có trên trăm tuổi nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp nguy nga ban đầu.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Ba Chuông

*Nhà Thờ Cầu Kho

*Nhà Thờ Cha Tam

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà Thờ Domaine De Marie

*Thánh Địa La Vang

*Nhà Thờ Chánh Tòa  Đà Lạt

*Nhà Thờ Gỗ KonTum

*Nhà Thờ Đá Cổ SaPa

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHA TAM – TPHCM

Nhà thờ Cha Tam

cha tam

Nhà thờ Cha Tam (tên chính thức là Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê) là một nhà thờ cổ được xây dựng năm 1900 và hoàn thành năm 1902. Nhiều người cho rằng, đây là một nhà thờ duy nhất ở thành phố có trang trí những hoành phi, liễn đối giống như đền miếu người Hoa.

Xét thấy ở khu vực Chợ Lớn thuộc giáo phận Chợ Quán, người Việt gốc Hoa theo đạo Công giáo không có nơi cầu nguyện, đô đốc Lagrandière lúc đó đang là Thống đốc Nam Kỳ, đã ra lệnh cho Sở Công trình công cộng dùng tiền công, để xây dựng một ngôi nhà thờ.

Được sự hổ trợ của chính quyền, giám mục Dépierre đã cử linh mục Pierre d’ Assou có tên Hoa là Đàm Á Tố (Tam An Su), đọc sang âm Việt là Cha Tam, đứng ra mua một khu đất rộng 3 hecta ở xóm Lò Rèn, mặt tiền đối diện đường Thủy Binh (Rue des Marins, nay là đường Trần Hưng Đạo), gần Lệ Châu hội quán (nhà thờ tổ nghề kim hoàn của Sài Gòn xưa), ngay trung tâm Chợ Lớn để xây dựng.

Ngày 3 tháng 12 năm 1900, nhân ngày lễ Thánh Phanxicô Xaviê (Saint Francisco Javier), vị giám mục địa phận Sài Gòn Mossard, đã đến làm phép đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường, và vì thế ngôi thánh đường được mang tên vị thánh này. Hai năm sau, vào ngày 10 tháng 1 năm 1902, lễ cung hiến thánh đường được tiến hành một cách trọng thể.

Tuy nhiên, vì linh mục Pierre d’ Assou, người đứng ra xây dựng nhà thờ và cũng là vị cha sở đầu tiên, nên dân gian quen gọi là nhà thờ Cha Tam.

Sau đó, Cha Tam cũng đã cho xây dựng thêm ở khu vực nhà thờ một trường học, nhà nuôi trẻ, một nhà nội trú và một số nhà dành để cho thuê. Năm 1934, Cha Tam qua đời, được an táng ngay bên tường, gần cửa ra vào nhà thờ.

Vào năm 1990, tháp chuông nhà thờ được tu sửa lại và cung thánh được tân trang.

Nhìn chung, nhà thờ có lối kiến trúc Gothique, giống như các nhà thờ ở Châu Âu, nhưng yếu tố văn hóa Hoa vẫn được coi trọng. Như cổng nhà thờ xây kiểu tam quan, tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán, mái lợp ngói âm dương, các đầu đao cong, hai bên cây thánh giá, có hai con cá chép. Trên nóc nhà thờ còn gắn hoa sen, hai bức liễn ở hai bên cửa ra vào cũng viết bằng chữ Hán, bốn cây cột nơi chính điện sơn đỏ, là màu không phổ biến trong nhà thờ Công giáo. Nơi treo hình tượng Chúa Jesus bị đóng đinh là hai bức liễn sơn son thiếp vàng, chạm chữ màu đen:

Thiên hương vĩnh phúc phương năng suy thiện tâm,

Ảo thế phù vinh bất túc mãn nhân nguyện.

Tạm dịch:

Ơn đức lâu dài thơm thảo của Chúa Trời giúp người suy gẫm về lòng thiện,

Những vinh hoa phù phiếm hư ảo không thể làm thỏa mãn ham muốn của con người.

Ngoài công trình xây cất theo nghệ thuật kiến trúc Gothic của Tây phương, trong nhà thờ còn trang trí những tấm Hoành Phi và các tấm Liễn. Các bức hoành phi là những tấm ván được sơn đen hay đỏ bóng láng giống nền các bức tranh sơn mài của người Việt; trên đó người ta viết những chữ có ý nghĩa về đạo, văn hóa hay phong tục. Các tấm liễn là các câu đối khắc trên gỗ treo trên cột hay tường giống như ở đền miếu của người Hoa.

Thông tin thêm

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, cuộc đảo chính quân sự nổ ra, Tổng thống Ngô Đình Diệm và người em ruột là Cố vấn Ngô Đình Nhu của chính thể Việt Nam Cộng hòa đã phải tạm lánh đến ở một nhà người Việt gốc Hoa tên Mã Tuyên ở khu vực Chợ Lớn

Sáng hôm sau, tức ngày 2 tháng 11 năm 1963, hai ông đã đến ngôi nhà thờ này cầu nguyện trước khi tự nộp mình cho phe đảo chính, nhưng rồi cả hai ông đều bị một sĩ quan trong lực lượng đảo chính hạ sát ngay trên đường áp tải từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng tham mưu

. Hà Tiên Cô sưu tầm

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

*Nhà Thờ Domaine De Marie

*Thánh Địa La Vang

*Nhà Thờ Chánh Tòa  Đà Lạt

*Nhà Thờ Gỗ KonTum


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ HẠNH THÔNG TÂY – GÒ VẤP TPHCM

NHÀ THỜ HẠNH THÔNG TÂY

Nhà thờ Hạnh Thông Tây là một nhà thờ Giáo hội Công giáo Rôma, nằm ở quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam do ông Huyện Sĩ (tên thật là Lê Phát Đạt), một trong 4 đại điền chủ lớn nhất Nam Bộ bỏ tiền xây cất.

Kinh phí xây dựng là số tiền dư khi xây dựng nhà thờ thánh Philipphê (Nhà thờ Huyện Sĩ hiện nay) mà ông Huyện Sỹ là người bỏ tiền ra xây. Một nhà thờ khác cũng do ông bỏ tiền ra xây là nhà thờ Chí Hòa (đường Cách mạng tháng tám – quận Tân Bình. Thời điểm xây có lẽ khoảng những năm đầu thế kỉ 20 (nhà thờ Huyện Sĩ xây năm 1902).

Nhà thờ Hạnh Thông Tây được xây dựng theo phong cách kiến trúc Byzantine, mô phỏng Vương cung Thánh đường Saint Vitale ở thành phố Ravenna, Ý. Trong khi đa phần nhà thờ ở Việt Nam đều theo phong cách Kiến trúc Gothic hoặc Roma.

Phía trên cửa trước Nhà thờ Hạnh Thông Tây có tượng thánh Sylvester. Trên nóc vòm nhà thờ được trang trí tranh mosaic theo phong cách Byzantine mô tả cảnh Jesu chết trên thập giá, một số hình ảnh các vị thánh như Thánh Giu-se và Chúa Jesus Hài Đồng, và 11 Nữ thánh là An-na, Madeleine, Veronica, Lucia, Cecilia,Agnes, Claire, Jean d’Arc, Germaine.

Bên trong, người ta dùng gạch của Ý để xếp thành hình giống như nhà thờ Thánh Assisi hay Thánh Maria của Ý.

Ngoài ra, nhà thờ còn có hai mộ tượng của ông bà Lê Phát An (con trai cả của ông Lê Phát Đạt, cậu ruột của hoàng hậu Nam Phương) nằm đối diện nhau, do hai nhà kiến trúc và điêu khắc Pháp nổi tiếng thực hiện. Hai ngôi mộ này (tương tự như mộ ông bà Lê Phát Đạt ở nhà thờ Huyện Sĩ) toàn thể đều khắc bằng đá cẩm thạch và hoa cương.

Đặc biệt hai pho tượng chân dung của ông bà Lê Phát An rất mang tính “Nam Bộ” đang quỳ cầu nguyện và thương tiếc, được điêu khắc vô cùng đẹp và sống động theo phong cách Phục Hưng. Mộ của ông Lê Phát An thì có cái tượng bằng cẩm thạch của vợ mặc áo dài quỳ gối, còn bên mộ vợ thì có tượng cẩm thạch của chồng mặc áo dài qùy gối.

Nhấp vào ảnh nhỏ để xem ảnh lớn

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Thủ Đức

*Đức Mẹ TaPao Bình Thuận

*Nhà Thờ Ba Chuông

*Nhà Thờ Đá Cổ SaPa

*Nhà Thờ Phú Thượng

*Nhà Thờ Trà Cổ

*Nhà Thờ Trung Lao



 
 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THÒ HUYỆN SỸ – TP HCM

Nhà thờ Huyện Sỹ là một nhà thờ Công giáo cổ hơn 100 tuổi, tọa lạc tại số 1 đường Tôn Thất Tùng, Quận Một, Thành phố Hồ Chí Minh

NHÀ THỜ HUYỆN SỸ 3

Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (ngàn) bạc. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của Linh mục Bouttier[1], đến 1905 thì được khánh thành, nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng).

100_0299

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi, do nhận bảo trợ của thánh Philipphê tông đồ, thánh bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ thánh Philipphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này.

100_0300

Nhà thờ Huyện Sĩ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Matthêu Lê Văn Gẫm. Gần cổng chính còn có đài Thiên Thần bổn mạng và tượng đài thánh Giuse.

100_0302

Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức. Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các cha sở họ Chợ Đũi có thói quen dâng thánh lễ tại núi này cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân.

100_0303

Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita (Iohannes Baptista) Dương Hoàng Thanh.

100_0309

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, chia làm 4 gian [3]rộng 18 mét. Nhà thờ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic mới.

Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philipphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Tháp chuông nhà thờ Huyện Sỹ với chú gà trống Gaulois

Ngọn tháp chuông chính diện cao 57 mét kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong ngọn tháp có 4 quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905. Hai quả lớn có đường kính 1m05 do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0m95 không ghi người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Theo học giả Vương Hồng Sển, ông Huyện Sĩ, cũng có tên gọi là Lê Phát Đạt (1841-1900), người Cầu Kho, theo đạo Công giáo, tên thánh là Philipphê, thuở nhỏ tên là Sĩ, khi học La Tinh ở Cù lao Penăng gặp thày dạy trùng tên nên đặt tên là Đạt. Thời đó rất hiếm người biết chữ nghĩa (chữ quốc ngữ, chữ Hán) và nhất là tiếng La Tinh và tiếng Pháp, nên hầu hết những người được đào tạo từ trường dòng ra, đều được trọng dụng, trong đó có ông ông Lê Phát Đạt được cử làm thông phán. Ông phục vụ ở tỉnh Tân An nhiều năm

Tương truyền, buổi đầu Tây mới qua, dân cư thưa thớt, tản mác, thực dân Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận với giá rẻ mạt mà vẫn không có người mua, thế rồi họ ép ông Sĩ mua. Bất đắc dĩ, ông phải chạy bạc khắp nơi để mua. Không ngờ mấy năm liên tiếp được mùa, ông trở nên giàu có. Trong nhà ông có treo câu đối dạy đời:

Cần giữ kiệm, trị gia thượng sách

Nhẫn nhi hoà, xử thế lương đồ.

Thời đó có câu “nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”, vậy là ông đứng thứ nhất trong bốn người giàu nhất Sài Gòn và Nam kỳ. Thứ nhì là Đỗ Hữu Phương, làm tổng đốc, gọi là Tổng đốc Phương. Thứ ba là Lý tường Quan, người Minh Xương, tục danh là Hộ Xường, thứ tư là ông Hộ trưởng tên là Định, gọi là Hộ Định.

Ông huyện Sĩ mất năm 1900 trước khi nhà thờ xây xong. Sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa xác hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh như một nhà mồ.

Theo di chúc, phần tiền xây dựng nhà thờ trích từ 1/7 gia tài của ông, nên khi ông chết, việc thi công xây dựng vẫn được tiến hành một cách suôn sẻ. Nhà thờ rộng 18 mét, dài mới đầu dự tính là 5 gian, tức khoảng 50 mét. Lúc đó ở khu Chí Hoà, nhà thờ tạm bị hư hại trầm trọng, không có nơi cho bổn đạo thờ phụng, nên các giới chức trong đạo đã xin cắt bớt 1 gian ở nhà thờ Huyện Sĩ, lấy số tiền đó xây nhà thờ Chí Hoà (đến nay nhà thờ Chí Hoà vẫn còn, được tôn tạo nhiều lần, nên rất khang trang).

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn. Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Đối diện bên phải là tượng và một vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), với tóc búi, cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh (bên phải) và Anna Đỗ Thị Thao (bên trái)

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

Nhấp vao ảnh nhỏ để xem ảnh lớn

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đá Cổ SaPa

*Nhà Thờ Phú Thượng

Nhà Thờ Trà Cổ

*Nhà Thờ Trung Lao

*Nhà Thờ Khoái Đồng

*Nhà Thờ Trung lao

*Nhà Thờ Cù Lao Giêng

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Phương Chính

*Nhà Thờ Hàm Long

*Nhà Thờ Phan Rang

 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,