RSS

Tag Archives: tín ngưỡng

QUAN NIỆM NGÀY THÁNG TRONG LỄ CƯỚI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC CHĂM BALAMON Ở BÌNH THUẬN

Đồng bào Chăm là một dân tộc thiểu số, sinh sống trên nhiều địa phương khác nhau ở Việt Nam,. Ở tỉnh Bình Thuận dân tộc Chăm có trên 30.000 người với 14.994 nữ, cư trú ở 4 xã thuần thuộc 2 huyện Bắc Bình, Tuy Phong và 9 thôn xen ghép thuộc 4 huyện: Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh và Hàm Tân.

Là một dân tộc thiểu số có trình độ kinh tế, xã hội phát triển khá nhưng vẫn còn lưu giữ yếu tố mẫu hệ rất đậm nét. Vì vậy, nói đến vai trò phụ nữ Chăm, không chỉ đề cập đến lối sống ứng xử, lễ nghi cộng đồng, tập tục, cưới xin, tang ma… mà còn nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, đến yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, đến thiết chế đặc thù của dân tộc dựa trên quan hệ dòng tộc của chế độ mẫu hệ, trong đó, thể hiện rõ nét nhất trên lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Do người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên trong hôn lễ càng có những nét khác biệt hơn so với các dân tộc khác, nhất là về phương diện thời gian (xem ngày, giờ, tháng) tổ chức một lễ nghi trong gia đình cũng như trong dòng tộc. Vì thế, để tổ chức một cuộc hôn lễ, dân tộc Chăm chọn giờ khắc, ngày, tháng rất chu đáo và gần như là cố định. Để thấy rõ hơn chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu quan niệm giờ, ngày, tháng trong lễ cưới theo lịch Chăm Balamôn giáo ở Bình Thuận.

Giờ: Dân tộc Chăm quan niệm rằng, một ngày từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn thì có 8 giờ (nghĩa là có 4 giờ sáng và 4 giờ chiều) và mỗi giờ được tính là một tiếng rưỡi (90 phút). Ban đêm cũng có 8 giờ nhưng chỉ được tính từ 6 giờ đến 12 giờ khuya mà thôi. Còn từ 0 giờ đến 6 giờ sáng thì không được tính, vì theo dân tộc Chăm đó là thời gian Âm – Dương phối hợp gặp nhau, sẽ không có những điềm lành.

Ngày: Đối với ngày của người Chăm, một tuần lễ được chia làm 7 ngày, tên gọi các ngày cụ thể như:

*Thon: Thứ hai;

*Angar: Thứ ba;

*But: Thứ tư;

*Jip: Thứ năm;

*Suk: Thứ sáu;

*Thanưgar: Thứ bảy;

*Adit: Chủ nhật.

Tháng: Theo lịch Chăm trong một năm cũng gồm 12 tháng. Những tháng lẻ 1,3,5,7,9,11 thì có 30 ngày. Những tháng chẵn: 2, 4, 6, 8, 10, 12 thì có 29 ngày.

Căn cứ vào thời gian đã trình bày ở trên, người Chăm quan niệm ngày, tháng và tổ chức lễ cưới như sau:

+ Trong hôn nhân, phụ nữ là người chủ động đến hỏi và cưới chồng. Thông thường hôn lễ được cử hành vào buổi chiều của thứ tư trong tuần, lại là ngày âm chẵn thuộc các tháng 3, 6, 10, 11 chăm lịch (thường nhằm vào tháng 1, 6, 10, 12 Dương lịch). Vậy thì tại sao dân tộc Chăm lại tổ chức hôn lễ vào buổi chiều của ngày thứ tư trong các tháng 3,6,10,11 chăm lịch?. Bởi họ quan niệm rằng, buổi chiều là thuộc về Âm – Dương, tượng trưng cho tuổi về già, sống với nhau lâu dài và hạnh phúc.

Riêng thứ tư, đó là một ngày giữa tuần (ngày âm chẵn giữa tuần lệ thứ sáu). Đây là ngày mà Âm – Dương gặp nhau, một ngày mà tình cảm giữa vợ và chồng hòa hợp, hạnh phúc. Đồng thời cũng là một ngày thuộc về đất nẻ, nghĩa là một thứ đất có nhiều màu mỡ dùng để trồng trỉa hoa màu, cây cối. Vì thế, nếu tổ chức đúng vào ngày trên thì sau này vợ chồng sẽ “con đàn cháu đống”, gia đình sum họp, hạnh phúc. Đặc biệt, người Chăm còn quan niệm, thứ tư như là một con người và lấy rốn làm trung tâm. Nghĩa là trên cơ thể con người từ đầu, cổ đến ngực tượng trưng cho ngày chủ nhật, thứ hai, thứ ba, đây là phần làm nghĩa vụ lớn cho cha mẹ. Còn dưới rốn trở xuống bàn chân tượng trưng cho thứ năm, thứ sáu, thứ bảy là phần làm nghĩa vụ vợ chồng.

Đối với việc chọn các tháng 3,6,10,11 để tổ chức cử hành hôn lễ, dân tộc Chăm quan niệm như sau:

Tháng 3 thuận về thóc lúa và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 6 thuận về tài sản, nghĩa là mùa gặt lúa tháng 3 và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 10 thuận phát tài to, tức là tháng mùa gặt hái hoàn toàn và công việc khác đều đã thu hoạch xong. Tháng 11 thuận về hưng thịnh, mùa gặt hái hoàn toàn và mọi công việc khác đều đã thu hoạch xong.

Quan niệm giờ, ngày, tháng để tổ chức các lễ nghi của dân tộc Chăm Balamôn ở Bình Thuận rất phong phú và đa dạng mang đậm yếu tố bản sắc văn hóa Chăm, trong đó có việc chọn giờ, ngày, tháng trong hôn lễ. Việc chọn giờ, ngày, tháng trên một phần phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp, phần khác phụ thuộc vào thuyết âm, dương.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , ,

LỄ HỘI ĐỀN TRẦN THƯƠNG

đền trần thương , tượng thờ đức thánh trần

Đền Trần Thương ở thôn Trần Thương, xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.

Từ Thị xã Phủ Lý, theo quốc lộ 62 về thị trấn Vĩnh Trụ 14km, tiếp tục đi thẳng 2km về phía Cầu Không, đến cống làng Tróc rẽ trái tới đền Trần Thương.

Đền Trần Thương như tên gọi đã ghi rõ (Trần Thương: kho của nhà Trần) được xây dựng trên một khu đất rộng, nằm biệt lập ở phía đầu làng, trên nền cũ kho lương thực đời Trần trong cuộc sống chống quân xâm lược lần thứ hai. Đền được xây dựng trên thế đất “hình nhân bái tướng”, ở giữa là gò nổi tựa mai con rùa, hai bên tạo thành hai tay ngai, xung quanh là những hồ nước được trồng sen.

Ngoài cùng là tam quan ngoại. Cửa chính cao hai tầng, tầng dưới được cuốn hình vòm, xung quanh có trang trí hoa văn, tầng trên là gác chuông tám mái. Bên trong gác chuông có treo một quả chuông lớn. Hai cổng phụ của tam quan có đôi ngựa được đắp nổi phía dưới, phía trên là hoa sen. Bức tường ngoài cùng của tam quan là đôi voi chầu cùng hoa sen, hoa cúc và đôi cột có đèn lồng và đôi nghê chầu phía trên.

Qua tam quan là con đường chính lát gạch đỏ rộng rãi đi vào sân đền. Trước cột đồng trụ là hai cái giếng hai bên được kè đá xanh. Qua hàng cột trụ bề thế là mọt bức bình phong, chính giữa là chữ thọ, xung quanh là cảnh rồng chầu, phượng múa.

Tiếp theo là công trình chính. Ngôi đền được thiết kế theo kiểu chữ quốc: Tòa tiền đường 5 gian, tiếp đến là hai dãy nhà khách chạy dọc, giữa là cái giếng mà nhân dân gọi là hố khẩu, tiếp đến là tòa đệ nhị 5 gian, sau cùng là hậu cung 3 gian.

Phía trước gian giữa của tòa tiền đường có dựng một tòa cổ lâu 2 tầng, giữa mái trên và mái dưới là bức đại tự “Phong vân trường hộ”, ở giữa đặt một đỉnh hương bằng đá có đôi nghê chầu. Tòa tiền đường được kiến trúc theo lối chồng rường, hai đầu xây bít đốc dật cấp, mái lợp ngói nam, mắt trước là dãy cửa bức bàn. Phía trên gian giữa có treo bức đại tự “Văn đức võ công”. Nối với hai gian đầu hồi của tòa tiền đường là hai dãy nhà khách chạy dọc nhìn ra giếng rùa, mỗi dãy 3 gian tạo thành hành lang nội từ tòa tiền đường vào tòa đệ nhị. Tòa đệ nhị 5 gian xây bằng gạch cao hơn tòa tiền đường và nhà khách, lợp ngói ống cung đình đời Nguyễn, bờ nóc hai đầu hồi đắp hai con rồng lớn, phần giữa mái trên và mái dưới là các ô có đắp chữ Hán. Phần hậu cung 3 gian được nối từ tường của tòa đệ nhị xuôi về sau, lợp ngói ống, bộ cửa bức bàn gồm 3 cửa được sơn son thiếp vàng lộng lẫy

Đền Trần Thương thờ một vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và song thân của người. Là một vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Trong tâm đức người dân, ông là Đức Thánh Cha. Trần Hưng Đạo được thờ ở nhiều nơi ở Hà Nam mà Trần Thương là ngôi đền quy mô, bề thế nhất, có thể so sánh vị trí của nó với những nơi thờ tự Ngài lớn nhất trong cả nước. Dân gian có câu, “sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc” chính là để nói đến địa danh Trần Thương này, bởi cách Trần Thương 3km về phía đông theo đường chim bay là khu Tam Đường – nơi đặt khu lăng mộ nhà Trần, về phía nam khoảng 20km là Thiên Trường (quê hương nhà Trần).

Theo các cụ cao tuổi ở các thôn Đội Xuyên, Hoàng Xá, Khu Mật kể lại thì xưa kia, nơi đây chỉ là một bãi sậy um tùm có rải rác một ít gò cao xen kẽ có dân cư ở thưa thớt nhưng có vị trí giao thông hết sức thuận lợi: có thể vào sông Châu, ra sông Hồng ngược lên Thăng Long hoặc xuôi ra biển. Do đó, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương đặt ở đây một kho lương thực với một đội quân thường xuyên canh gác để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai (1285).

Sau khi chiến thắng trở về ngài cắm sinh phần, lấy dân ở đây làm tạo lệ, từ đó làng có tên là Trần Thương. Sử sách không ghi chép về kho lương thực của nhà Trần ở đây nhưng truyền thuyết dân gian cùng với những dấu tích đậm đặc quanh khu vực đền Trần Thương như mảnh gổm, sứ màu đen, men nâu, vàng ngà của bát đĩa vỡ có phong cách trang trí của nghệ thuật gồm thời Trần, nhiều vỏ chóe hoa than… đã củng cố thêm giả thuyết này.

Đền Trần Thương còn giữ lại được nhiều đồ thờ tự có giá trị như hương án, sập thờ bằng đá, ngai thờ, khám thờ và tượng Hưng Đạo Đại Vương.

Trong các đồ thờ tự của đền, ngoài những đồ gốm sứ như lục bình, bát hương, bát đĩa, chén đôn, đồ đá như rùa, nghê, bát hương, đền còn giữ lại chiếc kiếm bạc có vỏ được làm bằng đồi mồi rất quý, chỉ được đưa ra thờ vào những ngày lễ hội. Những đồ thờ tự này càng tăng thêm tính thiêng cho ngôi đền mang đậm dấu ấn lịch sử và tính chất văn hóa này.

Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm (dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh mẫu (Liễu Hạnh)). Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điểm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng. Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lễ cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Lễ hội đền Trần Thương là một trong 3 lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước.

 

Nhãn: , , , , , , , ,

KHÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG

KHÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG

Phân biệt mấy khái niệm của trung tâm tôn giáo tín ngưỡng cơ bản.

1. Chùa (Tự)

Ở Việt Nam có lẽ Chùa là nhiều nhất. Chùa là nơi thờ Phật, có thể ghép thêm các tôn giáo bản địa, tín ngưỡng dân gian, nhưng gian chính phải là thờ Phật. Chùa có thể có tăng, ni trụ trì, sinh sống, mà cũng có thể chỉ có người trông coi.

Chùa là những di tích cổ nhất còn lại ở Việt Nam, đặc biệt miền Bắc. Ba miền, phong cách chùa cũng rất khác nhau.

2. Đền (Từ)

Đền thờ Thần, Thánh. Có thể là Thiên thần, Nhiên thần, Địa thần, Nhân thần.

3. Đình

Thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi tụ họp, bàn việc làng, là tinh túy của làng xã.

4. Quán

Nơi thờ và tu của Đạo giáo, thờ Tiên của Đạo giáo. Quán ngày nay còn không nhiều

5. Phủ / Điện

Thờ Mẫu trong đạo Mẫu, là tôn giáo bản địa. Miền trung gọi là Điện.

6. Miếu

Thờ Thánh nhân, Hoàng tộc, cho đến các tiểu thần, tổ nghề, hoặc cả Mẫu nữa

7. Nhà thờ

Của đạo Thiên Chúa, có thể gọi là Giáo đường, Thánh đường, có các cấp bậc hẳn hoi: Vương cung thánh đường, Chính tòa, Tông tòa, nhà thờ xứ, nhà thờ họ.

Nơi thờ tự của Hồi giáo cũng gọi là Giáo đường.

8. Thánh thất

Đạo Cao Đài gọi nơi thờ của đạo mình là Thánh thất.

9. Tháp

Tháp của người Chăm, cũng là nơi thờ tự riêng của họ. Tháp này khác với các tháp chùa.

10. Đàn

Nơi tế Trời, Thiên Địa Nhật Nguyệt, Vũ trụ. Chỉ còn vài nơi.

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

MỤC LỤC – TÌM HIỂU VĂN HÓA TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , ,

TỔ ĐÌNH CHÚC THÁNH

td1

Chùa tọa lạc tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Chùa do Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo khai sáng vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Chánh điện bài trí tôn nghiêm, ở đây có bộ Thập bát La-hán bằng đất nung cao 0,70m, phần tượng cao 0,45m, ngang cở 0,28m khá đẹp. Chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1845, 1849, 1892, 1894. Hòa thượng trụ trì Thích Trí Nhãn đã tổ chức trùng tu liên tục trong những thập niên gần đây. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Hội An, ngôi Tổ đình của chi phái Thiền Chúc Thánh ở miền Trung và miền Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Từ Đà Nẵng về Hội An theo đường Non Nước khoảng 30 km, lúc chưa đến Hội An khoảng 1km nhìn qua phía tay trái có một con đường thẳng nằm giữa nhà hát lớn Hội An và trường Trung học Điện, đi vào hết con đường này khoảng 300m là chùa Chúc Thánh, tọa lạc ngay giữa cuối con đường. Địa thế chùa Chúc Thánh nằm quay mặt về hướng Tây – Nam, nằm gọn trên một vùng đất cao thoáng thuộc khối Tân hòa phường Tân An, Hội An ( trước là phường Cẩm phô hay làng Thanh Hà, huyện Diên Phước phủ Điện Bàn), cách trung tâm phố cổ Hội An về hướng Bắc khoảng 1km.

Nơi đây vào những năm 1987, 1988 vẫn còn là nơi thanh tịnh vắng vẻ, chung quanh ngôi chùa nhìn về xa xa chỉ thỉnh thoảng vài ngôi nhà dân, còn lại đa số là những khu rừng thông, những cồn cát trắng và những ngôi mộ xưa. Hàng rào chùa dày từ 8 đến 10m, được tạo nên bởi nhiều loại cây xanh mát. Đứng trong khu vườn chùa, mọi người sẽ có cảm giác như ngôi chùa đang ở giữa khu rừng nguyên sinh đầy hương thơm cỏ lạ, chim chóc 4 mùa hội tụ. Có thể nói đây là một môi trường sinh thái tốt, thanh tịnh, phù hợp với cảnh thiền môn.

Theo phong tục người Trung Hoa thì họ đến đâu thường hay lập chùa, miếu để thờ cúng cầu nguyện mưa thuận gió hòa, nhân dân an cư lạc nghiệp. Như đã trình bày, cùng với thời điểm chùa Chúc Thánh ra đời, Hội An là một thương cảng trù phú, những thương nhân đến từ nước ngoài chủ yếu là người Hoa và coú một số người trong họ đã định cư ở đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định ở lại tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không gần lắm cũng không xa lắm so với trung tâm phố cảng. Địa thế này nhằm 2 mục đích: Một là, nơi yên tĩnh vắng vẻ, điều kiện tu hành thiền định thích hợp và hai là, không xa lắm nơi dân cư, để tạo điều kiện cho những người dân ở đây có thể bước bộ đến chùa lễ Phật tụng kinh. Cũng từ lòng tín ngưỡng Phật giáo mạnh của người dân Việt và Hoa kiều tại đây mà ngôi Tổ đình Chúc Thánh cũng trở nên phong phú về nhiều mặt, phong phú từ lối kiến trúc đến cách thờ phụng, như ngoài việc thờ Phật chính trong Chánh điện, ngoài vườn còn lập miếu Ông, miếu Bà để thờ các Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho những người đến cầu xin được phù hộ mua may bán đắt, đi đến nơi về đến chốn. Đấy là những tín ngưỡng thuần túy tính nhân gian.

Mặc dù ngày nay chung quanh bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, những đồi thông xanh rì vi vu trong gió nữa, đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát nữa, mà thay vào đó là những ngôi nhà đồ sộ và con đường đất cứng vì nhu cầu dân số và phát triển đô thị. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ được dáng vẻ cổ kính, hàng cây cổ thụ vẫn còn đó, hình ảnh ngôi chùa vẫn cổ kính rêu phong, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa đi được.

Tên ” Chúc Thánh” có từ lúc Tổ Minh Hải đặt chân đến khai sơn ngôi chùa. Về mặt ý nghĩa 2 chữ Chúc Thánh có 2 cách giải thích sau đây:

Một là, từ nữa thế kỷ 17, các Chúa Nguyễn Đàng Trong trọng đãi Phật giáo nói chung và ngài Minh Hải nói riêng, nên khi lập chùa, ngài Minh Hải muốn thể hiện tình cảm của mình đối với các chúa Nguyễn bằng cách đặt tên cho ngôi chùa là Chúc Thánh (tức chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành).

Hai là, lúc bấy giờ tại Trung Quốc cũng có một ngôi chùa tên Chúc Thánh. Vì vậy, Ngài Minh Hải sau khi đến Việt Nam khai sơn ngôi chùa đặt lại tên Chúc Thánh là để làm kỷ niệm nhớ lại quê hương xứ sở của mình.

Hai cách giải thích tên Tổ đình Chúc Thánh trên, ý nghĩa nào cũng có phần hợp lí. Nhưng cách giải thích thứ 2 thì chưa có cơ sở để chứng minh được. Vậy tạm thời có thể hiểu theo cách giải thích thứ nhất là ” Chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành” nói gọn là ” Chúc Thánh”. Ý nghĩa này cũng trùng lặp câu thứ 3 trong bài kệ của Ngài truyền tại Chúc Thánh:” Chúc Thánh thọ thiên cửu” (Chúc Thánh Thượng muôn tuổi).

, Tổ đình Chúc Thánh do thiền Sư Minh Hải – Pháp Bảo thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 từ Trung Quốc sang khai sáng vào cuối thế kỷ XVII.

Thiền sư Minh Hải từ Quảng Đông Trung Quốc theo phái đoàn Ngài Thạch Liêm đến Việt Nam để dự Đại giới đàn tại Huế vào năm Ất Hợi (1695 ). Sau khi giới đàn xong, Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn lưu lại Thuận Hóa đến năm 1696 mới trở về lại Trung Quốc.

Sau khi Ngài Thạch Liêm về nước, Ngài Minh Hải ở lại Hội An qua năm sau (1697) khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tại xã Cẩm Phô (nay là thị xã Hội An) (6.91)

Tương truyền, vào thời Ngài Minh Hải, chùa Chúc Thánh chỉ là một ngôi chùa nhỏ đơn sơ. Tại đây, Ngài đã hoằng pháp lợi sanh, tiếng vang khắp mọi nhà. Ngài đã biệt xuất kệ truyền thừa, tạo nên một pháp phái Lâm Tế riêng tại Hội An. Sau này, các thế hệ truyền thừa của Ngài đã không ngừng phát huy đạo Pháp và phát triển kiến trúc ngôi Tổ Đình thật qui mô và bề thế như ngày hôm nay.

Tổ đình Chúc Thánh sau Ngài Minh Hải hai đời ( Ngài Thiệt Diệu và Ngài Đại Dõng ), vào năm Âút Mùi (1845), Ngài Toàn Nhâm (Vi Ý) khởi công đại trùng tu và chuyển hướng ngôi chùa từ hướng Tây sang hướng Tây – Nam để phù hợp với địa thế phong thổ. Qua 4 năm sau (1849), Ngài tiếp tục khởi công xây thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong Chánh điện. Đến năm Nhâm Thìn (1892), Hòa Thượng Chương Đạo hiệu Quảng Viên trùng tu lại Tiền đường qui mô hơn. Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa Thượng Chương Khoáng hiệu Chứng Đạo đời thứ 38 và phó trú trì hiệu Quảng Đạt xây dựng thêm ngôi Hậu Tổ. Năm Ất Hợi(1911), Hòa Thượng trú trì húy Ấn Bính hiệu Phổ Bảo đời thứ 39 lại khởi công đại trùng tu ngôi Chánh điện, nâng nền Tiền đường lên cao hơn và xây thêm các dãy Đông đường, Tây đường. Những công trình lần này gần như cố định và qui mô cho đến ngày nay. Từ các năm 1954 đến 1960, Hòa Thượng Tăng cang húy Chơn Chứng hiệu Thiện Quả đời thứ 40 tiến hành trùng tu từng phần, khiến ngôi chùa trở nên hoàn mỹ hơn. Năm Tân Mùi (1991), Hòa Thượng Như Truyện hiệu Trí Nhãn tiếp nối trú trì đời thứ 40 (đang trú trì hiện nay) trùng tu lại ngôi tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng, góp phần tăng thêm vẻ đẹp trong khuôn viên chùa (1.1).

Chùa Chúc Thánh quay mặt vêì hướng Tây-Nam nằm trên một mảnh đất thoáng mát với chiều rộng 130m và chiều sâu 96m. Nhìn từ ngoài vào, ngôi chùa nằm lặng dưới những táng cây cổ thụ rợp mát, tạo nên một dáng vẻ trầm hùng, thanh tịnh. Xung quanh chùa được bao bọc bởi một dãy cây đủ loại, bốn mùa đơm hoa kết trái, ong bướm tới lui, chim chóc làm tổ. Khung cảnh thanh bình này được kết hợp giữa thiên nhiên và con người, nó đã làm lắng đọng biết bao tâm tư phiền muộn của những con người bị thất bại trên trường danh lợi và cũng là cái nôi đã nuôi lớn biết bao anh tài đóng góp xây dựng đạo Pháp, dân tộc, ảnh hưởng đến ngày nay. Vào những đêm trăng thanh gió mát, khung cảnh của chùa lại trở nên mênh mông, quạnh hiu và cô tịch hơn. Thật đúng với câu thơ nói về cảnh chùa miền quê đất Việt:

“Quê tôi có gió bốn mùa

Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm

Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm

Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi”. (ca dao)

Trước khi vào chùa, nhìn thấy cổng Tam quan rêu phong cổ kính. Vào trong, tiếp theo là bồn hoa, những ngôi tháp cổ, bình phong, Đông đường, Tây đường, Chánh điện, Hậu tẩm, Phương trượng, Tổ đường … Tất cả đều được kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa kiến trúc Tàu và Việt Nam. Điều đó nói lên một thời vàng son cực thịnh về văn hóa, tôn giáo và thương mại của khu phố cổ này một thời xưa kia nói chung và Phật giáo tại đây nói riêng. Sau đây người viết sẽ lần lược trình bày từng chi tiết kiến trúc của ngôi Tổ đình cũng như ý nghĩa liễn đối, bia tháp trong đó.

Cổng Tam quan cách con đường ngang trước chùa 26m và cách Chánh điện 50m. Cổng tam quan đứng giữa 2 bức tường thành kiên cố và được thiết kế thành 2 tầng. Đỉnh trên cùng là 2 con sư tử trong tư thế ngồi chồm quay mặt vào nhau, tầng dưới là mái ngói giả, lối bước vào gồm 3 cổng; cổng giữa to lớn, cổng hai bên thấp nhỏ hơn, trên cổng giữa có 5 chữ Sắc tứ Chúc Thánh tự môn và câu đối:

Chúc đối Linh sơn thiên cổ tú

Thánh khai Pháp thủy nhứt nguyên trường.

Dịch nghĩa:

Chúc như Linh sơn ngàn xưa xanh tốt

Thánh mở nước Pháp một dòng dài xa.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Vào khỏi cổng Tam quan là bồn bông, kế tiếp bồn bông là bức bình phong. Bức bình phong này cũng có niên đại khoảng với việc tu sửa ngôi chùa, trước bình phong là hàng non bộ có tượng Quan Âm lộ thiên ở trên. Bình phong cách Tiền đường và Chánh điện một sân bông. Tiền đường và Chánh điện Tổng cộng bề ngang 12m và bề sâu 18m. Thiết kế ngôi chùa bên trong bởi nhiều kèo cột gỗ như ” Chồng rường giả thủ” thuộc phong cách Tàu, “Cột trốn kẻ chuyện” thuộc phong cách Việt. Bức tường chùa dày 30cm, mùa hạ ít nóng mùa đông ít lạnh. Hai bên hông Tiền đường và Chánh điện là hai đường thông hành chạy thẳng ra phía sau nhà Tổ. Chánh điện nằm ngay giữa cân đối, hợp lí, một đặc trưng phổ biến trong kiến trúc phố cổ Hội An. Trước hiên chùa có 2 câu đối:

Câu 1 :

Chúc Nam quốc Chí tôn tứ hải nhơn dân hàm khể thủ

Thánh Tây Phương liên tòa nhứt đàn Tăng chúng Tổng qui y.

Dịch nghĩa:

Chúc đấng Chí tôn Nam Quốc, bốn bể nhân dân đều cung kính

Thánh ngự tòa sen Tây Phương, một đàn Tăng chúng thảy qui y.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 2:

Chúc đối Linh sơn vạn cổ vĩnh truyền tâm diệu lí

Thánh khai Pháp thủy thiên thu kế tục tánh chơn như.

Dịch nghĩa:

Chúc sánh Linh sơn muôn thuở mãi truyền tâm diệu lí

Thánh mở nước Pháp ngàn năm tiếp nối tánh chơn như.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Mái chùa lợp bằng ngói âm dương uốn cong, mềm mại, trên chóp đỉnh là một cặp rồng quay mặt vào nhau đang rướn mình đến mặt trời chính giữa. Phía sau 2 con rồng là 2 con phụng đang bay ra mà ngoảnh đầu nhìn lại. Tiếp xuống hiên mái chùa trang trí những hoa văn, chạm trổ những hình ảnh Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến nhập diệt và góc cuối cùng của mái hiên là 2 con kỳ lân đang đứng quay mặt ra phía trước.

Bên trong, giữa Chánh điện và Tiền đường được liên kết với nhau bằng một máng xối đúc và 4 hàng cột gỗ cho cả 2 bên. Trên hàng cột của Tiền đường là 4 bức hoành phi sơn son thiếp vàng, cẩn chạm xà cừ; Một tấm ngay trước cửa Tiền đường quay vô do Hòa Thượng Phước Huệ tặng vào năm Giáp Tuất gồm 4 chữ: Phật Pháp chánh chương, còn lại 3 tấm treo ở 3 gian quay mặt ra, tấm giữa đề tên ngôi chùa Sắc tứ Chúc Thánh tự, tấm bên phải? Tổ ấn trùng quang và tấm bên trái Ân quang phạm vức. Dưới nền Tiền đường, hai bên hông tường gắn 4 tấm bia, nội dung ghi sơ lược lại những lần trùng tu ngôi chùa và các phương danh các chùa, đạo hữu đóng góp xây dựng. Ngoài ra, trong Chánh điện còn có trống lớn, trống nhỏ, đại hồng chung, tiểu hồng chung. Đại hồng chung được đúc vào năm Giáp Ngọ ( 1894), được dưới sự chứng minh của các Hòa Thượng Vĩnh Gia, Chí Thành, Quảng Đạt, Quảng Viên và Bát Nhã. Đại hồng chung cao 120cm, đường kính rộng 55cm. Trong đại hồng chung có khắc niên đại đúc chung, các Hòa Thượng chứng minh, các bài kệ phục nguyện về “ Chúc Hoàng đồ vĩnh cố, Đế đạo hà xương …”.

Chánh điện, gian giữa bàn phía trên cao thờ 3 tượng Phật gọi là tượng Tam Thế, bàn dưới thờ tượng đức Phật Di Lặc và 2 bên là A Nan và Ca Diếp. Hai gian 2 bên, trong cùng là 2 tượng Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, mỗi tượng cao 1m 75 (không tính đế). Ra ngoài, hai bàn kế tiếp là 18 vị A La Hán (mỗi bên 9 vị) và phía bên ngoài cùng là 2 tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện, mỗi tượng cao 1m 75 (không tính đế). Những tượng trên có niên đại cao, đa số làm bằng hợp chất. Chánh điện chỉ có một bức hoành để tên chùa làm vào Thành Thái năm thứ 4 . Cả Chánh điện và Tiền đường gồm có 5 câu đối ( tính thứ tự từ ngoài vào):

Câu 1 :

Tử trúc lâm trung mỗi dĩ kim thằng khai giác lộ

Thanh liên tòa thượng trường tương bảo phiệt độ mê tân.

Dịch nghĩa:

Trong rừng trúc biếc mỗi lấy dây vàng mở lối giác

Trên tòa sen xanh thường đem bè báu độ người mê.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 2:

Chúc thiên thu cửu phẩm hương liên tự tại

Thánh Thiên tử vạn gia cam lộ đồng triêm.

Dịch nghĩa:

Chúc ngàn năm chín phẩm hương sen tự tại

Thánh Thiên tử muôn nhà cùng thấm cam lồ.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 3 :

Tam Tạng kinh văn giai sử nhứt tâm qui Chánh Pháp

Thiên ban cụ diệp tổng huề vạn tượng hướng Chơn Như.

Dịch nghĩa:

Ba tạng kinh văn đều khiến nhất tâm về Chánh Pháp

Ngàn thiên lá bối thảy xoay muôn vật hướng Chơn Như.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 4 :

Cửu phẩm liên đài Kim tướng đoan nghiêm thùy tiếp dẫn

Thất trùng bảo thọ Ngọc hào xán lạng phóng quang minh.

Dịch nghĩa:

Chín phẩm đài sen Kim tướng đoan nghiêm thương tiếp dẫn

Bảy hàng cây báu Ngọc hào sáng lạng phóng quang minh.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 5:

Cửu phẩm liên hoa sư hống tượng minh đăng Bảo tòa

Tam tôn pháp tướng long ngâm hổ khiếu xuất Thiên Thai.

Dịch nghĩa:

Chín phẩm hoa sen voi sư ( tử) cung nghinh đăng Bảo tòa

Tam tôn pháp tướng rồng cọp kêu gọi xuất Thiên Thai.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Dọc theo 2 đường thông hành từ Chánh điện ra phía sau là Hậu tẩm. Hậu tẩm, gian giữa thờ đức Địa Tạng đang cầm trên tay quả minh châu ngồi trên lưng con sư tử rất hùng hồn, tượng cao 2m, những nét áo, hoa văn chạm trổ rất mĩ thuật. Hai gian 2 bên là bàn thờ Phổ Liên Hoa và Ái Sở Thân. Trước bàn Địa Tạng là sân lộ thiên rộng 7m, dài 10m, dùng để đặt các loại hoa, cây cảnh quý. Hai bên sân là Đông phương tượng dùng để Tăng chúng ở và Tây phương trượng để thờ hương linh. Bước qua khỏi sân là đến Tổ đường. Tổ đường này mặc dù đã có từ lâu nhưng chỉ trong hình thức đơn sơ, mãi đến các đời Ngài Chương Khoáng, Chơn Chứng ngôi Tổ đường mới trở nên qui mô khang trang hơn. Tổ đường bề ngang 11m, bề sâu 9m tính cả đường thông hành vây quanh . Đường thông hành chủ yếu để làm nơi nghỉ ngơi của hàng Tăng chúng các nơi mỗi khi tề tụ về đây an cư kiết hạ và cũng là nơi bảo tồn các kinh sách, bảng gỗ kinh cũ. Ngay chính giữa Tổ đường là nghi án thờ long vị các vị Tổ sư trú trì từ Tổ Minh Hải trở xuống. Nghi án bằng gỗ, những nét chạm trỗ và sơn son thiếp vàng rất công phu. Trên nghi án có 4 chữ thủy thanh nguyệt hiện. Chính giữa nghi án là long vị và di ảnh của Tổ sư Minh Hải, tiếp theo 2 bên là long vị lịch đại chư vị trú trì từ cao xuống thấp. Quanh nghi án trang trí những bộ bê tích trượng và các bình bát của các vị ngày xưa dùng để thọ thực. Trên cửa Tổ đường một bức hoành quay vô gồm 4 chữ: Tổ ấn lưu huy. Chính giữa phía trên cao quay ra 3 bức hoành; bức giữaThích trạch vinh triêm, hai tấm hai bên là Hoa vũ di thiên và Phật pháp tôn nghiêm. Dãy cuối cùng cũng 3 bức; bức giữa Tổ Tổ tương truyền, hai bức hai bên Tích thụ kim hoa và Lộ ác đàm hoa. Phía dưới, bên phải nghi án Tổ là bàn thờ để thờ Tăng chúng quá cố, bên trái là Phổ Liên Hoa, phía trước là Phổ Phật Sanh và Phổ Triều Âm. Rường cột Tổ đường toàn bằng gỗ, mỗi cột treo câu đối tính thứ tự từ ngoài vào:

Câu 1:

Chúc Thánh triệu sơ cơ mộ cổ thần chung khai giác lộ

Cao Tăng phu quảng tòa quang phong tiêu nguyệt ấn thiền tâm.

Dịch nghĩa:

Chúc Thánh mới dựng lập, khuya sớm trống chuông mở đường giác

Cao Tăng trải pháp toà, đêm ngày trăng gió in tâm thiền.

TT Thích Hạnh Niệm dịch

Câu 2 :

Phật xuất Tây phương pháp diệu túc trung tạng thế giới

Tổ lai Nam quốc đạo truyền đăng hạ mãn thiền lâm.

Dịch nghĩa:

Phật tại Tây phương nói pháp vi diệu trùm pháp giới

Tổ đến nước Nam truyền đạo đầy khắp chốn thiền lâm.

Thích Hạnh Thiện dịch.

Câu 3:

Liên tòa vân khai hương đáo thiên đình long sủng mạng

Dương chi lộ ấp căn tài địa ấm phát kim hoa.

Dịch nghĩa:

Mây mở tòa sen, hương đến thiên đình hưng mạng vận

Cành dương nhuần thấm bóng che gốc rễ trổ hoa tươi.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 4:

Hách trạc thanh linh thiên cổ ngưỡng

Tôn nghiêm sư phạm ức niên khâm.

Dịch nghĩa:

Thanh linh oai vệ ngàn xưa đều kính ngưỡng

Sư phạm tôn nghiêm muôn thuở mãi khâm sùng.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Đông đường và Tây đường nằm 2 bên trước sân Tiền đường, nối liền với Tiền đường một cái nhà gọi là nhà cầu ( cầu bắt ngang giữa Tiền đường và Đông đường, Tây đường). Chiều dài Đông đường và Tây đường dài 11m, nhưng bề rộng của Tây đường chỉ 6 m và Đông đường đến 9m, trên mái của 2 bên đều lợp ngói âm dương, bên trong là rường cột gỗ. Tây đường chỉ để thờ linh và Tăng chúng tu học, Đông đường là nơi tiếp khách, gian giữa là bàn Giám Trai thờ đức Đạt Ma. Trước bàn Giám Trai treo trên cao một bức hoành 4 chữ: Thiên vũ bảo hoa. Hai bức phía trước là Nhựt phương thăng và Huệ nhựt quang vinh. Đông đường chỉ có 2 câu đối:

Phiên âm:

Chúc thánh thọ vô cương thiền lâm vĩnh mậu

Hộ Pháp luân thường chuyển hải chúng đồng vinh.

Dịch nghĩa:

Chúc Thánh thọ an khương rừng thiền mãi tươi tốt

Hộ xe Pháp thường xoay hải chúng cùng hiển vinh.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Phiên âm:

Cơ tải phụng hành thiền pháp giới

Tha thần kỳ thọ Phật tâm trai.

Dịch nghĩa:

Bao năm phụng hành thiền môn giới pháp

Ngày sau thọ hưởng Phật Tổ tâm trai.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Bia tháp quanh vườn chùa trên dưới 20 cái. Đó là những nơi tôn trí nhục thân của chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa… đã quá cố. Tháp Tổ Minh Hải cao nhất gồm 7 tầng, cao 15m, tiếp xuống là những tháp 5 tầng, 3 tầng và 1 tầng. Những tháp này vì thời gian nên có cái bị hư sửa lại, lại có cái chỉ còn một tấm bia….Như tháp của Ngài Đại Dõng (Siêu Căn) chỉ còn lại một tấm bia nhỏ, những chữ trong bia cũng đã bị phai nhạt.

Ngoài ra, trong vườn chùa còn có ngôi mộ song thân của Tổ Minh Hải là Ông Lương Đôn Hậu và bà Trần Thục Thận. Ngôi mộ nằm chệch về phía trước tháp Tổ.

sau bốn năm tiến hành trùng tu, tôn tạo Lễ khánh thành tổ đình Chúc Thánh (phường Tân An, Hội An, Quảng Nam) vừa được tổ chức với sự tham gia của hàng ngàn người dân Hội An. Đây là lần trùng tu thứ sáu của tổ đình với tổng kinh phí gần 8 tỉ đồng do chư tôn đức và phật tử đóng góp.

Tám hạng mục được đại trùng tu như chánh điện, nhà tổ, trai đường, hai cầu dẫn có mái nối liền chánh điện và tổ đường… Nội thất ngôi chùa có nhiều pho tượng cổ được phục chế nguyên trạng; cổng Tam quan xây mới bên cạnh cổng cũ, khuôn viên có tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên đã tạo cho tổ đình Chúc Thánh nét trang nghiêm hoành tráng, góp phần viên mãn vào vẻ đẹp chung của đô thị cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới.

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

Các  bài đã đăng :

*Chùa Đại Giác

*Chùa Linh Sơn

Chùa Thiên Minh

Chùa Khmer-XvayTon

Chùa Kh Leang

Việt Nam Quốc Tự

Chùa An Phú

*Chùa Vĩnh Tràng

*Chùa Minh Thành

*Chùa Linh Sơn Tiên Thạch

*Chùa Thiền Lâm

*Chùa Túy Vân

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

CHÙA KHÁNH AN

Khánh An, ngôi chùa cổ giữa vùng du lịch

chùa an khánh

Bây giờ, có dịp gặp gỡ với du khách đến Mũi Né, bà con ở đây không quên giới thiệu về ngôi chùa có đến hàng trăm năm tuổi: chùa Khánh An. Trên đồi cát cao rộng chừng 1,5 mẫu thuộc làng Khánh Thiện (nay là khu phố 8-Mũi Né) chùa Khánh An được nhân dân tạo dựng vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19.

Ban đầu chỉ là một ngôi chùa nhỏ, đến tháng Chín năm Quý Dậu 1873 (Tự Đức thứ 26), chùa Khánh An được trùng tu gồm ba tòa: Chánh điện, nhà Tổ và nhà ông Giám (nay đã bị sụp), năm 1968 chùa tu bổ nhà Tổ, năm 1993 tiếp tục trùng tu Chánh điện, năm 1997 xây cổng Tam Quan và dựng tượng Quan Âm lộ thiên. Chùa hiện lưu giữ một bảo chúng do Hòa thượng Đạo Hương Đức Tín đúc năm Giáp Tuất 1814 (Gia Long thứ 13) và một đại hồng chung cao 1,2m đúc năm 1900 (Thành Thái thứ 12). Tại nội điện có trên 30 pho tượng thờ Tam Thế Phật, Bồ Tát, Kiên Lao, Địa Tạng, Tổ sư Đạt Ma, Thập điện Diêm Vương… bằng đồng và đất nung, tất cả đều được tạc trong khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Trải qua ba đời Hòa thượng và Thượng Tọa trụ trì (đều viên tịch) cho đến nay mặc dù chỉ có một ban hộ tự quản lý, song cung cách thờ cúng vẫn giữ nguyên nét tín ngưỡng Phật giáo truyền thống.

Đến với chùa Khánh An, không chỉ được chiêm ngưỡng nét cổ kính của chùa mà mọi người sẽ được tịnh tâm trước cảnh trí hữu tình như chốn thiền lâm. Không chỉ là ngôi chùa cổ mà chung quanh chùa còn có nhiều cây bàng, cây bồ đề hàng trăm tuổi, có cả những cây me còn cao hơn tuổi của chùa. Đứng dưới chân tượng Quán Âm lộ thiên nhìn về phía cổng Tam Quan, thấp thoáng biển xanh rì rầm sóng vỗ. Phía sau khu chùa, là cụm chùa Ông và chùa Bà cũng được xây dựng hàng trăm năm trước theo tín ngưỡng của người Hoa. Giữa vùng du lịch Mũi Né, chùa Khánh An, một điểm viếng thăm hấp dẫn đối với du khách.

Theo Bình Thuận .gov.vn

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG

CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG (CỬU VỊ NỮ PHẬT)

(Tổng hợp tài liệu của các soạn giả Đức Nguyên và Trần Văn Rạng)

_________

Cửu vị Tiên Nương là 9 vị Tiên Nữ ở Diêu trì Cung, tầng trời Tạo Hóa Thiên, hầu cận Đức Phật Mẫu và giúp việc cho Đức Phật Mẫu.

“Dưới quyền Đức Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng đứng đầu.

Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam Hải, ở An Nhàn động. Còn Diêu Trì Cung thì ở tại Tạo HóaThiên.”

(Trích thánh giáo Luật Tam Thể của Đức Cao Thượng Phẩm và Bát Nương giáng cơ.)

Cửu Vị Tiên Nương đã lập được nhiều công quả trong thời khai Đạo, dẫn dắt các nguyên căn đi vào con đường đạo đức và làm môn đệ cho Đức Chí Tôn, để các vị nguyên căn trở thành tướng soái cho Đức Chí Tôn khai Đạo. Nhờ công quả nầy, Cửu Vị Tiên Nương đắc phong vào hàng Phật vị, nên còn gọi là Cửu Vị Nữ Phật.

Nhiệm vụ của Cửu Vị Tiên Nương, từ Nhứt Nương đến Cửu Nương, trong Cửu Trùng Thiên nơi cõi Thiêng liêng như sau:

1. NHỨT NƯƠNG:

Nhứt Nương cầm đờn tỳ bà, cai quản Vườn Ngạn Uyển, thuộc tầng trời thứ nhứt của Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui thiên đi vào Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhơn đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu. Mỗi đóa hoa trong Vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn. Khi chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhứt Nương có tên là Hoàng Thiều Hoa, một vị nữ tướng tài giỏi dưới thời Hai Bà Trưng.

Do đó, trong lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, bài thài hiến lễ Nhứt Nương khởi đầu bằng chữ “Hoa”:

HOA thu ủ như màu thẹn nguyệt,

Giữa thu ba như tuyết đông về.

Non sông trải cánh tiên lòe,

Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.

SỰ TÍCH:

Theo sự cầu cơ học hỏi của Đức Cao Thượng Sanh, Nhứt Nương tên là Hoàng Thiều Hoa, tướng của Hai Bà Trưng.

Như vậy, HOA tức là Hoàng Thiều Hoa, người có công dẹp giặc nên được Hai Bà Trưng phong là Đông cung Công chúa và được dân tôn thờ ở chùa Phúc Khánh và miếu thờ ở xã Song Quang (nay là xã Hiền Quang, huyện Tam Nông, Vĩnh Phú).

Hai vợ chồng Hồng Phụ nhà nghèo, ở với nhau lâu mà không con. Ngày kia hai vợ chồng đi kiếm củi ở núi Tản Viên. Khi mệt nhọc, cả hai nằm ngủ, người vợ mộng thấy có một người con gái xinh đẹp từ trong núi đi ra, ngã đầu chào.

Người vợ nắm chặt tay nàng và hỏi: Nàng ở đâu đến?

Nàng đáp: Con là con gái của Sơn Thánh Tản Viên tên là Thiều Hoa. Ông bà có muốn nhận con làm con không?

Bà âu yếm đáp: – Nếu ta được con, ta sẽ coi con như con đẻ.

Sau đó, bà Đào thị sanh được một người con gái đẹp như tiên, giống như người trong mộng, nên đặt tên là Thiều Hoa. Từ khi có nàng, vợ chồng Hoàng Phụ đỡ vất vả. Năm 13 tuổi, cô ném đá vào quân Hán để cứu người. Năm sau, cha mẹ đều mất cả, cô phải đi chăn trâu ở xã Song Quan. Một hôm, Cô đứng trên gò cao nhìn xuống bãi sông thấy quân Hán nắm râu một cụ già lôi đi. Cô tức giận, lấy gậy chạy xuống bãi, chợt nghe tiếng gọi, cô thấy một ni cô đang vẫy tay. Cô chạy tới, Ni cô bảo:

– Con tuy có sức khoẻ, nhưng việc con làm chưa có ích gì cho dân tộc, ta không chỉ lo cho một người khỏi bị đánh mà phải lo cho cả nước khỏi bị đô hộ.

Thiều Hoa tỉnh ngộ thưa rằng:

– Từ nay, con xin ghi nhớ lời Thầy. Xin Thầy cho con làm đệ tử của Thầy.

Ni cô khẻ đáp: – Ta là người tu hành nhưng không quên việc cứu sanh linh ra khỏi cảnh trầm luân. Nếu con có chí lớn thì theo ta về chùa.

Từ đó, vườn chùa đã trở thành nơi rèn luyện của những người nghĩa dũng yêu nước. Năm 18 tuổi, cô từ giã ni cô đi Mê Linh đầu quân, được Hai Bà Trưng cho về sông Quan mộ nghĩa sĩ. Khi lệnh khởi nghĩa ban ra, cô dẫn 500 trai gái Sông Thao kéo về Mê Linh, được Hai Bà Trưng phong chức Tiên phong Hữu tướng.

Trong trận đánh Luy Lâu, Cô lập được nhiều công lớn. Khi Hai Bà Trưng lên ngôi vua, cô được phong là Đông Cung Công Chúa. Quả thật cô đã rạng danh: “Non sông trải cánh Tiên loè”.

Trong kỳ Ba phổ độ nầy, cô là Nhứt Nương Diêu Trì Cung có bổn phận phổ độ nhơn sanh miền thượng du và trung du Bắc VN theo Đạo mới.

Vào ngày 27-01-1926, Nhứt Nương giáng cơ dạy Đạo cho các ông Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang và bà Nguyễn Thị Hiếu như sau:

“Nhứt Nương, Em chào các anh và đại tỷ.

Cái bông phù dung sớm còn tối mất còn hơn một kiếp người vì nó sống ngắn ngủi dường ấy nhưng mà buổi sớm còn có sắc, chớ người đời sanh ra chỉ để thọ khổ mà thôi. Chung qui, dù sống trăm tuổi chưa được một điều đắc chí, chết thì hết cái đời tạm nầy.

Em xin ba anh coi sự trường sanh của mình làm trọng, người không có phải kiếm, mình có sẵn nở bỏ đi, em chỉ tiếc giùm đó thôi. Đi vô đường chánh, cứ lo bước tới hoài thì trở về cựu vị đặng.”

Khi ông Lê Văn Trung hỏi: – Có duyên luyện đạo được cùng chăng? Xin em mách bảo giùm.

Nhứt Nương đáp: – “Đã gặp Đạo tức có duyên phần. Rán tu luyện! Siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải tính sớm, một ngày qua, một ngày chết, đừng dụ dự.

Em xin kiếu”.

2. NHỊ NƯƠNG:

Nhị Nương cầm lư hương, cai quản Vườn Đào Tiên của Đức Phật Mẫu, thuộc tầng trời thứ nhì của Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui thiên đến Vườn Đào Tiên, mở tiệc trường sanh đãi các chơn hồn, và đưa các chơn hồn đến Ngân Kiều để cỡi Kim Quang bay lên Ngọc Hư Cung.

Trong một kiếp giáng trần ở VN, Nhị Nương có tên là CẨM. Do đó trong lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, bài thài hiến lễ Nhị Nương khởi đầu bằng chữ “CẨM”:

CẨM tú văn chương hà khách đạo?

Thi thần tửu thánh vấn thùy nhân?

Tuy mang lấy tiếng hồng quần,

Cảnh tiên còn mến, cõi trần anh thư.

SỰ TÍCH:

Bài thài của Nhị Nương có câu: “Cẩm Tú văn chương hà khách đạo?” Cẩm Tú hay Cẩm Bửu (Cambhupura) là công trình văn hoá lớn của người khách Đạo (bạn đạo nước ngoài) tên là Jyeshthâryâ, người Thủy Chân Lạp. Nước Thủy Chân Lạp (Theo truyền thuyết, vị thần dựng nước Chân Lạp tên Kambu, nên tên nước là Kambujâ tức Chân Lạp, Pháp dịch Cambodge, Cambhu là Cẩm Bửu, Pura là thành thị. Tên ghép là thành thị Cẩm Bửu) gồm lưu vực sông Mékong và Miền Nam VN ngày nay. Lúc ấy bị chia làm nhiều khu vực do các vị Hoàng thân và tướng lãnh Phù Nam thống trị.

Nữ Vương Jyeshthâryâ là cháu 3 đời của Quốc Vương INDRAKOLA cai trị vùng đất quanh tỉnh Kratié ngày nay, đồng thời với vua Jayavarman II (802-850). Năm 803, Nữ Vương xây một ngôi tháp ở Cambhupura, là đế đô cũ của vua Mahendravarman (600-615). Kiến trúc của tháp nầy ảnh hưởng đạo Bà La Môn, nét hoa văn trang trí trên tháp như cẩm tú (như gấm như thêu). Bà thật xứng đáng bậc anh thư Chân Lạp.

“Tuy mang lấy tiếng hồng quần,

Cảnh tiên còn mến, cõi trần anh thư”

Nữ Vương theo Bà La Môn, tôn thờ các đấng Bhrama, Christna, Civa mà Đạo Cao Đài tạc tượng thờ trên nóc Bát Quái Đài. Ngươn linh của Bà là Nhị Nương ở cung Diêu Trì, có phận sự bảo hộ và phổ độ dân Cao Miên (Campuchia) theo Đạo mới. Nhờ vậy, mà việc phá rừng xây cất Toà Thánh trong buổi đầu mới thành tựu được.

3. TAM NƯƠNG:

Tam Nương cầm quạt Long Tu phiến, đón tiếp các chư hồn đến tầng trời thứ ba là Thanh Thiên, thả thuyền Bát Nhã nơi bể khổ, đưa các chơn hồn có đủ phước đức qua khỏi bến mê sang bờ giác, qui hồi cựu vị.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên là TUYẾN. Do đó Bài thài hiến lễ Tam Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có chữ khởi đầu là “TUYẾN”:

TUYẾN đức năng thành đạo,

Quảng trí đắc cao huyền.

Biển mê lắc lẻo con thuyền,

Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.

SỰ TÍCH:

Tam Nương rất quảng trí xuất hiện trần gian để độ thế, thường Cô chỉ mặc áo tràng trắng có viền kim tuyến (giống áo Chức sắc Nữ phái): “Tuyến đức năng thành đạo”, mỗi khi Cô hiển hiện. Thế nên người đời thường gọi Cô là Bà Kim Tuyến.

Người ta còn truyền lại: Khi Nguyễn Hồng rời bỏ họ Trịnh, từ Thăng Long vào miền Trung tìm nơi đóng đô chưa được, thì may thay gặp một bà già mặc áo quần trắng có viền kim tuyến trên một ngọn đồi. Bà trao cho Nguyễn Hoàng một nén hương đang cháy và dạy:

– Ngươi hãy cầm nén hương nầy mà đi, bao giờ hương tắt thì đó là nơi đóng đô.

Theo lời dạy, khi nhang tàn, quả nhiên Nguyễn Hoàng thấy trước mắt một vùng núi sông hiền hòa (sông Hương núi Ngự). Thế nên Nguyễn Hoàng quyết chọn làng Phú Xuân (nay là Huế) làm kinh đô.

Để nhớ ơn bà già tặng nhang, Nguyễn Hoàng cho xây dựng trên ngọn đồi nầy một ngôi chùa. Đó là chùa Thiên Mụ bên sông Hương. Trong chùa có tháp Phước duyên làm biểu tượng của Huế, có tượng thờ Đức Di Lạc; nổi tiếng nhứt là tiếng chuông Thiên Mụ (Thiên Mụ là người đàn bà ở cõi Trời). Vì thế, Bà giáng hạ có phận sự độ khách tục khỏi biển mê và cửu tuyền vì giáo lý Cao Đài dạy: Vô Địa ngục, Vô Quỉ quan.

“Biển mê lắc lẻo con thuyền,

Chở che khách tục cửu tuyền ngăn sông”.

Bà Tam Nương ở Cung Diêu Trì có phận sự phổ độ lương dân miền Trung và Nam Trung phần VN theo Đạo mới.

4. TỨ NƯƠNG:

Tứ Nương cầm Kim Bảng, hướng dẫn các chơn hồn đến tầng trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi. Ai hiền đức và học giỏi, Cô mới cho đỗ đạt.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tứ Nương có tên là GẤM. Do đó Bài thài hiến lễ Tứ Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có chữ khởi đầu là “GẤM”:

GẤM lót ngõ chưa vừa gót ngọc,

Vàng treo nhà, ít học, không ưa.

Đợi trang nho sĩ tài vừa,

Đằng giao khởi phụng chẳng ngừa Tiên thi.

SỰ TÍCH:

Vào năm 1655, Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đem quân vượt Sông Gianh ra Bắc đánh quân Trịnh. Trịnh Đào thua chạy về An Trường (nay là Nghệ An).

Quân Nguyễn thừa thắng đuổi theo chém giết vô kể, rồi chiếm Nghệ An. Cô Lê Ngọc Gấm sanh trong một gia đình thủ công nghệ bị chết trong cảnh loạn quân đó, lúc đó mới 9 tuổi. Linh hồn Cô phảng phất và tá túc ở Đền Sòng (Thanh Hóa nơi thờ Bà Liễu Hạnh).

Năm 1705, Cô chuyển kiếp vào nhà họ Lê ở Văn Giang, ông Hương Cống Lê Doãn Nghi nằm mộng thấy linh thần tặng cho họ Đoàn nên đổi từ họ Lê sang họ Đoàn. Ông Nghi lập gia đình, sau sinh được hai người con đều hay chữ là Tiến sĩ Đoàn Doãn Luân và bà Đoàn Thị Điểm. Như vậy cô Gấm là tiền thân của bà Đoàn Thị Điểm.

Bà bẩm sinh tư chất thông minh, văn hay chữ tốt, một giai nhân khiêm cung đức độ, được vậy là nhờ bà là chơn linh của Tứ Nương. Dưỡng phụ Bà là Thượng thư Lê Anh Tuấn tiến cử Bà vào cung Chúa Trịnh, nhưng bình sanh Bà không ưa cảnh quan quyền nên khước từ.

Bà dốc hết tâm trí vào việc trau dồi văn chương cho được “Đằng giao khởi phụng”. Bà mở trường dạy học và dạy nữ công (nên tượng Tứ Nương cầm cây Kim Bảng). Bà chế ra hai cái túi: Một cái thêu kiểu tam hữu (tùng, trước, mai) và một cái thêu kiểu Bát Quái, ám chỉ Bà là Tiên nữ.

Năm 1927, Cha mất, Bà cùng mẹ về Hưng yên, nơi anh bà là Đoàn Doãn Luân đang dạy học. Ông Luân thường bày nhiều cuộc xướng hoạ để thử tài Bà. Một hôm, ông lấy chữ trong Sử Ký nói về Hán Cao Tổ để bà đối lại.

Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi.

(Con rắn trắng đón đường, Ông Quí rút gươm ra chém.

Bà liền dùng một câu nguyên văn trong Sử ký (sách của Tư Mã Thiên) thuộc đời Ngu Thuấn nói về ông Hạ Vũ để đối lại:

Hoàng long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết.

(Con rồng vàng đội thuyền, ông Vũ nhìn trời mà than).

Còn nhiều giai thoại giữa ông Luân và Bà, và nhiều thi nhân khác. Nhiều người giàu có đỗ đạt nghe tiếng muốn cầu hôn đều bị bà khước từ và cho họ là bọn học vẹt, chớ không có thực tài văn chương như Tiến sĩ Nguyễn Công Thái, Nhữ Đình Toản. Thật đúng với hai câu:

“Gấm lót ngõ chưa vừa gót ngọc,

Vàng treo nhà ít học không ưa”.

Bà chỉ ước mong có một người tài ba là Nguyễn Kiều đỗ Tiến sĩ lúc 21 tuổi, văn võ song toàn.

“Đợi trông nho sĩ tài vừa,

Đằng giao khởi phụng chẳng ngừa tiên thi”.

Nhưng mãi đến năm bà 37 tuổi, ông Nguyễn Kiều mới xin cầu hôn với bà. Năm 1748, Nguyễn Kiều được bổ làm Tham Thị ở Nghệ An, Bà xuống thuyền theo chồng đến Đền Sòng (dưới chân núi Sùng), nơi thờ bà Công chúa Liễu Hạnh, Bà bị cảm nặng và mất ở đó vào ngày 11-9-1748, nhập vào chơn linh nàng Gấm. Đó là ngày tái hợp mà nàng Gấm đã hẹn với bà Liễu Hạnh (vốn là Ngũ Nương Diêu Trì Cung). Ông Nguyễn Kiều thương tiếc làm bài văn tế như sau:

“Ô hô! Hỡi nàng!

Huệ tốt, lan thơm,

Phong tư lộng lẫy, cử chỉ đoan trang,

Nữ đức trọn vẹn, tài học ngỡ ngàng.

Giáo mác, ấy bàn luận;

Gấm vóc, ấy văn chương;

Nữ trung hiếm có như nàng:

v.v..” (Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ Ngâm bị khảo).

Bà vốn là Tứ Nương Diêu Trì Cung, có phận sự mở kiến thức khiếu linh quang cho nhơn loại và nâng đỡ người sống như linh hồn được linh hoạt hay linh hiển để học hỏi giỏi giang ở tại cõi đời hoặc cõi vô hình.

Bà có phận sự phổ độ những nho sĩ, những người văn chương khoa bảng thành thị Bắc phần VN theo Đạo mới.

Bà Đoàn Thị Điểm đã giáng cho nhiều Kinh Thế Đạo như các bài: Kinh tụng khi Vua thăng hà, Kinh tụng khi Thầy qui vị, Kinh Cầu Tổ phụ đã qui liễu, Kinh tụng Cha mẹ đã qui liễu, Kinh cầu bà con thân bằng cố hữu đã qui liễu, Kinh tụng Huynh đệ mãn phần, Kinh tụng khi chồng qui vị, Kinh tụng khi vợ qui liễu. Cộng chung là 8 bài.

Nhất là tập NỮ TRUNG TÙNG PHẬN, theo thể thơ song thất lục bát (giống như tác phẩm Chinh phụ ngâm bà làm khi còn sống) gồm 350 vế, 1400 câu, thêm câu kết là 1401 câu: “Đời đời danh chói Cao Đài”

5. NGŨ NƯƠNG:

Ngũ Nương cầm cây Như Ý, tiếp dẫn các chơn hồn đến tầng trời thứ năm trong Cửu Trùng Thiên là tầng Xích Thiên. Nơi đây, chơn hồn được hướng dẫn đến Chiếu Giám Minh Cảnh Đài để xem rõ ràng các tội phước mà mình đã gây ra trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần, rồi đến Cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự cho chơn hồn thấy rõ quả duyên của mình.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU. Do đó Bài thài hiến lễ Ngũ Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có chữ khởi đầu là “LIỄU”:

LIỄU yểu điệu còn ghen nét đẹp,

Tuyết trong ngần khó phép so thân.

Hiu hiu nhẹ gót phong trần,

Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương.

SỰ TÍCH:

Vào đời Hậu Lê, năm 1557 ở thôn Thái An, tình Nam Định, có nhà họ Lê, vợ mắc bệnh suy nhược không sinh đẻ được.

Một hôm, có một vị đạo sĩ đến nhà xin trị bịnh, bằng cách cho người chồng là Lê Thái Công đánh thiếp lên Thiên đình. Ông Lê Thái Công tình cờ thấy công chúa Quỳnh Hương lỡ tay làm bể chén ngọc, nên bị Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đày xuống trần. Khi xả đồng tỉnh lại, Lê Thái Công được tin vợ sanh được một người con gái đẹp như tiên giáng trần, đặt tên là Liễu Hạnh.

“Liễu yểu điệu còn ghen nét đẹp”

Năm 1578, đột nhiên Cô Liễu “hiu hiu nhẹ gót phong trần” bỏ xác phàm trở về thượng giới trong khi chưa hết hạn làm khách trần chuộc tội. Thế nên sau đó Đức Thượng Đế ra lịnh Cô xuống trần lần nữa. Chính lần nầy Cô gặp Cô Gấm (Tứ Nương). Để công phổ độ sớm hoàn thành, Cô đi khắp vùng Bắc phần và Bắc Trung phần VN để giúp nhơn sanh. Cô xuất hiện giữa ban ngày ở vùng Phố Cát (Thanh Hoá) và nhiều nơi khác.

Để tỏ lòng biết ơn Bà, dân chúng xây đền thờ Bà ở nhiều nơi như: Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng, Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sùng Sơn (Hà Nội).

Triều đình nghe danh phong tặng Bà là “Thượng đẳng Phúc Thần” (Thần ban phúc). Nhân dân gọi Bà là Mẫu Liễu, lễ vía vào ngày 3-3 Âm lịch.

Đến cuối đời Hậu Lê, một vị quan nằm mộng thấy Bà Liễu lên xe mây về trời. (Hoàng Trọng Miên, Việt Nam văn Học toàn thư. Sài Gòn 1959)

Bà là Ngũ Nương ở Cung Diêu Trì, có phận sự phổ độ nhơn sanh đồng bằng Bắc phần và Bắc Trung phần VN theo Đạo Cao Đài.

6. LỤC NƯƠNG:

Lục Nương cầm phướn truy hồn, tức là phướn Tiêu Diêu, độ dẫn khách trần, và tiếp đón các chơn hồn đến tầng trời thứ sáu là Kim Thiên, đưa chơn hồn đến Đài Huệ Hương xông thơm chơn thần, trỗi nhạc Thiên thiều đưa chơn hồn lên cõi Niết Bàn.

(Painting, c.1485. Source: http://en.wikipedia.org/wiki/Joan_of_Arc)

Lục Nương giáng trần ở nước Pháp là Thánh Nữ Jeanne d’Arc (1412-1431), một vị Nữ Anh hùng cứu nguy nước Pháp, sau đó lại giáng sanh ở Việt Nam có tên là HUỆ.

Do đó Bài thài hiến lễ Lục Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có chữ khởi đầu là “HUỆ”:

HUỆ ngào ngạt đưa hơi vò dịu,

Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong.

Nương mây như thả cánh hồng,

Tiêu diêu phất phướn, cõi tòng đưa Tiên.

SỰ TÍCH:

Cô Hồ Thị Huệ là hậu thân của bà Jean D’Arc, theo Thánh giáo: Jean D’Arc (1412-1431) tự là Pucelle d’Orléans, nữ anh hùng nước Pháp, sanh ở Domreny (biên giới tỉnh Lorraine và Champagne). Bà thuộc gia đình nông dân, hiếu thảo vẹn toàn. Năm 13 tuổi (1428) trong lúc chăn cừu, Bà nghe tiếng nói thiêng liêng giục Bà cứu Hoàng Thái tử Charles VII và giải nguy cho nước Pháp.

Quân Anh vây Orléans, khi sắp hạ thành thì Bà xuất hiện (30-4) với một đội quân dũng cảm. Ngày 8-5, Bà đánh bại quân Anh. Nhờ đó, nhân dân Pháp vùng dậy tràn đầy hy vọng, thừa thắng xông lên. Sau đó Bà rước vua Charles VII về Rêm (Reims) để làm lễ tấn phong theo tục lệ bấy giờ. Năm 1430, Bà không chịu được thái độ của bọn cựu thần và cũng vì chán sống cảnh an nhàn sa đọa của triều đình phong kiến, Bà lại ra quân giải vây thành Compiègne. Bà bị quân Burgundian bắt, bán lại cho người Anh.

Bà bị giam cầm khổ sở. Sau cùng, tôn giáo pháp đình của người Anh kết án Bà là tà giáo phải bị hỏa thiêu vào ngày 30-5-1431 tại Rouen. Năm ấy Bà mới có 19 tuổi.

Bà Jeanne d’Arc là anh hùng nông dân Pháp, một biểu tượng trong sạch từ thể xác tới tinh thần. Sự xuất hiện của Bà chứng tỏ rằng sứ mạng của bọn quý tộc phong kiến và võ sĩ đã chấm dứt.

Năm 1920, lễ kỷ niệm Bà được nhân dân Pháp tôn vinh là quốc lễ. Bà là Lục Nương, có phận sự bảo hộ và phổ độ dân tộc Pháp theo Đạo mới. Bà đã phổ độ nhà văn Gabriel Gobron đắc phong Tiếp Dẫn Đạo Nhơn và nhiều người khác.

Sau Bà Jeanne d’Arc chuyển kiếp đầu thai ở Việt Nam tên là Hồ Thị Huê (hay Hoa) sanh năm 1790, con của ông Khâm sai Hồ Văn Vui và bà Hoàng Thị, người huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa.

Lăng mộ họ Hồ hiện ở gần thị trấn Thủ Đức. Chính Bà đã phổ độ ông huyện Thơ ở Thủ Đức (sau đắc phong Đầu Sư) và hướng dẫn Đức Hộ pháp hành pháp tại Long Vân Thánh Tịnh (gần cây mùa cua Thủ Đức) trong buổi đầu khai Đạo.

Năm Bính Dần niên hiệu Gia Long thứ 5 (1805), Thế Tổ Cao Hoàng Đế và Hoàng hậu lựa chọn Bà Hồ Thị Huệ làm phối thất cho vua Minh Mạng.

Bà có đủ các đức (tư phong): Thục, Thuận, Hiền, Trinh, hết đạo hiếu kính. Vua Thế Tổ khen ngợi đặt tên là Thật. Thế Tổ bảo: Phi nguyên tên là Huệ, hoa thì chỉ nghe thơm mà thôi, chi bằng chữ Thật, Thật là gồm có quả phúc, nên trong bài thài có hai câu:

“Huệ ngào ngạt đưa hơi vị diệu,

Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong”

Tháng 5-1807, Bà sinh ra Thiệu Trị được 13 ngày thì Bà băng, lúc mới 17 tuổi: “Nương mây như thả cánh hồng”.

Bà là Lục Nương ở Cung Diêu Trì có phận sự phổ độ những người trong Hoàng tộc theo Đạo mới, như bà Từ Cung, mẹ của vua Bảo Đại. Bà Từ Cung được ân phong Phối sư Nữ phái. (xem thêm tiểu sử của Bà Lục nương)

Trong đàn đêm 24-2-1934 tại Tòa thánh, phò loan Hộ pháp – Tiếp thế, Lục Nương giáng cho biết bà là Jeanne d’Arc.

Trong một đàn khác, vào ngày 22-9-1934 phò loan Hộ pháp Tiếp đạo. Bà Jeanne d’Arc giáng dạy Đạo cho Bà Perreux như sau:

“Bonjour ma chère compatriote (Mme Perreux).

Je viens pour vous, par les prières sincères de nos frères en esprit”.

Mme Perreux demande des explications sur la nouvelle religion, òu il y a des dames dignitaires.

“Oui, c’est la seule religion qui octroie aux femmes un pouvoir spirituel à peu près égal à celui des hommes. Elle mettra en vue une justice que la chrétienté a niée depuis longtemps ……”

(Les messages spirites Tây Ninh 1962 trang 103)

[Thanh Mai dịch:]

“Xin chào nữ đồng bào thân mến của Ta [bà Perreux].

Ta giáng vì các huynh đệ, do lời cầu nguyện thành tâm của các huynh đệ.”

[Bà Perreux xin Thánh nữ Jeanne d’Arc giải thích về nền tôn giáo mới có các nữ chức sắc.]

“Phải. Đây là nền tôn giáo duy nhất ban cho phái nữ một quyền năng tâm linh ngang bằng với phái nam. Nền đạo này cho thấy một sự công bằng mà đạo Thiên Chúa đã từ bỏ lâu rồi…”

(Thánh ngôn Tây Ninh 1962, trang 103)

Trong đêm Hội Yến Diêu Trì Cung đầu tiên (15-8 Ất Sửu, dl 1-9-1925), Lục Nương mời 3 Thiên sứ liên ngâm để dạy đạo.

Lục Nương:

Trót đã đeo mang cái nợ đời,

Gánh đời nặng lắm khách trần ơi.

Cao Quỳnh Cư:

Oằn vai thần đạo non sông vác,

Chịu kiếp trần ai gió bụi vùi.

Phạm Công Tắc:

Thương hải tang điền xem lắm lúc,

Công danh phú quí nhắm trò chơi.

Cao Hoài Sang:

Ở đời mới hẳn rằng đời khó,

Khó một đôi năm, dễ khó đời.

Lục Nương:

Ở thế sao chê tiếng thế buồn,

Buồn vui hai lẽ lấy chi đong.

Cao Quỳnh Cư:

Cân đai tuế nguyệt trêu hồn bướm,

Tên tuổi phong ba lắm bụi hồng.

Phạm Công Tắc:

Chiếc bách dập dồn dòng bích thủy,

Phồn hoa mờ mệt giấc huỳnh lương.

Cao Hoài Sang:

Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh.

Quảy gánh thơ đàn dạo bốn phương.

Khi tái cầu, Lục Nương cho bài thi như sau:

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,

Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,

Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương dậm vẻ làu.

Non nước đìu hiu Xuân vắng chúa,

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

7. THẤT NƯƠNG:

Thất Nương cầm bông sen, hướng dẫn các chơn hồn đến tầng trời Hạo Nhiên Thiên để bái kiến Đức Chuẩn Đề Bồ Tát.

Thất Nương là vị Nữ Tiên đầu tiên giáng bàn (thuở còn xây bàn) dùng thi văn để dẫn dắt các vị nguyên căn vào cửa Đạo làm môn đệ cho Đức Chí Tôn, để sau này các vị ấy trở thành tướng soái cho Chí Tôn mở Đạo.

Thất Nương lại để lòng từ bi tình nguyện lãnh lệnh Ngọc Hư Cung đến cõi âm quang để giáo các nữ tội hồn, để họ sớm thức tỉnh mà được tái kiếp trả cho xong căn quả và lo tu hành lần về cựu vị.

Trong một kiếp giáng trần gần đây nhứt, Cô có tên là Vương Thị Lễ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, con của ông Vương Quan Trân và bà Đỗ Thị Sang (con gái của Tổng Đốc Phương ). Ông Vương Quan Trân làm Đốc phủ, là anh ruột của ông Vương Quan Kỳ, đắc phong Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ở Thánh Thất Cầu Kho. Cô Lễ bị bạo bệnh mất năm 18 tuổi.

(Ảnh tài liệu tamgiaodongnguyen.com)

Bài thài hiến lễ Thất Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có chữ khởi đầu là “LỄ”:

LỄ bái thường hành tâm đạo khởi,

Nhân từ tái thế tử vô ưu.

Ngày xuân gọi thế hảo cừu,

Trăm duyên phước tục, khó bù buồn Tiên.

SỰ TÍCH:

Cô Vương Thị Lễ sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, con ông Vương Quan Trân (anh ruột giáo sư Vương Quan Kỳ) và bà Đỗ Thị Sang (con gái của ông Tổng đốc Đỗ Hữu Phương).

Nhà họ Đỗ sanh con khó nuôi, nên phải ra tận Huế thỉnh lư hương của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ (tức Phật Mẫu) về thờ để mong phò hộ. Nhờ đó cô Vương Thị Lễ được nuôi lớn. Nhưng đến năm 18 tuổi Cô “phủi nợ xuống tuyền đài”.

Theo lời của Đức Hộ pháp thuật lại thì tiền kiếp của cô Lễ là một vị công chúa, con một vị vua. Trong triều có một vị quan yêu cô, nhưng vì môn đăng hộ đối không lấy được cô nên vị quan bị thất tình mà chết.

Đến kiếp này, cô đầu thai vào gia đình họ Vương, đang theo học trường Sainte Enfance đến trình độ Brevet Elémentaire (Trung học Pháp), có nhiều danh gia vọng tộc đi hỏi cưới mà cô không chịu, sau Cô mắc phải bệnh ngặt nghèo, chạy đủ thầy mà không hết. Thân mẫu cô mới truyền rao ai cứu được cô thì gả cho người ấy.

Lúc đó có một ông thầy thuốc tây, học ở Hà Nội (Médecin Indochinois) mới bổ lên Saigon. Gia đình có rước đến chữa khỏi bịnh cho cô. Cô biết vị lương y nầy là ông quan trẻ thầm yêu cô trước kia vì “nợ ba sinh” mà hai người cùng đầu kiếp để nên nghĩa vợ chồng.

Song, thân mẫu Cô quên lời hứa, chỉ trả tiền cho thầy thuốc rồi thôi. Riêng cô vẫn giữ dạ keo sơn rồi trở bệnh cho đến chết.

8. BÁT NƯƠNG:

Bát Nương cầm giỏ Hoa Lam, dày công giáo hóa và xây dựng Đạo Cao Đài buổi sơ khai, có phận sự độ rỗi các nguyên nhân còn tại thế, nhứt là nữ phái, tiếp đưa các chơn hồn đến tầng trời Phi Tưởng Thiên bái kiến Đức Từ Hàng Bồ Tát. Ai có việc chi cầu khẩn với Bát Nương thì được đắc nguyện một cách linh hiển.

Tại Báo Ân Đường Kiêm Biên (Nam Vang), Đức Phạm Hộ pháp phò loan, Bát Nương giáng cơ cho bài Phật Mẫu Chơn Kinh để cúng Đức Phật Mẫu. Đây là một bài kinh vô cùng quan trọng của Đạo Cao Đài, cho biết quyền năng của Phật Mẫu, mà từ thuở xưa tới giờ chưa có bài kinh nào như vậy.

Bát Nương cùng Đức Cao Thượng Phẩm luân phiên giáng cơ dạy về Luật Tam Thể và Diêu Trì Cung, tạo thành một tài liệu học đạo rất quý báu.

Bát Nương giáng trần ở nước Trung Hoa vào thời nhà Tây Hán, có tên là Hớn Liên Bạch (họ là Hớn, tên là Liên Bạch có nghĩa là hoa sen trắng), sau đó lại giáng trần nơi nước Việt Nam, sanh vào nhà họ Hồ.

Do đó Bài thài hiến lễ Bát Nương khởi đầu bằng chữ HỒ HỚN là hai họ: Họ Hồ và họ Hớn, hoa sen trắng là Liên Bạch, tên Cô:

HỒ HỚN HOA SEN TRẮNG nở ngày,

Càng gần hơi đẹp lại càng say.

Trêu trăng hằng thói dấu mày,

Cợt mây tránh chức Phật đài thêm hoa.

Bát Nương giáng cơ dạy về Diêu Trì Cung:

(Phò Loan: Thừa sử Phước, Luật sự Nhung.

Hầu Đàn: Luật sự Ảnh, Hợi, Tiếp, Tú, Hưỡng, Cao, Trường, Khoe.)

Bát Nương. Chị chào mấy em,

Đêm nay Chị đến đặng chỉ cho mấy em được rõ Diêu Trì Cung là nơi nào?

Nơi Ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang, đài ấy thâu lằng sanh quang của Ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn thần cho vạn linh trong càn khôn vũ trụ.

Phật Mẫu là Đấng nắm cơ sanh hóa, thay quyền Chí Tôn, đứng ra thâu cả Thập Thiên Can đem hiệp với Thập Nhị Địa Chi mà tạo nên vạn vật. Nơi Cung Diêu Trì là nơi tạo nên Chơn thần và thể xác đó vậy.

Diêu Trì Cung là cung điện bằng ngọc Diêu ở bên Ao Thất Bửu chớ chẳng chi lạ. Ngọc tượng trưng cho sự quý giá, còn Diêu là chất hơi kết tụ mà thành.

Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật, trông nom về cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là đấng cầm đầu.

Quan Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải ở An Nhàn Động. Còn Diêu Trì Cung thì ở tại Tạo Hóa Huyền Thiên.

Nơi Cung Diêu Trì còn có một cõi Âm quang riêng biệt gọi là Phong Đô đặng giáo hóa các chơn thần đã bị lạc nẽo trên đường trần.

Vậy vắn tắt hơn, Diêu Trì Cung là cơ sanh hóa vạn linh và vạn vật đó. Chị sẽ đến dạy thêm vào kỳ tới.

Chị xin kiếu.

9. CỬU NƯƠNG:

Cửu Nương cầm ống tiêu, có phận sự giác ngộ các chơn hồn bị đọa lạc nơi trần thế, tiếp dẫn các chơn hồn lên đến tầng trời Tạo Hoá Thiên, tầng thứ chín trong Cửu Trùng Thiên để bái kiến Đức Phật Mẫu.

(Ảnh tài liệu tamgiaodongnguyen.com)

Trong một kiếp giáng trần gần đây nhứt, Cửu Nương có tên là Cao Thị Khiết (Kiết), sanh năm Bính Thân (1895) tại Bạc Liêu, con của ông Đốc Phủ sứ Cao Minh Thạnh và bà Tào Thị Xúc. Cô là con gái út thứ 9, người anh ruột thứ 6 là ông Cao Triều Phát. Cô mất năm Canh Thân (1920) hưởng dương được 25 tuổi. Mộ của Cô vẫn còn tại Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu chừng hơn 2 cây số về hướng đi Vĩnh Châu. Mộ làm bằng đá xanh, rất kiên cố, xây giữa đồng ruộng, trong khu đất dành làm nghĩa trang của dòng học Cao ở Bạc Liêu.

Bài thài hiến lễ Cửu Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung:

KHIẾT sạch duyên trần vẹn giữ,

Bạc Liêu ngôi cũ còn lời.

Chính chuyên buồn chẳng trọn đời,

Thương người noi Đạo, Phật Trời cũng thương.

Tóm lại, Cửu Vị Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa vạn linh. Tất cả các nghề hay, nghiệp khéo, về nữ công, hoặc về cầm, kỳ, thi, họa, cùng là triết học văn chương, đều thuộc về phần nhiệm của Cửu vị Tiên Nương giáo hóa và un đúc cho thành tài.

Ngày nay, thời Tam kỳ Phổ độ, Cửu vị Tiên Nương đã đắc thành Phật vị, gọi là Cửu vị Nữ Phật. Nhưng khi cúng Đức Phật Mẫu nơi Báo Ân Từ hay Điện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vẫn còn niệm: NAM MÔ CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG, là để ghi nhớ công đức của Chín Cô trong thời kỳ khai Đạo Cao Đài.

TẢ CHÍN VỊ TIÊN NỮ

Một mày liễu trong ngần đóa ngọc,

Hai má đào phải trọng tiết trinh.

Mảnh thân trọn hiếu thâm tình,

Phải hình thục nữ, phải gìn căn duyên.

Ba yểu điệu thuyền quyên vóc hạc,

Bốn mỹ miều đài các trâm anh.

Khi vui bóng nguyệt rọi mành,

Khi dòng bích thủy, khi cành hoa xuân.

Năm phận gái hồng quần đáng mặt,

Sáu vẹn toàn quốc sắc thiên hương.

Vào ra phụng trướng loan đường,

Vào ra ngọc các cẩm tường xem hoa.

Bảy trau chuốt thân ngà mặt ngọc,

Tám chín phần rèn tập nữ nhi.

Chung lo mối Đạo Tam Kỳ,

Giúp nhà Nam Việt kịp thì Long Hoa.

 

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

 
3 phản hồi

Posted by trên Tháng Tám 3, 2009 in VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

 

Nhãn: , , , , ,

TƯỢNG CHÚA KITÔ VUA TRÊN ĐỈNH TAO PHÙNG

Tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng ở Vũng Tàu

tượng chúa vt 1

Nằm chót vót trên đỉnh núi Nhỏ,  tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng như một ngọn tháp canh thu vào tầm mắt du khách toàn bộ cảnh quan của thành phố Vũng Tàu.

Năm 1972, cha Phaolô Nguyễn Minh Tri cùng với bà con giáo dân Vũng Tàu khởi công xây dựng một tượng đài Chúa Kitô, theo dự kiến cao khoảng 10m, đặt trên bệ cao 5m ngay tại mũi Nghinh Phong dưới chân núi Nhỏ. Công việc xây dựng đang tiến hành thì bị gián đoạn vào năm 1973, đại tá thị trưởng Vũng Tàu ra lệnh ngưng mọi công tác xây dựng do khiếu nại của Giáo Hội Phật Giáo cho rằng địa điểm này được dành cho GHPG . Để giữ hòa khí giữa hai tôn giáo , các cuộc họp được tổ chức và kết quả bản thỏa hiệp được ký kết và ngày 16 -02- 1974 Giáo Hội Công Giáo sẽ xây dựng các công trình tôn giáo trên ngọn núi Tao Phùng với diện tích là 10 mẫu và để lại mũi Nghinh Phong ( Ô Quắn ) cho Giáo Hội Phật Giáo toàn quyền sử dụng.

Năm 1974, tượng đài Chúa Kitô được xây dựng lại trên đỉnh núi Tao Phùng thuộc dãy núi Nhỏ với diện tích rộng lớn 10 hécta. Do thay đổi vị trí nên tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng được thiết kế lại để phù hợp với độ cao mới và sự khắc nghiệt của khí hậu gió mùa nhiệt đới. Việc thay đổi này đem lại sự khó khăn về tài chính cũng như những điều kiện khác trong việc xây dựng. Tuy nhiên, công việc vẫn được tiến hành dưới sự chỉ đạo của cha Phaolô Nguyễn Minh Tri và sự giúp đỡ về tài chính của ông bà Lê Quang Tuyến. Công việc điều hành thi công do họa sĩ kiêm điêu khắc gia Văn Nhân và kỹ sư Nguyễn Quảng Đức cùng với 50 công nhân lành nghề thực hiện.Công việc đươc bắt đầu , dự định sẽ đào móng sâu 6m , nhưng mới được 3m thì đụng nền xi măng cứng ngắt . Anh em quyết tâm đập thủng khối xi măng cốt thép chặn ngay đường tiến xuống , chưa biết dày mỏng bao nhiêu của một khoảng trống phía dưới .Vạch một vòng tròn to anh em quyết tâm chọc thủng để thăm dò phía sâu hơn , chọc thủng được chướng ngại vật , một người ngồi gọn trong cái thúng để anh em buộc dây thả xuống khoảng trống tối om phía dưới . Thật bất ngờ và lạ lung : Đây là một hệ thống địa đạo được che chắn bằng xi măng cốt thép , chổ bị chọc thủng đây chính là lối đi ở giữa của hai dãy phòng , mỗi bên gồm 7 phòng , mỗi phòng dài 7 thước rộng 4 thước . Không còn nghi ngờ gì nữa , đây là hệ thống phòng thủ do người Pháp hoặc người Nhật xây dựng trước đây . Rải rác trên sườn núi, người ta thấy các cửa hầm dẫn vào khu chỉ huy trung tâm nằm dưới đỉnh Tao Phùng , tất cả bị cỏ cây che phủ . Như vậy móng của tượng đài phải xuống sâu hơn , qua khoảng trống của căn hầm và đụng đất , hoàn toàn bất ngờ đối với những người thi công . Ngày nay khi du khách đến tham quan tượng đài đều thấy hai khẩu thần công được đặt trên núi từ thưở nào , bên cạnh là tấm bảng của bảo tàng Bà Rịa _ Vũng tàu với những hàng chữ : ‘ Di tích lịch sử – trận địa pháo núi nhỏ , xây dựng cuối thế kỷ 19 , hoàn thành năm 1905 , công trình quân sự trong hệ thống phòng thủ chiến lược của Pháp tại Vũng Tàu “ . Giải quyết xong phần móng của tượng đài , mọi người bắt tay vào việc với khí thế hào hứng . Vào những ngày cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai , tháng 4 -1975 , công việc như dồn dập hơn . Tượng đài phải được hoàn tất để Đức Giê Su chừng kiến sự chuyển mình sang một trng sử mới của con dân đất Việt Tiếng đạn pháo mỗi ngày một gần mọi người hối hả và ở đây trên đỉnh Tao Phùng công việc xây dựng tượng đài đang ở vào giai đoạn chót . Tượng được mài từ cao xuống thấp , cẩn thận và tỉ mỉ , mài đến đâu gỡ giàn giáo đến đó. Một vị linh mục cao tuổi , có lẽ là người duy nhất đã trèo lên ôm hôn mặt chúa trước lúc giàn giáo được tháo gỡ . Ông xúc động cầu nguyện cho quê hương vào giờ phút lịch sử , , ông dâng đồng bào vào vòng tay mở rộng của Chúa . Ông cũng như đa số đồng bào của ông , chẳng mấy ai hiểu được sự chuyển mình của đất nước ..

Tháng 4- 1975 , lịch sử đất nước sang trang , Quê Hương hòa bình thống nhất , tưởng rằng công việc sẽ được thuận lợi hơn sau khi đã hoàn tất tượng Chúa . Còn bao vịec phải làm , các bức phù điêu ở phần chân đế tượng , bậc thang dẫn từ chân núi lên đỉnh Tao Phùng , hoa phải được trồng thêm , cỏ hoang cần phải cắt xén …tất cả đều phải tạm ngừng , những ngổn ngang sau một cuộc chiến dài cần có thời gian để thu dọn , sắp xếp , từ lòng người tới cuộc sống .Thế là bức tượng Chúa GiêSu Vua tuy đã được hoàn tất nhưng cô quạnh trên đỉnh Tao Phùng , vào thời gian này, tháng 5 – 1980 người ta phát hiện thấy hệ thống thu lôi bằng dây đồng của tượng bị mất cắp . Không thể để bức tượng chơ vơ giữa mưa giông sấm chớp mù trời vào mùa mưa , cha Phêrô Trần Văn Huyên chánh xứ Vũng Tàu đã trình bày với các cha trong hạt và xin cha quản hạt làm đơn gởi lên chính quyền địa phương xin tu bổ và hoàn tất tượng đài . Đơn xin không được hồi âm và sau nhiều lần vận động đến năm 1992 chính quyền cho phép sửa chữa , tu bổ lại tượng Chúa . Lúc này Đất nước đang vào thời kỳ đổi mới , Thành phố Vũng Tàu đang trở thành một trung tâm du lịch lớn ,, không lẽ để tượng đài lớn nhất thế giới này trong tình trạng hoang phế trước mắt du khách mỗi ngày một đông đổ về Vũng Tàu . Lại một lần nữa dưới sự chỉ đạo của ban xây dựng giáo phận và các cha cúng toàn thể thợ , những cánh tay thành tâm công quả bất kể mưa nắng , một khối lượng công việc khổng lồ phải tiếp tục hoàn tất sau gần 20 năm bỏ hoang phế …tu bổ tượng chúa GiêSu , thực hiện bốn bức phù điêu đặt ở bốn mặt chân tượng chúa, tượng đài Đức Mẹ ôm xác Chúa ( Pieta ) ngay trước tượng đài Chúa Giêsu , hoàn tất lối lên từ chân núi Tao Phùng , trồng hoa mua lại lữ quán Nghinh Phong làm nơi dừng chân cho du khách , tạo hệ thống nước mưa bảo đảm đủ tưới cây trong mùa khô , chỉnh trang mặt tiền lối lên từ đường Hạ Long …. Và còn biết bao công đoạn . Riêng về 4 bức phù điêu ở phần chân đế tượng chúa , hai bức đã được hoàn tất trước ngày 30-4-1975 . vào lúc công trình được tái thi công, điêu khắc gia Văn Nhân đang sinh sống tại nước ngoài , nguyện vọng của ông là được hoàn tất tượng chúa Giê Su trên núi Tao Phùng trước khi nhắm mắt . Ông vui sướng nhận lời trở về quê nhà tiếp tục công việc , nhung lực bất tong tâm , lên xuống gần 800 bậc thang bằng đá là một nỗi nhọc nhằn quá sức chịu đựng đối với cụ già vào tuổi cổ lai hy . Nhiều khi ông phải ngồi dưới chân núi , chỉ đạo các học trò của ông thực hiện các chi tiết trên cao . Bốn bức phù điêu diễn tả cảnh ba nhà đạo sĩ từ phương đông đến bái lạy Chúa Hài Đồng , cảnh bữa tiệc chia tay giữa các tông đồ và Chúa GiêSu trước ngày chịu nạn , cảnh chúa đứng trước tòa án Philato và cảnh Chúa trao chìa khóa cho PhêRô làm đầu hội thánh . Bốn bức phù điêu che kín bốn mặt của đế tượng Chúa là phòng trưng bày phiên bản các bức danh họa liên quan đến kinh thánh được lưu trữ tại các bảo tàng viện nổi tiếng như Louvre , Peterbourg , Vatican ….

. Chỉ hai năm sau ngày tái khởi công , ngày 01-12-1994, toàn bộ công trình thuộc khu vực tượng đài Chúa Kitô được hoàn thành. Tượng đài Chúa Kitô đặt trên ngọn núi Nhỏ đối diện mũi Nghinh Phong, ở độ cao 176m so với mặt nước biển. Tượng đài đứng giữa hướng đông nam và quay ra biển, bên phải là núi Ô Quắn, bên trái là Hòn Bà, phía sau là thành phố Vũng Tàu. Từ dưới bãi biển nhìn lên, tượng đài Chúa Kitô giang đôi tay sừng sững án ngữ trên đỉnh núi cao, bao quanh là những tán cây xanh mát tạo thành một điểm nhấn đầy ấn tượng. Từ trên cánh tay tượng đài nhìn xuống, du khách có thể nhìn thấy thành phố Vũng Tàu với nhà cửa san sát, công viên khu công nghiệp Đông Xuyên, hồ Thị Vải và dáng vẻ mập mờ của núi Hòn Bà được bao quanh bởi làn nước trong xanh của biển trời Vũng Tàu.

Với chiều cao 32m, hai tay giang dài 18,40m, trong lòng tượng có 133 bậc thang và có thể chứa khoảng 100 du khách tham quan, mỗi bàn tay dài 2,20m, ngón giữa dài 1,10m, tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng được xem là một trong những tượng đài về Chúa Kitô lớn nhất thế giới hiện nay. Tượng mẫu Chúa Kitô và bốn bức phù điêu dưới chân tượng do họa sĩ kiêm điêu khắc gia Văn Nhân thực hiện, kỹ sư Nguyễn Quảng Đức đảm trách phần họa đồ sắt và bêtông, gần chân tượng Chúa là tượng Đức mẹ của nhà điêu khắc Xuân Quang. Phần lớn nguyên vật liệu sử dụng cho công trình này đều là những sản phẩm trong nước, ngoại trừ xi măng trắng được nhập khẩu từ nước ngoài. Đá và cát được chở từ Đồng Nai, riêng đá mài ở mặt, tay, chân, tà áo, cầu thang lấy từ đá cẩm thạch ở núi Non Nước ngoài Đà Nẵng về xay nhỏ. Đá rửa bên ngoài pho tượng là sỏi nhỏ 3 ly sàng lọc kỹ càng lấy từ sông Đồng Nai.

Đường đi lên tượng đài dài trên 500m, rộng từ 5-10m với gần 800 bậc thang tính từ đường Hạ Long lên đến chân tượng. Đứng từ mũi Nghinh Phong nhìn lên, sứ trắng bao quanh con đường ngoằn ngoèo uốn lượn, bất chợt du khách có cảm giác con đường này giống một dải lụa trắng thướt tha., tượng đài Chúa Kitô (người dân Vũng Tàu thường gọi bằng một tên quen thuộc Tượng Chúa giang tay) trở thành một trong những điểm tham quan không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến Vũng Tàu.

Ngày nay núi Chúa là một địa điểm tham quan mới trong hàng loạt các điểm du lịch văn hóa của Vũng Tàu thơ mộng , từ chân núi đi lên đều có trạm dừng chân cho du khách , cây cỏ hoa lá xanh tươi , gió lồng lộng , những bức tượng điêu khắc thật đẹp được đặt hai bên đường đi lên đỉnh núi , lên cao một chút bạn sẽ nhìn thấy những con thuyền nhấp nhô ngoài biển ,sóng vỗ rì rào cho ta một cảm giác thật thú vị .Hãy đến và lên đỉnh núi Chúa , nơi đây bạn hãy nguyện xin những gì mình cần cầu xin cho dù bạn là người công giáo hay không phải người công giáo , hãy đặt niềm tin của mình vào đấng tối cao bạn sẽ được toại nguyện .

thuyngakhanhhoa

 

 

 

 

Ảnh : HOÀNG BÁCH

 

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,