RSS

Tag Archives: tình yêu

Khi nào bạn đã yêu ?

Khi nào bạn đã yêu ?


Khi người ấy đang có mặt ở đây mà bạn giả vờ thờ ơ rồi khi người ấy vắng mặt, bạn lại bắt đầu đi tìm kiếm.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Mặc dù xung quanh bạn có nhiều người luôn khiến cho bạn cười nhưng ánh mắt và sự chú ý của bạn chỉ luôn hướng về người ấy.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Mặc dù người ấy đã gọi điện về thông báo rằng máy bay hạ cánh an toàn nhưng không ai trả lời điện thoại. Bạn vẫn luôn chờ đợi cuộc gọi ấy.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Bạn luôn thích thú với một email ngắn ngủn từ người ấy mà lờ đi những email thật dài của nhiều người khác.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Khi bạn thấy mình không thể xóa đi tất cả những mẩu tin trong Inbox hay trong Send Items chỉ bởi vì một email từ người ấy.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Khi bạn có một cặp vé đi xem phim. điều đầu tiên bạn nghĩ đến là sẽ cùng đi với người ấy.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Bạn luôn tự nhủ rằng “người ấy chỉ là bạn thôi” nhưng bạn nhận ra mình không tránh khỏi sự thu hút của người ấy.

Lúc đó,bạn đã yêu…

Khi bạn đọc những dòng chữ này, nếu ai có ai đó xuất hiện trong đầu bạn.

Lúc đó, bạn đã yêu… và đã yêu người ấy…

MỤC LỤC – LỜI HAY Ý ĐẸP

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 30, 2009 in LỜI HAY, Ý ĐẸP

 

Nhãn: , , , , ,

BÀI HỌC TỪ HƯƠU CAO CỔ

Bài học từ Hươu cao cổ

Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng; và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đơ. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho đến khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để chú phải nỗ lực tự mình đứng dậy lần nữa.

Điều này nghe có vẻ lạ với chúng ta, nhưng lại thực sự cần thiết cho hươu con bởi vì hươu con cần phải tự đứng được để có thể tồn tại với bầy đàn, nếu không hươu con sẽ trơ trọi với cuộc đời và trở thành miếng mồi ngon cho thú dữ.

Chúng ta cũng thế, thật dễ nản chí khi mọi việc đều trở nên tồi tệ. Nhưng cho dù đang phải đối mặt với nhiều gian khổ thì ta vẫn phải giữ vững niềm tin. Hãy ghi nhớ rằng mỗi khi ta phải đối mặt với nghịch cảnh, trong ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn.

Đừng bao giờ để thất bại quật ngã mà hãy để nó trở thành thầy dạy của chúng ta. Đây chính là bí quyết để thành công. Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu hàng. Thomas Edison đã nói: “Tôi không bao giờ nản chí vì đối với tôi mỗi một nỗ lực không thành công là một bước tiến bộ”.

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT SỐNG


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 18, 2009 in NGHỆ THUẬT SỐNG

 

Nhãn: , , , ,

KHÔNG BAO GIỜ QUÁ TRỄ

Không bao giờ là quá trễ

Dan Clark

Ngày đầu tiên ở trường, sau khi giáo sư tự giới thiệu với bọn sinh viên lớp Hóa chúng tôi, ông đố chúng tôi xem trong lớp có gì lạ. Tôi đứng lên và nhìn xung quanh, đang như thế thì bỗng có một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên vai. Tôi quay lại và thấy một bà già nhỏ bé, nhăn nheo đang mỉm cười – một nụ cười bừng sáng.

Bà nói: “Chào cậu trai. Tên tôi là Rose. Tôi tám mươi bảy tuổi. Tôi bắt tay cậu một cái được không?”

Tôi cười to và vui vẻ đáp lại: “Dĩ nhiên rồi!” và thế là bà cụ bắt tay tôi một cái rõ chặt.

– Sao bà lại đi học vào cái tuổi còn quá ngây thơ này? – tôi đùa.

Bà cũng đùa lại:

– Tôi tới đây tìm một người chồng giàu có, làm đám cưới, có thêm vài đứa nhóc, rồi nghỉ hưu và đi du lịch.

“Ối, bà hài hước thật!” Tôi thực sự tò mò muốn biết cái gì đã thúc đẩy bà cụ đi thử sức vào cái tuổi này.

– Tôi luôn mơ ước được đi học đại học, và bây giờ thì tôi được đi học đây!, bà cụ nói.

Sau buổi học, chúng tôi đi về hội quán sinh viên để làm một ly socola nóng. Chúng tôi thành bạn ngay, và chỉ sau ba tháng sau là đã cùng nhau tan lớp, trên đường về nói chuyện với nhau không dứt. Tôi luôn luôn thích thú lắng nghe “cỗ máy thời gian” này, nghe bà chia sẻ những kinh nghiệm và những triết lý thâm thúy về cuộc đời.

Trong năm đó bà Rose đã trở thành biểu tượng của trường tôi. Bà kết bạn ở bất cứ nơi nào bà đến chơi. Bà thích ăn mặc lịch sự trước mọi người.

Cuối học kỳ, chúng tôi mời bà Rose đến nói chuyện trong một bữa tiệc của đội banh, và tôi không bao giờ quên được những gì bà đã nói với chúng tôi. Bà giới thiệu trang trọng và bước lên bục nói. Bà mỉm cười và nói: “Chúng ta không nên ngừng hoạt động. Có bốn bí quyết để được trẻ, được hạnh phúc, và đạt được thành công. Ðó là:

“Bạn phải cười và tìm thấy một chuyện vui, hài hước mỗi ngày.”

“Bạn phải có một ước mơ cho mình. Khi không còn ước mơ nữa, ấy là bạn đã chết. Có bao nhiêu người quanh chúng ta, tuy đi đi lại lại đó mà không biết mình đã chết”.

“Có một sự khác biệt khổng lồ giữa già đi và trưởng thành. Nếu bạn 19 tuổi và nằm trọn trên giường trọn một năm, không làm được một sản phẩm nào cho đời, bạn sẽ già đi thành người hai mươi tuổi. Ai thì cũng phải già đi cả. Không cần tài năng, không cần năng lực gì, bạn cũng già đi được. Trong khi đó, bạn không già đi, mà bạn chỉ trưởng thành, nếu biết tìm ra trong sự thay đổi những cơ hội để trải nghiệm.”

“Cuối cùng, không hối tiếc. Bọn lớn tuổi chúng tôi thường không tiếc những gì mình đã làm, mà chúng tôi chỉ tiếc những gì mình chưa làm. Chỉ những người còn mang hối tiếc mới là người sợ chết.”

Bà kết thúc bằng cách hát cho chúng tôi nghe bài “Ðóa hồng”. Bà “thách” chúng tôi học thuộc lời ca và sống như lời bài hát đó.

Rồi một cuối năm, trước lễ tốt nghiệp chừng một tuần, bà Rose ra đi thanh thản sau một giấc ngủ dài. Hơn hai ngàn sinh viên của trường đã đến dự lễ tang của bà cụ – bạn đồng môn đã dạy cho chúng tôi bài học: không bao giờ là quá trễ để thực hiện điều mình ao ước.

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT SỐNG


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 18, 2009 in NGHỆ THUẬT SỐNG

 

Nhãn: , , , ,

6 HÌNH ẢNH NGƯỜI CHA

6 hình ảnh người cha

Đoàn Công Lê Huy

1. Có một người cha giữ hai cuốn nhật ký viết về con gái. Trong đó có một cuốn anh viết khi con đang còn trong bụng mẹ. Chín tháng mười ngày trải dài trong 100 trang viết khắc khoải mong chờ đứa con đầu lòng.

2. Có một người cha giữ một kỷ vật trong hộp đồ nữ trang gia bảo. Đó là một miếng kẽm hình tròn có đục lỗ đeo dây. Trên cả hai mặt đều ghi chữ số 34. Ít ai biết vật này có giá trị gì mà anh sợ mất nó hơn bất cứ món nữ trang quý giá nào.

Những ngày đầu con gái chào đời là những ngày anh phấp phỏng “lẻn” vào phòng sơ sinh mỗi ngày chục bận, để âu lo dòm vào đứa bé mỏng mảnh đang nằm trong lồng kính và chưa chịu mở mắt. Đứa bé mang số 34. Và những lần cô hộ lý đưa con anh đi tắm là một lần anh mong ngóng hồi hộp nhìn con số 34 để biết chắc rằng con anh không bị “lạc”. Ngày đón con từ bệnh viện về, khi thay áo cho con gái, anh mừng rú lên khi thấy người ta bỏ quên “vật báu” 34 vẫn còn đeo ở cánh tay con. Anh biết đó sẽ là vật quí còn theo anh mãi mãi.

3. Có một người cha khắc những vết khắc lên cột, vạch những vạch vôi lên tường để đo con gái lớn dần trong niềm vui và nỗi lo. Những vết khắc, vạch vôi là những bức tranh nhân bản đẹp tuyệt vời trong bất cứ ngôi nhà nào.

4. Có một người cha cứ trồng thêm một cây khi con thêm một tuổi. Và vườn cây cho con gái cứ nhiều lên trong hạnh phúc đớn đau của người cha khi nghĩ về cái ngày con lên xe hoa về nhà người khác.

5. Tất cả những việc tưởng chừng như “ngớ ngẩn” của người cha dành cho con, để làm gì?

Để một ngày kia con về cùng hạnh phúc

Ba đôi lúc nhìn quanh cho đỡ nhớ nhà mình

Đó là câu thơ của một nhà thơ, anh đã giải thích hộ cho mọi người cha yêu con gái. Rằng đối với cha, con gái có ý nghĩa thân thiết ngự trị vào tất cả là gia đình, là ngôi nhà. Đến mức nếu không còn có con trong ngôi nhà này thì có nghĩa là ngôi nhà cũng không còn, đã xa lạ như nhà của người khác mất rồi. May mắn sao những kỷ vật kia, những vạch vôi, vết khắc kia, “vườn cây-con gái” kia là hiện thân của con qua năm tháng, vẫn còn ở lại. Và thế là cha nhìn quanh, nhìn lên những “hiện thân” ấy để gặp lại một chút nhà mình, cho đỡ nhớ nhà mình.

6. Một ngày nọ vào bệnh viện, thấy một cô bạn gái đang đút cháo cho bố ăn, tôi chợt thấy thảng thốt với câu nói của nhà thơ Thanh Tịnh “Bố cho con ăn, con cười, bố cười. Con cho bố ăn, bố khóc, con khóc”. Mới thấy vòng đời ngắn ngủi làm sao!

Mỗi người đều lưu giữ trong tim hình ảnh một người cha. Hình ảnh thứ 7, thứ 8, thứ 7 tỉ xin dành cho bạn, cho những ai được may mắn sinh ra trên Trái Đất này

Chiều nay đưa tiễn thân phụ một người bạn về bên kia dương gian, chợt thấy mọi thứ tình yêu đều cần phải vội vàng, đâu cứ chỉ tình yêu lứa đôi. Mau lên chứ vội vàng lên với chứ…

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT SỐNG


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 18, 2009 in NGHỆ THUẬT SỐNG

 

Nhãn: , , , ,

AI BẢO EM KHÔNG LẤY CHỒNG

Ai bảo em không lấy chồng

Sau khi tốt nghiệp đại học, Cổ Lệ Phương không về nhà thăm ba mẹ mà ở lại thành phố tìm việc làm. Lệ Phương đến từ Tây Sương – Hồ Bắc, nhà cô rất nghèo. Để con có thể học hết đại học, gia đình đã bỏ ra thu nhập bằng cả mười năm. Vì thế, cô rất muốn tìm một việc vừa giúp ba mẹ bớt gánh nặng lại có thể có cuộc sống khá hơn chút. Nhưng đã mấy ngày nay, cô chạy đôn chạy đáo khắp nơi từ các xí nghiệp lớn nhỏ đến các hội chợ giới thiệu việc làm mà vẫn không tìm được công việc thích hợp. Bây giờ là lúc sinh viên mới tốt nghiệp đang tranh tìm việc, quả thực mấy hôm nay cô mới nếm trải đựợc cuộc đời.

Lệ Phương tính tìm việc đòi hỏi trình độ thấp hơn chút, chỉ cần có việc là cô sẽ làm.Cô thực sự không còn nhiều thời gian nữa, cũng không thể đợi thêm nữa.

Đựợc sự giúp đỡ của một người bạn, cô được vào làm

công nhân tiện nhà máy lắp ráp cơ khí, lương mỗi tháng 1600 Tệ. Công việc này cũng có chút liên quan tới ngành học thiết kế cơ khí của cô. Sau một tuần làm việc, một ngày nọ cô đựợc giao làm gia công ốc vít. Nhưng khi cầm bản vẽ lên, cô thấy thiết kế có khiếm khuyết.

Thế là cô cầm lấy bản vẽ đi tìm gặp người phụ trách thiết kế kỹ sư Trương Bân. anh ta không đợi cô đề xuất ý kiến gì liền quát mắng: “ Cái quái gì, đợi vài bữa nữa là rõ đúng hay sai. Không cần nói nhiều nữa, cứ theo bản vẽ mà làm, có chuyện gì đâu đến lượt cô chịu trách nhiệm. Anh ta nói xong không thèm nhìn cô lấy một cái bỏ đi luôn làm Lệ Phương lúng túng không biết mình sai chỗ nào. Đương khi Lệ Phương ấm ức vừa khóc vừa từ từ đi về xưởng, đúng lúc gặp xưởng trưởng Âu Dương Vỹ Tụng. Vỹ Tụng là người thành phố, hơn Lệ Phương mấy tuổi. Lệ Phuong vào công ty đều do anh ta sắp xếp công việc. Thấy cô khóc liền hỏi có chuyện gì. Lệ Phương thút thít kể toàn bộ sự việc cho anh ta nghe. Nghe xong, anh ta coi lại tờ thiết kế một lượt rồi nói với cô: “Em à, kiến nghị của em rất đúng, cứ theo cách em sửa mà làm, có gì anh chịu”.

Có người ủng hộ, Lệ Phương trong lòng cảm thấy được an ủi, tạm thời tươi tỉnh trở lại. Cô gắng sức gia công sản phẩm theo bản chỉnh sửa của mình.Sau này, cô cũng mấy lần thấy bản thiết kế có vấn đề, kịp thời báo Vỹ Tụng và đều đựợc anh ủng hộ.

Giám đốc công ty sau khi biết được chuyện này, phá lệ cho cô đảm nhiệm việc thiết kế máy móc, lương cũng tăng lên gấp hai.

Lệ Phương trong lòng rất vui, vui vì những gì mình học cuối cùng cũng được dùng ở nơi này. Tất nhiên cô cũng cảm kích trước sự ủng hộ và giúp đỡ của Vỹ Tụng. Cô coi Vỹ Tụng là người bạn đáng tin cậy nhất của mình. Có tâm sự gì cô đều nói cho anh biết, quan hệ giữa hai người ngày càng gắn bó, tình cảm thêm sâu đậm. Khi tình cảm hai người đã phát triển thành tình yêu, Lệ Phương nhận được một bức thư nặc danh. Trong thư nói Vỹ Tụng là kẻ không tốt, có vợ con rồi lại còn muốn lừa đàn bà con gái, đúng là kẻ lừa đảo. Thư còn kèm theo hình hai vợ chồng bế con, người trong hình đúng là Vỹ Tụng.

Lệ Phương nhận được tấm hình này vô cùng giận dữ, chửi mắng người trong hình một chập. Vỹ Tụng lại tới căn phòng Lệ Phương thuê tìm cô. Thấy anh tới cô quăng tấm hình trước mặt anh. Vỹ Tụng thấy tấm hình sững người lại, mặt biến sắc. Lệ Phương thấy thái độ anh ta như vậy, biết chuyện này là thật. Cô gằn giọng nói : “ Đứa bé đó dễ thương quá nhỉ, xinh đẹp giống mẹ nó quá nhỉ ”.

Vỹ Tụng cầm lấy tấm hình đột nhiên quay đầu lại, nói với cô: “ Em tin điều này là thật sao, lẽ nào tình cảm giữa hai chúng mình lại không bằng một tấm hình vu cáo này ?. Nói rồi anh từ từ bước tới Lệ Anh. Lệ Anh sợ hãi nói: “ Vỹ Tụng anh định làm gì, anh định làm gì ? ”. Cô vừa nói vừa lùi dần.Vỹ Tụng khích động : “ Tôi thì có thể làm gì, tôi hết lòng hết sức giúp cô như thế, vậy mà cô lại không tin tôi, âm thầm điều tra tôi ”. Lệ Phương vừa phân trần vừa tránh sau bức tường : “ Tôi không có điều tra anh, là người ta gửi cho tôi, thật đấy”. Lúc này, bỗng có tiếng bước chân người đi tới, dừng trước cửa, rồi có tiếng gõ cửa đồng thời gọi to: “ Lệ Phương, có bạn học cũ tới tìm”. Lệ Phương vội vàng đáp: “ Vâng, tới liền, tới liền” bèn nhân cơ hội mở cửa chạy ra ngoài.Lệ Phuong chạy xuống lầu dưới, hoàn toàn không thấy bạn học đâu. Cô tìm khắp nơi một lượt vẫn không thấy. Lúc này cô mới thấy Trương Bân cười cười đi lại phía cô, nụ cười hình như hàm chứa điều gì đó. Lệ Phuong lập tức hiểu ra, bèn đứng yên tại chỗ, đợi anh ta tới trước mặt mới hỏi: “ Vừa rồi là anh gọi tôi?” “ Tôi không gọi, là cô chạy ra” Trương Bân vẫn cười cười nhìn cô.“ Thư, là do anh gửi phải không?” cô hỏi. Trương Bân không đáp mà hỏi lại: “ Cô không tin à? ”. Lệ Phương cũng không đáp hỏi vặn: “ Sao phải làm thế”. “ Tôi không muốn cô chịu tổn thương. Đương nhiên tôi cũng có chút lòng riêng vì tôi thích cô ”. Anh ta nói thẳng. Lệ Phương không biết phải nói sao, sau một hồi suy nghĩ cô nói : “ Cám ơn đã giải vây cho tôi”. Nói xong dợm bước đi. “ Nói cảm ơn tôi rồi, lẽ nào không nể mặt đi ăn cơm cùng tôi, có thể tôi không bằng cô trong công việc nhưng cô đi thế này lại không sợ có người đến quấy rầy à? ”. Lệ Phương lưỡng lự dừng bước: “ Thôi được, ăn ở đâu? ”. Trương Bân cười nói: “ Đương nhiên do cô quyết định”. “Vậy thì đi Hỷ Tương Phùng”.

Sau khi ăn cơm, Lệ Phương không về phòng. Trương Bân đưa cô tới nhà nghỉ ở một đêm. Hôm sau, cô không những đổi số điện thoại mà còn đổi phòng. Đây toàn là do Trương Bân giúp cô làm. Lên công ty làm việc cô đi thật nhanh, không muốn gặp Vỹ Tụng. Có lúc gặp thì cô làm lơ giả như không quen biết, vội bỏ đi không cho anh nói một lời. Vỹ Tụng có đến tìm cô mấy lần nhưng cô chẳng màng, quay người bỏ đi. Tất cả điều này tất nhiên không qua mắt được Trương Bân.

Có một hôm, Lệ Phương thấy Vỹ Tụng đến phòng thiết kế, cô tưởng anh tới tìm, vội tránh mặt. Nhưng anh lại đi thẳng vào phòng Trương Bân, không lâu sau hai người họ cùng nhau đi ra.

Sau khi Lệ Phương hết giờ làm về nhà. Không lâu sau, Trương Bân cũng tới. Lệ Phương có chút giận anh ta sau buổi trưa đi ra ngoài với Vỹ Tụng bèn hỏi Trương Bân hôm nay đi đâu với Vỹ Tụng, còn làm việc xấu gì. Trương Bân nhăn mặt nói : “Hai người cùng công ty, anh ta tới vì việc công, nên không thể không đi, muốn tránh mặt anh ta, chỉ có một con đường là hai đứa mình nghỉ việc sang công ty khác làm.”

Lệ Phương nói: “Chúng mình làm việc ở đây rất tốt mà, lương cũng khá, nghỉ việc tìm việc không dễ đâu. Với lại chúng ta đâu có làm gì xấu, sao phải tránh anh ta. Anh ta lo việc ở xưởng, chúng ta lo việc thiết kế, ít gặp mặt, sợ gì chứ”.

Lúc này, ngoài cửa bỗng có tiếng người nói: “ Anh ta muốn đi vì anh ti tiện, sợ gặp bạn bè”. Lệ Phương nghe giọng của Vỹ Tụng, quay mình mở cửa, sẵng giọng: “ Ai cho anh tới đây ? ”. Vỹ Tụng không thèm để ý tới Lệ Phương, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trương Bân:“ Ai để tôi tới đây, hừ. Cô hỏi Trương Bân ấy, là tôi theo đuôi anh ta tới đấy. Lệ Phương không biết có chuyện gì, nhìn Trương Bân đợi anh ta giải thích nhưng anh ta cúi đầu chẳng nói gì.

“Anh ta còn mặt mũi nào nói nữa, hay để tôi nói luôn. Khi cô tới ứng tuyển, thấy cô tôi bèn nhờ Trương Bân nghĩ cách giúp tôi lấy lòng cô. Sau khi việc thành, tôi bằng lòng cho anh ta 10.000 Tệ. Tôi biết cô học thiết kế cơ khí nên mới có chủ ý đưa cô tới xưởng. Anh ta lại cố tình đưa ra bản thiết kế sai để cô thấy, lại không nghe lời cô sửa nó cũng để cho tôi ủng hộ cô sản xuất theo thiết kế của cô. Từ đó làm nổi bật tài năng của cô vì vậy mới được cô tín nhiệm. Tôi cũng đã đưa tiền cho anh ta nhưng không ngờ giám đốc lại biết rồi điều cô đến phòng thiết kế. Anh ta tiếp xúc với cô, cũng thích cô, bèn ngầm viết ra bức thư với tấm hình ấy. Không sai, hình trong đó là tôi nhưng cô gái và đứa bé là chị gái và cháu ngoại tôi.

Tôi chưa từng nghĩ anh ta ti tiện vậy. Hôm đó, khi tôi thấy tấm hình, tức đến nỗi không làm chủ được mình. Sau này tôi nhiều lần muốn giải thích cho cô, nhưng cô không cho tôi một cơ hội nào, chỉ nghe lời ngon ngọt của anh ta, lừa cô xa lánh tôi. Âu Dương Vỹ Tụng tức giận nói.

“Tình yêu của tôi dành cho Lệ Phương là thật, chúng tôi có cùng sở thích, cùng chung tiếng nói, chung công việc”. Trương Bân biện luận.

“Lẽ nào tình yêu của tôi là giả sao ?, Tôi tốn biết bao công sức để chơi thôi à ?”. Vỹ Tụng gào lên.

“Đừng có cãi nhau nữa. Các người toàn loại xấu xa, cút hết cho tôi, cút ngay ”. Lệ Phương cũng gào lên.

Vỹ Tụng và Dương Bân từ từ lủi ra khỏi phòng.

Hôm sau, Lệ Phương xin thôi việc, rời khỏi nơi đã làm cô đau khổ. Cô quyết định trước hết đi chơi cho thư thái rồi về nhà thăm ba mẹ sau đó mới tìm đường khác. Lệ Phương lên tàu về nhà. Trên tàu, cô ngồi lặng lẽ hồi tưởng lại quãng thời gian cô bị Vỹ Tụng – Trương Bân bỡn cợt. “Không, không thể nói là bỡn cợt, nên là…” Lệ Phương nghĩ. Bỗng cô thấy tim đập nhanh mặt đỏ ra, cô mang theo tâm trạng đầy phức tạp về nhà. Lệ Phương vừa bước vào cổng nhà đã bị cảnh tượng trước mắt làm cho rối bời. Cô thấy Vỹ Tụng đang bổ củi trước nhà.

Lệ Phương chạy xộc tới tức giận nói: “ Âu Dương Vỹ Tụng, đồ khốn nạn, khốn nạn! Anh đến nhà tôi làm gì? ”. Vỹ Tụng bị tiếng la của cô làm cho giật mình, anh cúi đầu cười ngượng ngùng: “ Phương à, em đừng nổi nóng, anh thấy em nghỉ việc, anh cũng nghỉ luôn. Khi tìm đến nhà em thấy em vẫn chưa về, anh rất lo, khôn g biết em đi đâu. Nhưng anh biết em nhất định sẽ quay về, vì thế ở nhà đợi em, hà hà, chúng mình thật có duyên.

“Vô lại, mau cút cho tôi”. Lệ Phương hét lên. Cô làm kinh động mọi người trong nhà.

Mọi người lục tục kéo ra, nói: “ Phương, vào đi con, anh ấy đợi con mấy hôm rồi, con la hét gì thế, chả ra sao cả, người ta từ xa đến đây thì cũng coi như khách, có gì từ từ nói”.Lệ phương nén giận, hằn học nhìn Vỹ Tụng một cái rồi vào nhà.

Vỹ Tụng cũng theo sau, vừa nói mình sai, vừa bông đùa : “ Con trai theo đuổi con gái có ba chiêu là tán, lừa và đểu. Ai bảo em không lấy chồng, lại không có bạn trai vì thế đàn ông mới tán, lừa và đểu em cho tới khi nắm được em trong tay. Phương, anh thề, anh thực lòng mến em, tuy lừa dối em cũng là vì yêu em quá, tha thứ cho anh nhá, đều là lỗi của Trương Bân nếu không hai đứa mình sao chia lìa được, phải không nào”.

“ Vỹ Tùng, anh…., được, anh không đi, tôi đi, sáng sớm mai tôi về lại thành phố, tôi thế nào cũng tránh được anh.

“ Được, em đi, anh giúp em gói gém hành lý”

“ Anh, anh, anh thật tính nằm vạ đây à”. Lệ Phương chỉ tay vào Vỹ Tụng.

“ Không, là để em không đi đấy”. Vỹ Tụng nhăn nhở.

Cứ thế, hai người ở trong nhà tranh cãi mấy hôm, làm náo động mấy hôm cũng lại gây tiếp mấy hôm, cuối cùng cũng chẳng biết ai đúng ai sai, ngược lại thấy hai người cùng nhau ra khỏi nhà, cùng làm việc, cùng nhau cầm chày, ở nhà có đến hơn nửa tháng, rồi lại cùng nhau về lại thành phố.

Ai mà thấy được chiêu xỏ lá này của Âu Dương Vỹ Tụng có công hiệu đến thế. Con gái ơi, thực sự khó mà qua nổi ba chiêu sát thủ cua gái này của đàn ông lắm.

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 16, 2009 in truyện ngắn hay

 

Nhãn: , , , ,

BÁ NHA , TỬ KỲ

BÁ NHA , TỬ KỲ

Trích từ Trung Hoa Kim Cổ kỳ Nhân

Thời Xuân Thu Chiến Quốc, tại kinh đô, nước Sở (nay thuộc về phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng) có một người danh sĩ họ Du tên Thụy, hiệu là Bá Nha.

Bá Nha tuy người nước Sở, nhưng lại làm quan nước Tấn đến bực Thượng đại phu. Tấn và Sở thời đó hai nước giao hảo nhau.

Một hôm Bá Nha phụng mệnh vua Tấn sang nước Sở để gắn liền giây thân hữu giữa hai nước cho bền vững thêm. Bá Nha được vua nước Sở trọng đãi, truyền bày yến tiệc đãi đằng rất hậu.

Tuy nhiên, Bá Nha không lấy thế làm vui, vì đã bao năm xa cách đất tổ quê hương, nay lại được trở về, tấm lòng nhung nhớ những kỷ niệm thân yêu xa xưa lâng lâng vao tâm não. Từ mái gia đình đến những cây tòng, cây bá, mới ngày nào mà nay đã vừa một người ôm, cái định luật biến chuyển không ngừng đã phủ một màu tang trên dòng đời xa cũ.

Sau các yến tiệc, Bá Nha đi thăm viếng mộ phần, họ hàng, bè bạn, tấm lòng quyến luyến quê hương càng thấy thiết tha hơn lúc nào hết.

Nhưng vì nhiệm vụ chưa thành, Bá Nha không dám vì thế mà lưu lại nơi đất tổ, phải đành vào triều để từ giã quốc vương trở về nước Tấn.

Vua Sở ban khen rất nhiều vàng bạc, lụa là, gấm vóc, và truyền đem ra một chiếc thuyền rất lớn để đưa Bá Nha về nước. Bá Nha là một khách phong lưu, lỗi lạc, trong tâm hồn chứa đựng một nguồn tình cảm thanh cao, coi cảnh vật thiên nhiên như một món ăn tinh thần bất tận.

Một hôm, thuyền đến cửa sông Hán Dương, gặp lúc trăng thu vằng vặc, trời rộng sao thưa, Bá Nha truyền cắm thuyền dưới chân núi để vui với cảnh đẹp hải hồ. Mặt nước sông lúc bấy giờ trong vắt như miếng thủy tinh, gió lộng trăng ngàn bập bềnh sóng vỗ. Bá Nha truyền cho đồng tử đốt lư trầm và lấy túi đàn đặt lên trước án.

Bá Nha mở tới gấm, nâng cây Dao cầm đặt ngay ngắn rồi thử  giây.

Hơi trầm quyện gió, réo rắt đưa tiếng đàn vút tận trên không.

Trong lúc đang hứng thú, bỗng tơ đồng đứt mất một dây, Bá Nha thất kinh tự nghĩ : “Dây đàn đứt ắt có người quân tử đang nghe nhạc đâu đây ?” Bèn truyền tả hữu lên bờ xem thử  kẻ nào đã nghe đờn mà không ra mặt?

Tả hữu vâng lịnh vừa toan bước vào bờ, thì từ bên trên có tiếng người nói vọng xuống:

– Xin Đại nhân chớ lấy làm lạ, vì kẻ tiểu dân kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây nghe tiếng đàn tuyệt dịêu nên chân bước không đành đó thôi.

Bá Nha vừa cười vừa nói:

– Người tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đờn trước mặt ta, thật là kẻ cuồng vọng. Nhưng thôi, hãy cho hắn đi!

Từ bên trên lại có tiếng vọng xuống đáp:

– Đại nhân nói như thế là sai ! Đại nhân nghe câu : “Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín” đó sao? (Trong cái ấp mười nhà ắt có người trung tín). Trong nhà có người quân tử ở thì ngoài cửa có người quân tử đến. Vả lại nếu Đại nhân khinh rằng trong chốn núi non quê mùa không có người biết nghe nhạc, thì tiếng đàn tuyệt diệu của Đại nhân cũng không nên gảy lên ở đây làm gì?

Nghe câu trả lời ấy Bá Nha hơi ngượng, biết mình đã lỡ lời, liền vội vã bước ra trước mũi thuyền hỏi:

– Nếu kẻ trên bờ quả thật là một người biết nghe đờn thì đây ta hỏi thử, vậy chớ ta vừa khảy khúc gì đó?

Giọng nói trên bờ vẫn bình thản vọng xuống:

– Đó là khúc “Khổng Vọng Vi” than cái chết của Nhan Hồi, nhưng vì bị đứt dây nên mất một câu chót. Khúc ấy như vầy:

Khả tích Nhan Hồi mệnh tảo vương

Giáo nhân tư tưởng, mấn như sương !

Chỉ nhân lậu hạng, đan, biểu lạc,

Còn khúc chót như vầy:

Lưu đắc hiền danh vạn cổ cương

Dịch :

Khá tiếc Nhan Hồi sớm mạng vong

Tóc sương rèn đúc lấy nhơn tâm !

Đan, biểu ngõ hẹp vui cùng đạo,

Danh tiếng lưu truyền vạn cổ niên.

Bá Nha nghe xong lòng mình phất phới, vội vã sai kẻ tùy tùng bắc cầu lên bờ để triệu thỉnh người lạ mặt xuống thuyền tâm sự.

Bọn đầy tớ tuân lệnh, song bọn này là những đứa phàm tục, những con mắt thịt ấy đâu phân biệt được kẻ quà người hiền, chúng quen thói xua bợ, hễ thấy người sang trọng thì thưa bẩm, thấy kẻ nghèo kó thì khinh khi, thấy chủ mình sai đòi một người tiều phu nón lá, áo vải, tay cầm đòn gánh, lưng giắt búa cùn, chân đi giày cỏ, chúng lên mặt hống hách, nạt nộ:

– Hãy đi xuống thuyền ngay, và phải giữ lễ. Hễ thấy lão gia phải sụp lạy, lão gia có hỏi gì thì phải lựa lời mà nói kẻo mất đầu đó!

Người tiều phu vẫn thản nhiên như không nghe lời nói của chúng, từ từ bước xuống thuyền, bỏ đòn gánh và chiếc búa cùn nơi mũi thuyền, rồi bước vào yết kiến Bá Nha.

Trông thấy Bá Nha, người tiều phu chỉ xá dài mà không lạy.

Bá Nha thấy thế cũng ngạc nhiên, song cũng đưa tay chào đón, nói:

– Thôi, xin hiền hữu miễn lễ cho.

Rồi như muốn thử tài năng người tiều phu xem thực chất đến đâu, Bá Nha sai đồng tử nhắc ghế mời tiều phu ngồi lại bên mình và hỏi:

– Hiền hữu biết nghe đờn chắc là biết ai chế ra cây Dao cầm, và biết chơi đàn có những thú gì chớ?

Gã tiều phu mỉm cười đáp:

– Đại nhân đã hỏi đến, chẳng lẽ tiểu dân không nói ra những cái mình biết. Xưa kia vua Phục Hy thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng, và chim Phượng Hoàng đến đó đậu, nhà vua biết ngô đồng là thứ gỗ quý, hấp thụ tinh hoa của trời đất, có thể dùng nó chế làm nhạc khí được, liền sai người hạ xuống cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được. Vua bèn đem ngâm nơi giữa dòng nước chảy bảy mươi hai ngày, đoạn đem phơi trong mát chờ cho thật khô, lựa tay thợ khéo là Lưu Tử Kỳ chế thành cây Dao cầm.

Dao cầm dài ba thước, sáu tấc, một phân, án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám tấc án theo tám tiết; mặt sau rộng bốn tấc, án theo bốn mùa; bề dày hai tấc án theo lưỡng nghi. Đàn ấy gồm mười hai phím, tượng trưng cho mười hai tháng trong một năm, lại có một phím nữa, tượng trưng cho tháng nhuần, trên mắc năm dây án theo ngũ hành, trong tượng ngũ âm: cung, thương, dốc, vũ, chủy. Trước kia vua Thuấn khảy đàn ngũ huyền, thiên hạ thái bình. Châu Văn Vương ở tù Dũ Là, Bá ấp Khảo thương nhớ, thêm một giây oán gọi là dây văn huyền (dây văn). Lúc Vũ Vương đánh vua Trụ, trước ca, sau múa thêm một dây phẩn kích để phấn khởi gọi là dây vũ huyền (dây vũ). Như vậy trước kia có năm dây, sau thêm hai dây nữa là thất huyền cầm.

Đàn ấy có sáu “kỵ” và bảy “không”. Sáu “kỵ” là kỵ rét lớn, nắng lớn, gió lớn, tuyết rơi lớn; gặp lúc ấy người ta không dùng, còn bảy “không” là không đàn đám tang, không đàn trong lúc lòng nhiễu loạn, không đàn trong lúc bận rộn, không đàn trong lúc thân thể không sạch, không đàn trong lúc y quan không tề chỉnh, không đàn trong lúc không đốt lò hương, không đàn trong lúc không gặp tri âm.

Lại còn có thêm tám “tuyệt” là : thanh, kỳ, u, nhã, li, tráng, lu, trường. Trong tám tuyệt ấy gợi đủ cả các tình cảm, vì vậy tiếng đàn có thể đi đến tuyệt vời vậy.

Bá Nha nghe nói biết người tiều phu là bậc kỳ tài, đem lòng kính trọng hỏi:

– Hiền hữu quả là một người tinh thông nhạc là. Trước kia Khổng Tử đang gảy đờn Nhan Hồi bước vào thoảng nghe có tiếng u trầm, biết lòng Khổng Tử có à tham sát, nên lấy làm lạ hỏi ra mới biết Khổng Tử đang đờn, thấy một con mèo bắt chuột nên à niệm ấy xuất lộ ra tiếng tơ đồng. Vậy thì trước kia Nhan Hồi nghe tiếng đờn mà biết lòng người, còn hiền hữu ngày nay nghe ta đờn có biết lòng ta đang tư lự gì chăng?

Người tiều phu đáp:

– Xin Đại nhân cứ khảy cho tôi nghe một khúc, nếu may ra có cảm thông được thì đó cũng là điều may mắn.

Bá Nha nối dây đờn, gảy khúc “à tại non cao”. Tiều phu mỉm cười nói:

– Tuyệt thay ! à chí cao vút ! à tại non cao…

Bá Nha nghe nói ngưng đàn, lấy lại tâm hồn gảy thêm khúc: “à tại lưu thủy”. Tiều phu cũng cười và nói:

– Bao la trời nước, thật là một khúc: à tại lưu thủy ! tuyệt hay!

Thấy tiều phu biết rõ lòng mình, Bá Nha thất kinh, khâm phục khôn cùng, mời người tiều phu ngồi lên trên, khiến kẻ tả hữu dâng trà, rồi bày tiệc rượu hai người đối ẳm.

Trong lúc uống rượu, Bá Nha cung kính, chấp tay hỏi:

– Dám hỏi tiên sinh, quà danh và quà quán?

Người tiều phu cũng đứng lên đáp lễ, rồi nói:

— Tiểu dân họ Cung tên Tử Kỳ, ngụ tại thôn Tập Hiền gần núi Nhã Yến. Còn Đại nhân chẳng hay cao danh, quà tánh, và hien trấn nhận nơi nào?

Bá Nha kính cẩn đáp:

– Tiện quan họ Du tên Thụy, tự Bá Nha, nhân vì có công vụ nên đến nơi này. Xét mình tài hèn đức thiếu không xứng đáng với lộc nước ơn vua, còn tiên sinh tài năng xuất chúng, học vấn cao siêu, lẽ ra phải xuất thân đoạt lấy công danh, phò vua giúp nước, lưu danh muôn thuở sao tiên sinh lại cam ẩn dật nơi chốn núi non này mà làm gì?

Tử Kỳ nói:

– Tôi còn cha mẹ già, không có anh em, phận làm con phải lo đến chữ hiếu, dẫu cho công hầu bá tước cũng không thể đổi lấy một ngày hiếu dưỡng của tôi được.

– À ! Ra tiên sinh là người chí hiếu, trong đời khó có ai mà sánh kịp như vậy. Chẳng hay tiên sinh năm nay được bao nhiêu tuổi?

Tử Kỳ đáp:

– Tiểu dân hai mươi bảy tuổi.

Bá Nha vồn vã nói:

– Tiện quan hơn tiên sinh một tuần (mười tuổi), nếu tiên sinh không chê đức mọn tài hèn thì xin kết làm anh em để khỏi phụ cái nghĩa tri âm mà đời tôi chưa từng được gặp.

Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:

– Thưa Đại nhân, Đại nhân là một bậc công khanh thượng quốc, còn tôi là kẻ áo vải quê mùa, năm tháng ra vào nơi sơn lâm cùng cốc, đâu dám cùng với đại quan so vai, kết bạn, xin đại quan miễn cho.

Bá Nha nghe Tử Kỳ nói vậy, lòng bồi hồi mặt buồn rười rượi năn nỉ:

– Giá trị con người không phải ở chỗ giàu sang phú quà, mà là chỗ đức hạnh tài năng, nay nếu tiên sinh chịu nhận làm anh em với tôi thì thực là vạn hạnh, còn như giàu nghèo, sang hèn, chúng ta không nên nói tới.

Nói xong Bá Nha sai kẻ tả hữu gây lại lò hương, rồi cùng Tử Kỳ lạy tám lạy, nhận nhau làm anh em khác họ.

Bá Nha lớn tuổi hơn, làm anh. Hai người vui vẻ ngồi kề nhau đối ẳm. Nỗi lòng tâm sự của một khách phong trần với một người chung đỉnh được hoàn toàn cởi mở vượt qua những cái giả dối đê hèn của cuộc sống loài người, để trở lại với cái thiên chân thuần túy.

Hai người chuyện trò mãi mà không biết chán, đến khi ánh trăng đã lạt màu, sao trên trời chỉ còn sót lại một vài đóm trắng, tiếng gà eo óc đầu thôn dục bóng bình minh, hai người vẫn còn như đắm say trong tình giao cảm, quên hẳn cả thời gian. Khi tên thủy thủ đến gần xin lệnh cho thuyền lên đường, Tử Kỳ đứng dậy cáo biệt. Bá Nha giọng run run, nhìn Tử Kỳ nói:

– Lòng tôi quá cảm mộ, chưa nỡ rời hiền đệ, vậy mời hiền đệ cùng đi với tôi qua một đoạn đường, để du sơn du thủy và trò chuyện cùng nhau cho cạn mối tâm tình.

Tử Kỳ bùi ngùi đáp:

– Lẽ ra tiểu đệ phải đưa tiễn hiền huynh vài dặm mới phải, ngặt vì cha mẹ của tiểu đệ Ở nhà đang trông, xin hiền huynh thứ lỗi.

Bá Nha nói:

– Vậy thì hiền đệ về nhà xin với song đường qua Tấn Dương thăm chơi, chắc bá phụ và bá mẫu cũng không nỡ từ chối.

Tử Kỳ nói với giọng luyến tiếc:

– Tiểu đệ không dám phụ lời hiền huynh, song việc này không dám hứa chắc; vì vạn nhất, nếu tiểu đệ không xin phép được thung đường thì thành ra thất hứa với hiền huynh, ấy là tội của tiểu đệ rất lớn!

Cảm lòng hiếu thảo của Tử Kỳ, Bá Nha nói:

– Hiền đệ thực là một bậc quân tử; nếu vậy thì thôi để tôi sẽ tìm cách đến thăm tiểu đệ.

Tử Kỳ hỏi:

– Bao giờ hiền huynh sẽ ghé lại thăm tiểu đệ?

Bá Nha tính đốt tay một lúc rồi nói:

– Sang năm, cũng đúng vào ngày này.

Tử Kỳ nói:

– Nếu vậy thì sang năm cũng đúng vào ngày này tiểu đệ xin đợi hiền huynh nơi gành đá.

Tử Kỳ nói xong, toan cáo biệt, Bá Nha giữ lại, và nói:

– Hãy khoan, hiền đệ thư thả một chút đã.

Dứt lời, Bá Nha quay lại sai đồng tử lấy ra hai nén vàng ròng, rồi hai tay nâng cao lên trước mặt, nói:

– Đây là món lễ mọn của ngu huynh làm quà cho bá phụ và bá mẫu, tấm tình cốt nhục, hiền đệ chớ nên chối từ.

Cảm tình tri ngộ, Tử Kỳ không dám từ chối, nghẹn ngào cầm hai nén vàng, lệ tràn khóe mắt, bùi ngùi ra đi.

Bá Nha tiễn đến đầu thuyền nắm tay Tử Kỳ không nỡ rời.

Xưa nay có cuộc chia ly nào mà không ngậm ngùi giữa kẻ ở, người đi, huống chi tình bạn tâm giao, nỗi lòng chưa cạn, Bá Nha cứ nhìn theo, nhìn mãi cho đến lúc Tử Kỳ đi khuất mới cho nhổ neo.

Dọc đường Bá Nha lâng lâng nhớ tiếc, đăm đăm đôi mắt về một phương trời, nên mặc dầu trời trong gió mạt, cảnh đẹp muôn vàn mà đối với Bá Nha lúc ấy như thờ ơ lạnh nhạt.

Về đến kinh đô, Bá Nha vào yết kiến vua Tấn để nhận lấy những lời ban khen của cửu trùng.

… Thời gian lặng lẽ trôi như một dòng sông êm ả…

Mới ngày nào, gió thu rào rạc tiếng sáo biệt ly còn văng vẳng bên tai, thế mà thoắt đã một năm qua; ngọn gió heo may từ miền bắc cực thổi về báo hiệu lại một mùa thu nữa, đến…

Bá Nha nhớ lại ngày mình ước hẹn, vội vã vào triều xin vua Tấn cho nghỉ phép về Sở thăm nhà.

Vua Tấn nhậm lời. Bá Nha sửa soạn cây đờn, đem vài tên đồng tử rồi lặng lẽ xuống thuyền ra đi…

Khi đến Hán Dương, vừng kim ô đã ngã bóng xuống lòng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút.

Bọn thủy thủ vào báo cho Bá Nha biết thuyền đã đến núi Mã Yên. Bá Nha lập tức ra đứng nơi mũi thuyền xem cùng bốn phía, nhận ra nơi đây, quả là nơi đã gặp Tử Kỳ năm trước.

Sau khi hạ lệnh cắm thuyền, Bá Nha vẫn đứng trông về phía núi Mã Yên, đỉnh núi cao hun hút, mịt mờ trong màn sương xám của hoàng hôn gợi lên một cái gì xa vắng.

Bá Nha nghĩ bụng:

– Năm ngoái vì tiếng đàn mà gặp được tri âm, năm nay ta đờn một khúc nhạc nữa hẳn Tử Kỳ nghe tiếng phải lần đến.

Tối hôm ấy, Bá Nha sai tiểu đồng lấy cây Dao cầm ra, đốt lò hương vặn phím, đem hết tinh thần nhớ nhung xây thành một khúc nhạc tâm tư. Khi đang đờn bỗng thấy trong tiếng đờn mình có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha thất kinh, dừng tay lại, suy nghĩ : “Cung thương có tiếng ai oán thê thảm như thế, hẳn Tử Kỳ gặp nạn lớn rồi. Sáng mai ta phải lên bờ dò hỏi mới được”.

Đêm ấy, Bá Nha nằm thổn thức với ngọn đèn mờ, suốt canh trường không chợp mắt ; nỗi lòng nhớ nhung bồi hồi rào rạc dâng lên như nhịp sóng trầm bất tận của mặt tràng giang.

Trời chưa sáng, Bá Nha đã truyền cho đồng tử theo mình lên bờ, đem theo cây đàn và mười thẻ vàng, nhắm chân núi Mã Yên thẳng tới.

Ra khỏi triền núi, hai bên cây cối um tùm, và có mấy con đường băng ngang rất lớn; Bá Nha không biết đi con đường nào, bèn ngồi nghỉ chân nơi một tảng đá, đợi có người nào đi ngang qua sẽ hỏi thăm.

Một lúc sau, có một ông lão tay xách giỏ mây, tay cầm gậy trúc xăm xăm đi tới.

Bá Nha cúi mình thi lễ.

Ông già thấy thế hỏi:

– Tiểu sinh có điều gì cần hỏi han chăng?

Bá Nha cung kính đáp:

– Thưa lão trượng, trong mấy con đường này, đường nào về Tập hiền thôn?

Ông già đáp:

– Cả hai con đường, đường nào cũng về Tập hiền thôn cả. Con đường tay phải về Thôn thượng Tập hiền, còn con đường bên trái về thôn hạ Tập hiền. Vậy tiên sinh cần đến thôn nào?

Bá Nha hỏi:

– Thưa lão trượng, Chung Tử Kỳ ở về thôn nào?

Vừa nghe nhắc đến ba tiếng Chung Tử Kỳ, ông già kia bỗng sa sầm nét mặt, đôi mắt sâu ngòm động đầy cả lệ, thứ lệ đặc và mặn chầm chậm tràn ra trên đôi má nhăn nheo, ông ta sụt sùi kể:

– Chung Tử Kỳ chính là con của lão. Năm ngoài cũng vào ngày này tháng này nó đi đốn củi về muộn, có gặp một người nước Tấn là Bá Nha tiên sinh. Vì chỗ đồng thanh tương ứng hai người kết nghĩa anh em. Lúc ra đi, Bá Nha tiên sinh có tặng cho con tôi hai nén vàng; con tôi về nhà dùng tiền ấy mua sách đọc, bất kể giờ khắc. Vì ban ngày đốn củi mệt nhọc, tối đến lại lo học hành nên chẳng bao lâu bị bịnh lao mà qua đời rồi.

Chưa kịp nói hết câu, đôi dòng nước mắt của Bá Nha đầm đìa trào ra như hai dòng suối. Bá Nha nghẹn ngào không nói được nửa lời.

Chung lão thấy thế lấy làm lạ hỏi tên tiểu đồng:

– Tiên sinh đây là ai vậy?

Tiểu đồng đáp:

– Thưa lão trượng, đây là quan Thượng đại phu nước Tấn, Du Bá Nha đó!

Chung lão nghe nói thốt ra hai tiếng “ối trời” rồi cũng nghẹn ngào không nói gì được nữa. Cả hai người chỉ nhìn nhau, và thông cảm nhau bằng những giòng nước mắt, hai thứ nước mắt khác nhau nhưng chảy cùgn một nhịp chung nhau một mối đau đớn.

Cuối cùng, Chung lão gượng gạo thi lễ và nói:

– Mong ơn Đại nhân không chê cảnh bần tiện. Con lão lúc lâm chung có dặn, vì lúc sống không tròn được đạo làm con, lúc chết xin chôn nơi chân núi Mã Yên để trọn nghĩa tâm giao với lời ước hẹn cùng quan Đại phu nước Tấn. Vì thế theo lời trăn trối, lão đã đem chôn nói nơi bên ven đường ở chân núi. Con đường tiên sinh đi đến, bên mặt có nấm đất con, đó là ngôi mộ của con tôi đó. Nay mới vừa đúng một trăm ngày, lão mang vàng hương đến thăm mộ, mới gặp tiên sinh ở đây.

Bá Nha lau nước mắt nói:

– Sự đời biến đổi, may rủi khó lường, nay đã đến nỗi này, tôi xin theo lão trượng đến trước mộ phần, để lạy vài lạy cho thỏa tình mong nhớ.

Nói xong, Bá Nha sai tiểu đồng xách giỏ cho Chung lão, rồi cùng nhau kẻ trước người sau, trở lại nơi chân núi.

Khi đến nơi, Bá Nha thấy nấm đất bên đường cỏ xanh chưa kín, lòng gợi lên một mối thê lương. Bá Nha vừa khóc vừa lạy, tuy miệng không nói được nửa lời mà trong lòng như đã nói tất cả nỗi hờn biệt ly.

Lạy xong, Bá Nha truyền đem cây đờn đến rồi ngồi trên một tảng đá, tấu lên một khúc nhạc “thiên thu trường hận”.

Bỗng thấy gió nhàn rít mạnh, ánh sáng u buồn, mấy tiếng chim kêu u uất vọng lên từ xa như những hồn ma bóng quế dật dờ khi say khi tỉnh.

Bản nhạc ngưng, gió ngừng thổi, trời lại sáng dần.

Bá Nha nói với Chung lão:

– Có lẽ hồn Tử Kỳ đã hiện về đó ! Chẳng hay lão bá có biết cháu đờn khúc gì đó không?

Chung lão đáp:

– Lúc nhỏ lão cũng có biết chút ít về cầm tháo, nhưng nay tuổi đã già, tâm thần hỗn loạn không có thể phân định được khúc gì.

Bá Nha nói:

– Cháu vừa đờn khúc đoản ca để viếng người tri âm, tài hoa mệnh yểu.

Bá Nha bỗng hai tay cầm câu đờn đưa lên cao đập mạnh xuống tảng đá. Cây đờn vỡ ra từng mảnh, trục ngọc, phím đồng rời rã tơi bời. Chung lão hoảng kinh hỏi:

– Sao tiên sinh giận gì mà lại đập cây đờn đi vậy?

Bá nha đọc luôn bốn câu thơ để đáp lời ông lão:

Dao cầm đập nát đau lòng phượng,

Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai ?

Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn.

Muốn tìm tri âm, thật khó thay!

Chung lão thở dài nói:

– Chỉ vì không có người biết nghe mà kẻ đờn hay phải đành thất vọng!

Bá Nha hỏi:

– Lão bá ở thôn Tập hiền nào?

Chung lão đáp:

– Tệ xá ở nơi thôn Tập hiền thượng, vậy mời đại nhân, nếu không chê nghèo nàn, xin đến đó nghỉ ngơi.

Bá Nha nói:

– Hạ quan xin cảm ơn lão bá, nay nếu hạ quan có trở về đó cũng chỉ gợi thêm nhiều mối nhớ nhung mà thôi. Nhân dịp hạ quan có đem theo mười nén vàng, xin dâng cho lão bá dùng một nửa trong việc cung dưỡng tuổi già, còn một nửa mua mấy mẫu ruộng để làm tự cho Tử Kỳ. Mai hạ quan về triều dâng biểu cáo quan trở về quê cũ, chừng ấy hạ quan sẽ rước bá phụ, bá mẫu về sống chung để yên hưởng những ngày tàn. Tôi tức là Tử Kỳ và Tử Kỳ cũng tức là tôi vậy.

Nói xong Bá Nha hai tay dâng mười nén vàng cho Chung lão, sụp xuống đất lạy mấy lạy rồi ra đi. Chung lão đứng nhìn theo, lòng bùi ngùi luyến ái…

MỤC LỤC – TRUYỆN NGẮN HAY


 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 5, 2009 in truyện ngắn hay

 

Nhãn: , , , ,

BA CHÚC CON ĐỦ

BA CHÚC CON ĐỦ

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại mất nhiều thời gian của cuộc đời mình ở các sân bay đến thế .Tôi vừa thích lại vừa ghét việc đó!?!! Tôi thích được ngắm nhiều người. Nhưng đó cũng là lý do tôi ghét :phải nhìn mọi người “chào” và “tạm biệt”. Nó làm tôi xúc đông đến phát mệt.

Cho nên, mỗi khi gặp 1 thử thách trong cuộc sống, tôi vẫn thường ra sân bay thành phố nhìn mọi người “tạm biệt”. Để tôi thấy rằng mình vẫn hạnh phúc khi không phải nói lời chia tay với những người thân yêu của mình. Nhìn mọi người cố níu kéo nhau, khóc… tôi cảm thấy mình còn rất nhiều điều quý giá khác. Những gia đình, những người yêu nhau cuối cùng cũng phải xa cách, nhìn họ sải rộng cánh tay để nắm tay nhau, cho đến khi chỉ còn 2 đầu ngón tay của 2 người chạm vào nhau… đó là những hình ảnh mãi mãi nằm trong tâm trí tôi.

Và tôi cũng học được nhiều điều từ những giây phút “tạm biệt ” đấy.

Có 1 lần, tôi nghe loáng thoáng tiếng 2 cha con đang bên nhau trong những phút giây cuối cùng. Họ ôm nhau và người cha nói: “Ba yêu con, ba chúc con đủ”. Rồi cô gái đáp lại: “Con cũng yêu ba rất nhiều và chúc ba đủ”.

Và cô gái quay đi, tôi thấy người cha cứ đứng nhìn theo, thấy ông ấy muốn và cần khóc. Tôi lại gần, nhưng lại không muốn xen vào giây phút riêng tư của ông ấy nên không nói gì. Bỗng ông quay lại chào tôi và:

– Đã bao giờ anh nói lời tạm biệt với 1 người, và biết rằng mãi mãi không gặp nữa?

– Xin ông cho tôi hỏi, có phải ông vừa vĩnh biệt với con gái ông? Tại sao vậy?

-Tôi già rồi, mà con tôi sống cách tôi đến nửa vòng trái đất – Người cha nói – Thực tế, tôi biết lần sau con tôi quay về đây nhưng lúc đó có thể tôi đã mất.

– Khi tạm biệt con gái ông, tôi nghe ông nói: “Ba chúc con đủ”. Tôi có thể biết điều đó có ý nghĩa gì không?

Người cha già mỉm cười:

– Đó là lời chúc gia truyền của gia đình tôi, đã qua nhiều thế hệ rồi – Nói đoạn ông dừng lại, ngước nhìn lên cao như thể cố nhớ lại từng chi tiết, và ông cười tươi hơn – Khi tôi nói: “Ba chúc con đủ”, tôi muốn chúc con gái tôi có cuộc sống đủ những điều tốt đẹp và duy trì được nó.

Rồi ông lẩm nhẩm đọc:

“Ba chúc con đủ ánh sáng mặt trời để giữ cho tâm hồn con trong sáng. Ba chúc con đủ hạnh phúc để giữ cho tinh thần con luôn sống. Ba chúc con đủ những nỗi đau để biết yêu quý cả những niềm vui nhỏ nhất. Ba chúc con đủ những gì con muốn để con hài lòng. Ba chúc con đủ mất mát để con yêu quý những gì con có. Và ba chúc con đủ lời chào để có thể vượt qua được lời “tạm biệt” cuối cùng.

Ông khóc và quay lưng bưóc đi.

Tôi nói với theo “Thưa ông, tôi chúc ông đủ”

Và các bạn, khi các bạn đã đọc xong mẩu chuyện này, tôi cũng chúc các bạn như vậy. Chúc chúng ta đủ.


KHUYẾT DANH

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT SỐNG



 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 5, 2009 in NGHỆ THUẬT SỐNG

 

Nhãn: , , , , , ,