RSS

Tag Archives: Thiên chúa giáo

26 NHÀ THỜ CHÍNH TÒA GIÁO PHẬN CÔNG GIÁO VN

 
 

Nhãn: , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÁNH TÒA MỸ THO

NHÀ THỜ CHÁNH TÒA MỸ THO

Nhà Thờ Chánh Toà Mỹ Tho hiện tại là ngôi nhà thờ thứ ba của họ đạo Mỹ Tho được khởi công xây dựng tại họ nhánh Vĩnh Tường ngày 11-8-1906 bởi cha Régnier (Cha Gẫm) ngay trước nhà thờ này, bên kia đại lộ Bourdais, nay là đại lộ Hùng Vương. Đến năm 1910 công việc xây dựng nhà thờ được hoàn tất.

Ngôi nhà thờ khá đồ sộ, uy nghiêm, với chiều cao 24m, chiều dài 53m, chiều rộng hơn 17m, một gian chính và hai gian phụ hai bên. Kết cấu chính của tòa nhà được xây theo lối cột tròn chống đỡ, mái vòm được trang trí bằng nhiều hoa văn, họa tiết tinh xảo.

Tháp chuông nhà thờ đầu tiên được dựng bên hông nữ. Đến năm1958, cha sở Phaolô Nguyễn Minh Chiếu đã di dời chuông lên tháp cao bên nam. Đến năm 1995, vì sợ đổ chuông có thể gây hư hại cho ngôi thánh đường cổ xưa, cha Giuse Nguyễn Văn Chúc cho xây dựng lại một tháp chuông khác tách rời nhà thờ, tức là tháp chuông hiện nay. Ngày 16.2.1995, Đức Cha Anrê Nguyễn Văn Nam đặt viên đá đầu tiên. Sau hơn 9 tháng xây dựng, tháp chuông mới được khánh thành ngày 30.11.1995.

Dịp Năm Thánh 2000, Đức Giám Mục Giáo Phận Phaolô Bùi Văn Đọc đã cử hành Lễ Cung Hiến Nhà Thờ Chánh Tòa Mỹ Tho ngày 21.01.2000 và chọn ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời làm ngày lễ Bổn mạng thứ hai của Nhà Thờ Chánh Tòa Mỹ Tho.

Để chuẩn bị mừng kỷ niệm 100 năm ngày xây dựng nhà thờ và mở Năm Thánh, linh mục Giacôbê Hà Văn Xung đã xin ý kiến Đức Giám Mục để trùng tu và nới rộng nhà thờ. Lễ khởi công trùng tu được cử hành ngày 14.06.2006. Công việc trùng tu gồm việc thay mái ngói – nới rộng 2 bên hong nhà thờ – xây dựng lại phòng thánh – cải tạo tháp chuông – đặt đàng Thánh Giá xung quanh nhà thờ.

Sau 9 tháng thi công, vào ngày 21-05-2007, Đức Giám Mục Giáo Phận đã dâng lễ tạ ơn và khai mạc Năm Thánh mừng kỷ niệm 100 năm xây dựng nhà thờ.

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Tân Định

Đức Mẹ Bãi Dâu

Tượng Chúa KiTo Vua Trên Đỉnh Tao Phùng

Nhà Thờ Thủ Đức

Đức Mẹ TaPao Bình Thuận

Nhà Thờ Ba Chuông

Nhà Thờ Cầu Kho

Nhà Thờ Cha Tam

Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

Nhà THờ Huyện Sỹ

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền nam

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH

NHÀ THỜ CHÍNH TRẠCH ĐÀ NẴNG

Giáo xứ Chính Trạch thuộc giáo phận Đà Nẵng ,bổn mạng là Mẹ Trưng Nữ Vương , được thành lập năm 1954. Sau hiệp định Genever có khoãng chừng một triệu người từ miền bắc di cư vào phía nam . Đa sốlà người công giáo thuộc các giáo phận miền bắc Việt Nam , trong số đó cũng có một số dân vùng lân cận duyên huyện Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình vào Đà Nẵng. Một số định cư trên mảnh đất nay gọi là Chính Trạch . Khu đất giáo xứ Chính Trạch đang sinh sống hiện nay là do cha Jeanningros ( Cố vị ) mua của thị xã Đà Nẵng vào ngày 15-1-1954 gồm ba lô đất tổng diện tích 6705m2. Iệc mua đất đã thực hiện trước khi có phong trào di cư . Địa điểm tọa lạc của giáo xứ Chính Trạch hiện nay , vào năm 1954 là một khu đất cát hoang vu , để dân di cư có chỗ tạm trú , người ta đã thiết lập lán trại bằng những dãy nhà gỗ lợp tôn lien kết với nhau . Những người di cư ai có gia đình từ 4 người trở lên thì nhận được 1 căn , còn ít thì 2 gia đình nhận một căn .Người công giáo được sự hướng dẫn của các linh mục nên được sống chung theo từng cụm gia đình . Tại Chính Trạch đa phần thuộc gốc Quảng Bình , ban đầu nơi đây chỉ có tính cách tạm cư chứkhông tính đến định cư . Nhưng sau đã trở thành định cư với những tranh chấp cả chính quyền lẫn giáo quyền . Mãi đến năm 1958 giáo quyền mới chính thức nhìn nhận là giáo xứ , với tước hiệu Nữ Vương Hoàn Vũ .


Là người sáng lập giáo xứ cha GiuSe Ngô Đình Phú , đã xây dựng một ngôi nhà thờ với chiều dài 27m , chiều rộng 8m , cao chừng 4m . Khung nhà bằng sắt .Ngài cũng xây một ngôi nhà xứ lợp ngói vào năm 1959 diện tích 12mx7m là nhà của cha xứ ở và sinh hoạt . Khi cha Gioan Baotixita nguyễn Duy Lượng được bổ nhiệm về coi xứ.Ngài vẫn duy trì các sinh hoạt mà cha GiuSe đã khởi sự . Từ cuối năm 1989 ngài cùng cộng đoàn giáo xứ tái thiết nhà thờ và khánh thành với thánh lễ cung hiến do đức giám mục giáo phận Phanxico Xavie Nguyễn Quang Sách chủ tế vào ngày 30-5-1991 . Cha Emmanual Nguyễn Tấn Lực về nhận xứvào năm đại thánh 2000 . Ngài đã chỉnh tranglại nhà thờ ,sơn lại màu trần , thay toàn bộ kính màu các cửa vì trước đây được che kín bằng những tấm tôn nhựa . Sửa và nâng cấp cung thánh , bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ thánh GiuSe . Đến thời điểm giáo xứ mừng 50 năm thành lập . Đức giám mục bổ nhiệm cha Đôminicô Trần Công Danh về coi sóc giáo xứ từ ngày 21-8-2003 . Trong quá trình phục vụ giáo xứ cha Đôminicô đã cho tái xây dựng lại các phòng học giáo lý và nhà xứ như hiện nay. Hơn thế nữa , vì nhà thờ là nơi thánh và đã cung hiến nên ngài cũng không ngớt lo toan ,mãi đến năm 2007 có điều kiện ngài cho thay toàn bộ plafond nhà thờ bằng công nghệ tân tiến , lót gạch nền ,ốp trụ bằng Alu công nghệ mới , đồng thời chỉnh trang toàn bộ bên tong nhà thờ như hiện nay . Có thể nói là xứng với nơi được cung hiến để thờ phượng Chúa

Các bài đã đăng :

Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đồng Dài

Nhà Thờ Phước Thiện

Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà Thờ Hòa NInh

Nhà Thờ Tùng Sơn

Nhà THờ Tân Hà

Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

Nhà Thờ Bảo Lộc

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 25, 2009 in miền trung

 

Nhãn: , , , , , , ,

NHÀ THỜ CHÍNH TÒA LẠNG SƠN

nhà thờ chánh tòa lạng sơn

Kiến trúc nhà thờ được kết hợp bởi kiểu nhà sàn các dân tộc Miền núi phía Bắc và bộ mái cong kiểu cung đình Việt nam. Có diện tích chiều ngang ba mươi mét và sâu hai mươi lăm mét cả hành lang, có ba lối để lên sàn nhà thờ, nhà thờ có hai mái bộ xếp lên nhau khoảng cách bằng một bức tranh kính mầu, mái trên tượng trưng cho Trời, mái dưới tượng trưng cho Con Người, sàn móng vuông tượng trưng cho Đất, theo quan niệm Thiên, Địa, Nhân, Hoà, nghĩa là con người được hoà giải với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô qua Mầu Nhiệm Thập giá. Cây tháp chính năm tầng được xây dựng liền với tiền sảnh nhà thờ ngụ ý nói đến Mầu nhiệm Năm Sự Sáng và năm yếu tố tổng hợp, vũ trụ quan Đông phương: Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ.

Hai hướng Bắc-Nam của nhà thờ xây hai tháp nhỏ có hai tầng, mỗi tháp treo một đèn lồng bằng gỗ thắp sáng; phía bắc ngầm nói đến ý trền giáo lên tỉnh Cao bằng và Hà Giang, phía nam nói đến công việc truyền giáo cho tỉnh Lạng sơn. Tất cả các mái nhà thờ và mái các tháp, đầu mái hơi cong lên, và được lợp ngói âm dương màu xanh, diễn tả tâm hồn siêu thoát muốn vươn lên tới Chúa và ngầm hiểu về con thuyền của nền Văn hoá Nông nghiệp Việt nam.

Cảnh đẹp thiên nhiên ở đây hài hoà với công trình kiến trúc, từ cổng tam quan chay theo trục lộ Văn Miếu tiếp nối với đường Tổ sơn, tạo cho người xem cảm giác dễ chịu. Đây là dãy tường thành cao hai mét, được trang trí bằng những hoạ tiết thuyền, chim Lạc Việt, hạt giống, trái tim, và thập giá. Tất cả đều muốn nói lên việc truyền giáo ở Việt nam và tỏ lòng kính nhớ tổ tiên Lạc Hồng.

Từ hướng tam quan theo lối chính đến tiền sảnh nhà thờ, con đường lớn rộng năm mét, dài ba mươi mét, nằm giữa khoảng sân tiếp nối đường kiệu hình bát giác, có những lối đi nhỏ dẫn đến tượng đài Đức Mẹ và thánh Đa Minh. Phía trước tiền sảnh nhà thờ, có đặt mười hai trống đồng ngầm nhắc mọi người nhớ đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp của cha ông.

Từ sân nhà thờ theo hướng Nam, du khách có thể đến xem tượng đài Đức Mẹ theo những lối mòn qua những ụ đất thấp. Tượng đài được chạm bằng một phiến đá quí màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một tấn, do các nghệ nhân điêu khác nổi tiếng của vùng Non nước (Đà nẵng) thực hiện. Tượng được tạc theo hình dáng một phụ nữ người Tầy và đặt trong một hang đá nhỏ với quần thể núi non thấp, hình thác Bản Dốc, một địa danh lừng lẫy của tỉnh Cao bằng.

Đối diện với tượng đài Đức Mẹ là tượng đài Thánh Đa-Minh, bổn mạng của nhà thờ. Tượng Thánh nhân cũng được tạc trên một tảng đá quý màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một tấn do các nghệ nhân nói trên thực hiện. Gương mặt Thánh nhân tươi trẻ mang vóc dáng và hình hài Việt nam, tay phải cầm ngọn đuốc cháy sáng, tay trái mang sách Thánh Kinh. Thánh nhân đứng trên thửa ruộng bậc thang như đứng trên cánh đồng truyền giáo để chiếu sáng Đức tin và rao giảng Tin mừng, theo lý tưởng dòng tu ngài đã thành lập là Dòng Anh em giảng thuyết (O.P: Ordo Praedicatorum).

Khi đến tiền sảnh nhà thờ, du khách có thể nhìn xem tác phẩm Nước thanh tẩy chạm vằng đá trắng, rộng ba mét rưỡi, dài mười hai mét trải dài trên mặt sàn cầu thang. Tác phẩm chia làm ba phần: phần một gợi nhớ tầu ông No-ê trên biển khơi lênh láng. Ong No-ê đang ló đầu ra khỏi tầu để xem có thấy chim bồ câu trở về báo hiệu trận lụt sắp qua hay không. Phần hai nhắc lại cảnh ông Mô-sê đưa người Do thái vượt qua Biển đỏ cùng với hành trang và gia súc. Nước rẽ ra sừng sững như từng thành hai bên tả hữu. Phần ba mượn hình ảnh xe nước (cũng gọi là cọn) của dân tộc miền núi. Cọn nước muốn liên tưởng đến phép rửa, nguồn mạch sức sống mới do Chúa Kitô mang lại cho những ai tin và đón nhận Người.

Giếng rửa tội hình Thánh giá được ghép bằng đá quí đào lấy ngay ở sảnh chính, lòng giếng ghép bằng đá trắng, mặt trên được bao phủ bằng những tảng đá cuội rộng một mét rưỡi, dài ba mét, sâu bảy mươi lăm phân cùng bảy bậc lên xuống. Giếng này mô phỏng giếng làng của dân địa phương.

Bình phong được dùng để che cửa chính nhà thờ theo quan niệm truyền thống cung đình Việt nam, làm cho ngôi nhà thờ được kín đáo theo luật phong thuỷ, đồng thời cũng tỏ lòng kính trọng nơi tôn nghiêm. Đây là một phiến đá trắng diễn tả biến cố Chúa Giêsu sau khi được ông Gioan làm phép rửa tại sông Giođan.

Những hàng cột vuông vững chắc ngoài hành lang có các bệ đỡ đầu cột, kết hợp với hình Thánh giá nhỏ cùng xà dây như hai cánh tay giang ra để đón những hình người đau khổ chịu đóng đinh. Cửa chính nhà thờ là tấm vách gỗ chạm hai Thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô. Thánh Phê-rô tay cầm chìa khoá, đang ngước mắt lên trời. Dưới hồi cửa là hình con gà đang gáy. Còn Thánh Phao-lô, tay ôm sách Thánh, nét mặt đăm chiêu. Bên dưới hồi cửa có chạm thanh kiếm sắc và những bông hồng.

Cửa hông mặt tiền nhà thờ, về phía nam là hình Thánh Gio-an và Lu-ca, về phía bắc là hình Thánh Mát-thêu và Mác-cô. Bốn vị này mang khuôn mặt Việt nam, mặc y phục Nùng, tay cầm bút nghiên.

Thánh Mát-thêu mang hình mặt người, vì Tin Mừng thứ nhất bắt đầu từ gia phả Chúa Giêsu theo bản tính loài người. Thánh Mác-cô theo hình mặt sư tử, vì đầu sách Tin Mừng thứ hai nói về Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta là tiếng kêu trong hoang địa có sư tử, cầm thú. Thánh Lu-ca mang hình bò mộng vì đầu sách Tin Mừng thứ ba nói đến tư tế Gia-ca-ri-a dâng chiên bò tế lễ Thiên Chúa. Thánh Gio-an mang hình chim ưng, vì đầu sách Tin Mừng thứ bốn nói về Ngôi Lời Nhập thể chứa đựng Mầu nhiệm siêu việt tựa cánh chim bay cao vút.

Phần còn lại là các cửa ra vào bên hông và cửa sổ. Tất cả những thứ này đều mang hình Thánh giá, hoa hồi và hạt giống.

Cung Thánh được bao bọc bằng gỗ màu gụ gợi ý trầm tư, với rèm trang trí chạm hình thiên thần, cây trường sinh, sồi Mam-rê, bách tùng và những trái đào trường thọ. Kiểu cách này ngụ ý diễn tả sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Anh sáng nhẹ nhàng phát ra từ những tấm kính mầu là có ý tạo ra một bầu khí êm ả, thích hợp cho sự cầu nguyện riêng tư thầm kín, ngoài những buổi cử hành phụng vụ cộng đồng.

Bàn thờ là một phiến đá quí. Màu trắng nổi bật, dài hai mét năm mươi phân, rộng chín mươi phân, cao chín mươi sáu phân được chạm khắc tinh vi bằng những hoạ tiết như bánh trường sinh, nho, lúa miến, hoa hồi theo nghệ thuật truyền thống và hiện đại. Bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong cung Thánh.

Giảng đài đặt tại phía nam gian cung Thánh, làm bằng một phiến đá quí màu xanh, chạm hình cọn nước đang quay, ngụ ý nói Lời Chúa như nước chảy, được kín múc để tưới vào cánh đồng khô cạn là tâm hồn con người. Cọn nước là một phát minh của dân tộc miền núi.

Nhà Tạm làm bằng gỗ, được thiết kế theo mẫu nhà sàn của các dân tộc vùng núi miền Bắc và đặt ở phía nam cung Thánh. Cửa chính nhà Tạm chạm hình trái tim đang bốc lửa cháy.

Hương án Lời Chúa được thiết kế theo kiểu đình làng Việt nam, đặt tại phía bắc cung Thánh với bốn cột thông thoáng. Giữa cột đình có một ngai nhỏ để sách Thánh Kinh. Đình làng là nơi qui tụ dân chúng thì hương án Lời Chúa cũng là nơi tập hợp tín hữu lại để nghe Lời Chúa.

Thánh giá này nhỏ, được chạm bằng gỗ quí, cao bảy mươi phân, rộng năm mươi phân diễn tả cảnh Chúa chịu chết đang hấp hối trên thập giá. Thánh giá được gắn vào một cây trúc, đặt ở phía bên trái cạnh bàn thờ và có thể làm Thánh giá để đi kiệu.

Huy hiệu Giám mục được chạm bằng tấm đá màu trắng đục, rộng năm mươi phân, cao bảy mươi phân, được đặt bên phải cung Thánh kèm theo khẩu hiệu Chạnh lòng thương với các họa tiết trái tim, hoa hồng, chuỗi Mai-khôi.

Bức tranh sơn dầu, diễn tả Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và thập giá có kích thước cao hai trăm năm mươi phân và rộng hai trăm ba mươi phân, tả cảnh Đức Giêsu Ki-tô chịu khổ hình thập giá, hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu ngước mắt lên cùng Chúa Cha, vẻ tha thiết nguyện cầu, cạnh một khoảng cách nhỏ tượng trưng Chúa Thánh Thần. Chúa Cha đầy lòng trắc ẩn, đang nhìn Chúa Con thắm thiết yêu thương; các Đấng có khuôn mặt giống nhau.

Mặt bằng trần gỗ với diện tích bảy trăm năm mươi mét vuông, giật lên bảy cấp, được trang trí chạm khắc mười sáu lồng đèn gỗ, toả ánh sáng vàng. Đỉnh trần cao nhất là hình hoa hồi tám cánh, nơi có hình vòng tròn đồng tâm diễn tả lửa tình yêu và cánh thiên thần bay lượn, xoay quanh hình chén cứu độ.

Hai mươi kính mầu cửa sổ có kích thước một trăm năm mươi phân trên hai trăm phân diễn tả mầu nhiệm Mai khôi, bao bọc chung quanh nhà thờ, bắt đầu từ tay phải Cung Thánh, đi từ Năm Sự Vui đến Năm Sự Sáng. Các Mầu nhiệm này được trình bày theo các nét văn hoá Việt-Nùng.

Hai bức hình có kích thước rộng một thước bốn mươi lăm, dài hai thước bốn mươi được gắn tại hai bức tường nhỏ phần cuối nhà thờ: phía Bắc là tấm phù điêu Người gieo giống, diễn tả cô gái Nùng đang vãi hạt giống trên thửa đất gồ ghề, sỏi đá; bức thứ hai là phục vụ, diễn tả cảnh Chúa Giêsu đang rửa chân cho các Tông đồ. Các vị mặc y phục miền núi.

Mười bốn bức sơn mài dài bảy mươi phân rộng năm mươi phân diễn tả cảnh Đức Mẹ và các nhân vật ăn mặc theo lối Việt-Nùng. Những bức tranh này do các nghệ sĩ Hội Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.

Chuông cao một mét chín mươi, được đúc bằng đồng thau, do các nhóm nghệ nhân thuộc phường đúc xứ Huế thực hiện, trên chuông có khắc hoa văn các dân tộc miền núi, lời thánh vịnh và thơ công giáo. Chuông được treo tại tầng thứ hai của cây tháp.

Trên đây là những nét chính về kiến trúc nhà thờ chánh toà giáo phận Lạng sơn – Cao Bằng. Ngôi thánh đường này được cung hiến vào ngày mồng hai tháng 10 năm 2004.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đại Điền

*Nhà Thờ Đồng Hộ

*Nhà Thờ Hà Dừa

*Nhà Thờ Cây Vông

*Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Phương Chính

*Nhà Thờ Hàm Long

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

 

Nhãn: , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ ĐẠI ĐIỀN

nhà thờ đại điền

Với diện tích: 45 cây số vuông, gồm các Xã Diên Phú, Diên Ðiền, một phần Thị Trấn Diên Khánh và Vĩnh Phương.

Ðông giáp Giáo xứ Phù Sa (Quốc lộ I + đường đất từ Quốc lộ đến cầu Xuân Phong) và Bình Cang (Sông Cái). Tây giáp Giáo xứ Cây Vông (từ Cầu Gỗ cũ đến Quán Ðôi đường cái đá, và từ trường học Phú Ðiền đến nhà thờ họ Ngô, ranh giới Diên Ðiền và Diên Sơn). Nam giáp Giáo xứ Hà Dừa (Sông Cái từ Cầu Gỗ cũ đến Cầu Mới. Bắc giáp Giáo xứ Lương Sơn (Ðèo Rù Rì).

Giáo xứ Ðại Ðiền bắt đầu nguồn gốc từ các bậc tiền nhân đến lập nghiệp, Nơi đây là núi xanh,rừng rậm, đồng hoang,họ đã thiết lập ngôi nhà nguyện đầu tiên bằng mái tranh vách đất vào năm 1820, cách ngôi thánh đường hiện nay độ 400 mét về phía Tây Bắc thộc Ðại Ðiền Ðông thuộc xã Diên Ðiền.

Năm 1868,đời Tự Ðức 21,trải qua cơn bắt đạo, giáo dân tản mát,có số bị bỏ xuống giếng nay được gọi là” Giếng lạng”; có số bị cột đá thả xuống sông,ngôi nhà nguyện bị thiêu rụi.

Vào năm 1890,cơn bách hại lắng dịu, bà con tề tựu về và xây cất lại nhà nguyện với quy mô rộng lớn hơn trên phần đất tục danh là “Ðồng Dưa” nơi thánh đường hiện nay.

Tháng 9 năm 1912 Nhâm Tý, một cơn bão khốc liệt đã làm sập đổ ngôi nhà nguyện một lần nữa. Năm 1913, được sự trợ giúp của cố Quới, Cha sở Hà dừa, Cây vông, cùng với các ông Phan tấn Kim, Nguyễn Nhân, Nguyễn Thạch, bà con giáo dân hợp lực xây cất lại ngôi thánh đường theo lối kiên trúc Tây phương,với quy mô rộng lớn và chắc chắn hơn, với bộ sườn cấu kết bằng danh mộc,mái lợp ngói âm dương,tường bằng vôi gạch.Vì số giáo dân quá ít,đời sống vật chất khó khăn, nên công trình không thể hoàn thiện được. Ðến năm 1937, giáo dân hoàn thiện tháp tiền đàng với chiều cao 11m và đặt thánh Phanxicô Xaviê làm quan thầy.

Năm đình chiến 1954, Linh mục Phêrô Nguyễn thanh Quý từ Vườn Vỗng Quy Nhơn vào Nha trang và được ÐGM Piquet chỉ định làm cha sở Ðại Ðiền. Trong thời gian quản xứ, Ngài đã cho đại tu bổ lại ngôi thánh đường,thay mái ngói, bắn thêm chiều cao, nới thêm chiều rộng chiều dài. Ngoài ra, Ngài còn khuyến khích trồng dừa, đào ao nuôi cá, vét giếng. Sau 4 năm quản xứ, ngài trở về Quy Nhơn.

Năm 1987 – 2001: Lm Giuse Nguyễn Hoàng Kim. Trong thời gian quản xứ, Ngài đã xây cất một ngôi thánh đường mới, một nhà xứ 2 tầng, một nhà hội dài 20mét, một nhà tre; tu bổ,sửa chữa nhà bếp, tường rào; lát đá chung quanh thánh đường. Sau một thời gian dài hoạt động tích cực cho giáo xứ, Ngài ngã bệnh va sức khoẻ ngày một yếu dần. Năm 1997, Ðức giám mục giáo phận Phaolô Nguyễn văn Hòa chỉ định Lm Phêrô Trần văn Ðiện làm phó xứ để giúp ngài.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Cha Tam

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ ĐỒNG HỘ

nhà thờ đồng hộ nha trang

Thuộc vùng núi với diện tích giáo xứ: 24 Km2,gồm các Xã Suối Tiên, Suối Cát, Suối Tân.

• Ðông giáp Quốc Lộ IA.

• Tây giáp Núi Hòn Chuông.

• Tây Bắc giáp Giáo xứ Hà Dừa (Cầu Ông Ðường).

• Nam giáp Giáo xứ Lập Ðịnh (Cầu Lỡ, cách Xóm Bầu 1,5 km).

• Tây – Nam: giáp vùng núi Suối Tiên (thắng cảnh du lịch).

• Bắc giáp Giáo xứ Cư Thịnh (Cầu Suối Ðá).

• Gồm các Xã Suối Tiên, Suối Cát, Suối Tân.

• * Có Họ lẻ Suối Dầu.

Năm 1926 có ba gia đình gốc Bình Cang đến Ðồng Hộ khai phá tìm đất làm ăn sinh sống. Gia đình Ông Giuse Nguyễn HoỔ. Gia đình Ông Gioan Nguyễn đình Thái và Gia đình Ông Tôma Nguyễn Nên

Năm 1930 ngôi nhà nguyện đầu tiên được xây dựng bằng mái tranh vách đất. Linh mục Nhuận, người gốc Hà Dừa, tuổi quá 70 xin về hưu dưởng ở Ðồng Hộ: dâng thánh lễ, ban các bí tích nâng đỡ bà con trong thời gian đầu.

Năm 1933, Linh mục Nhuận qua đời, nên các Linh mục Thạnh, Phước, Linh, Chiếu thỉnh thoảng đến dâng lễ và ban các bí tích.

Năm 1936 ngôi nhà nguyện bằng ngói và tường gạch được xây lên, thay thế cho ngôi nhà nguyện cũ và nhận Ðức Mẹ núi Camêlô làm lễ bổn mạng (16.07) và Ðồng Hộ từ nay là họ nhánh của giáo xứ Hà Dừa và các Linh muc quản xứ Hà Dừa cứ vài tháng lên Ðồng Hộ cử hành thánh lễ và ban các bí tích một lần.

Những năm đầu của thập niên 40, có mặt của dòng Phanxicô tại Ðồng Hộ: Như Linh mục Alix, Linh mục Phượng.

Năm 1947 các tu sĩ dòng Phanxicô được thuyên chuyển di nơi khác vì lý do chiến tranh.

Năm 1959, được phép của Ðức Giám Mục Marcel Piquet, ban chức việc Ðồng Hộ do Ông Nguyễn Chánh là câu trưởng và toàn thể bà con giáo dân chung sức góp công góp của, cùng với ân nhân xa gần, một ngôi nhà nguyện thứ ba được hình thành, rộng rãi, không trang và đẹp hơn được xây dựng nên và hoàn thành vào năm 1960, dài 24m, rộng 10m, mặt tiền cao 17m.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

*Nhà Thờ Tân Bùi – Lộc Châu

*Nhà Thờ Bảo Lộc

*Nhà Thờ Domaine De Marie

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CÙ LAO GIÊNG

nhà thờ cù lao giêng

Nhà thờ Cù lao Giêng ở xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, là một công trình kiến trúc thờ cổ, được linh mục Gafignol (thường gọi là cha Nho) cho khởi công xây dựng từ năm Ất Hợi 1875, đời Tự Đức nhị thập bát niên. Việc xây dựng nhà thờ ở một vùng sông nước cù lao lúc bấy giờ vô cùng khó khăn gian khổ, ròng rã 12 năm, đến năm Đinh Hợi 1887 đời Đồng Khánh tam niên, mới hoàn thành ngôi nhà thờ khang trang như ta thấy ngày nay. ),linh mục Gafignol người có công lớn trong việc xây dựng ngôi nhà thờ Cù lao Giêng, Ngài mất năm 1917 hiện mộ phần của linh mục vẫn còn trong khuôn viên nhà thờ.

nhà thờ cù lao giêng 2

Nhà thờ được thiết kế theo mô típ Romane, một ngôi thánh đường theo kiểu Tây phương xuất hiện ở một vùng sông nước khuất nẻo như thế này làm cho người ta không khỏi ngạc nhiên và thích thú.

122  năm, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nhà thờ Cù lao Giêng vẫn tồn tại gần như nguyên vẹn, có thể nói đây cũng là một di tích cổ xưa của lịch sử Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam, và là niềm tự hào của kiến trúc tôn giáo trên đất Cù lao Giêng.

Mong sao, các linh mục kế nhiệm và bà con giáo dân tiếp tục bảo tồn di tích mà các vị tiền nhân đã cố công gầy dựng, để cho thế hệ mai sau còn được trông thấy một dấu chỉ của đức tin trong quá khứ.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

 

Nhãn: , , , , , , , ,