RSS

Tag Archives: tôn giáo

QUAN NIỆM NGÀY THÁNG TRONG LỄ CƯỚI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC CHĂM BALAMON Ở BÌNH THUẬN

Đồng bào Chăm là một dân tộc thiểu số, sinh sống trên nhiều địa phương khác nhau ở Việt Nam,. Ở tỉnh Bình Thuận dân tộc Chăm có trên 30.000 người với 14.994 nữ, cư trú ở 4 xã thuần thuộc 2 huyện Bắc Bình, Tuy Phong và 9 thôn xen ghép thuộc 4 huyện: Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh và Hàm Tân.

Là một dân tộc thiểu số có trình độ kinh tế, xã hội phát triển khá nhưng vẫn còn lưu giữ yếu tố mẫu hệ rất đậm nét. Vì vậy, nói đến vai trò phụ nữ Chăm, không chỉ đề cập đến lối sống ứng xử, lễ nghi cộng đồng, tập tục, cưới xin, tang ma… mà còn nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, đến yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, đến thiết chế đặc thù của dân tộc dựa trên quan hệ dòng tộc của chế độ mẫu hệ, trong đó, thể hiện rõ nét nhất trên lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Do người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên trong hôn lễ càng có những nét khác biệt hơn so với các dân tộc khác, nhất là về phương diện thời gian (xem ngày, giờ, tháng) tổ chức một lễ nghi trong gia đình cũng như trong dòng tộc. Vì thế, để tổ chức một cuộc hôn lễ, dân tộc Chăm chọn giờ khắc, ngày, tháng rất chu đáo và gần như là cố định. Để thấy rõ hơn chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu quan niệm giờ, ngày, tháng trong lễ cưới theo lịch Chăm Balamôn giáo ở Bình Thuận.

Giờ: Dân tộc Chăm quan niệm rằng, một ngày từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn thì có 8 giờ (nghĩa là có 4 giờ sáng và 4 giờ chiều) và mỗi giờ được tính là một tiếng rưỡi (90 phút). Ban đêm cũng có 8 giờ nhưng chỉ được tính từ 6 giờ đến 12 giờ khuya mà thôi. Còn từ 0 giờ đến 6 giờ sáng thì không được tính, vì theo dân tộc Chăm đó là thời gian Âm – Dương phối hợp gặp nhau, sẽ không có những điềm lành.

Ngày: Đối với ngày của người Chăm, một tuần lễ được chia làm 7 ngày, tên gọi các ngày cụ thể như:

*Thon: Thứ hai;

*Angar: Thứ ba;

*But: Thứ tư;

*Jip: Thứ năm;

*Suk: Thứ sáu;

*Thanưgar: Thứ bảy;

*Adit: Chủ nhật.

Tháng: Theo lịch Chăm trong một năm cũng gồm 12 tháng. Những tháng lẻ 1,3,5,7,9,11 thì có 30 ngày. Những tháng chẵn: 2, 4, 6, 8, 10, 12 thì có 29 ngày.

Căn cứ vào thời gian đã trình bày ở trên, người Chăm quan niệm ngày, tháng và tổ chức lễ cưới như sau:

+ Trong hôn nhân, phụ nữ là người chủ động đến hỏi và cưới chồng. Thông thường hôn lễ được cử hành vào buổi chiều của thứ tư trong tuần, lại là ngày âm chẵn thuộc các tháng 3, 6, 10, 11 chăm lịch (thường nhằm vào tháng 1, 6, 10, 12 Dương lịch). Vậy thì tại sao dân tộc Chăm lại tổ chức hôn lễ vào buổi chiều của ngày thứ tư trong các tháng 3,6,10,11 chăm lịch?. Bởi họ quan niệm rằng, buổi chiều là thuộc về Âm – Dương, tượng trưng cho tuổi về già, sống với nhau lâu dài và hạnh phúc.

Riêng thứ tư, đó là một ngày giữa tuần (ngày âm chẵn giữa tuần lệ thứ sáu). Đây là ngày mà Âm – Dương gặp nhau, một ngày mà tình cảm giữa vợ và chồng hòa hợp, hạnh phúc. Đồng thời cũng là một ngày thuộc về đất nẻ, nghĩa là một thứ đất có nhiều màu mỡ dùng để trồng trỉa hoa màu, cây cối. Vì thế, nếu tổ chức đúng vào ngày trên thì sau này vợ chồng sẽ “con đàn cháu đống”, gia đình sum họp, hạnh phúc. Đặc biệt, người Chăm còn quan niệm, thứ tư như là một con người và lấy rốn làm trung tâm. Nghĩa là trên cơ thể con người từ đầu, cổ đến ngực tượng trưng cho ngày chủ nhật, thứ hai, thứ ba, đây là phần làm nghĩa vụ lớn cho cha mẹ. Còn dưới rốn trở xuống bàn chân tượng trưng cho thứ năm, thứ sáu, thứ bảy là phần làm nghĩa vụ vợ chồng.

Đối với việc chọn các tháng 3,6,10,11 để tổ chức cử hành hôn lễ, dân tộc Chăm quan niệm như sau:

Tháng 3 thuận về thóc lúa và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 6 thuận về tài sản, nghĩa là mùa gặt lúa tháng 3 và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 10 thuận phát tài to, tức là tháng mùa gặt hái hoàn toàn và công việc khác đều đã thu hoạch xong. Tháng 11 thuận về hưng thịnh, mùa gặt hái hoàn toàn và mọi công việc khác đều đã thu hoạch xong.

Quan niệm giờ, ngày, tháng để tổ chức các lễ nghi của dân tộc Chăm Balamôn ở Bình Thuận rất phong phú và đa dạng mang đậm yếu tố bản sắc văn hóa Chăm, trong đó có việc chọn giờ, ngày, tháng trong hôn lễ. Việc chọn giờ, ngày, tháng trên một phần phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp, phần khác phụ thuộc vào thuyết âm, dương.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , , , , ,

LỄ TẢO MỘ

LỄ TẢO MỘ

Sau lễ Kinh hội đầu năm và Kinh hội xoay vòng kéo dài từ đầu năm đến khoảng tháng chín, các hoạt động của tháng Ramưwan bắt đầu.

Người Chăm Bàni tại Bình Thuận chuẩn bị đón tết Ramưwan bằng lễ tảo mộ. Đây là phong tục một phần thuộc về tôn giáo, còn lại là tín ngưỡng dân gian, sự tưởng niệm và biết ơn dòng tộc, tổ tiên.

Lễ tảo mộ kết thúc đúng vào ngày đầu của tháng Ramưwan, mọi người ai về nhà nấy để chuẩn bị lễ cúng tổ tiên, mừng năm mới.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ PHƯƠNG CHÍNH

nhà thờ  phương chính

Nhà thờ Phương Chính, tọa lạc trên một vùng đất cao ráo thuộc xã Hải Triệu, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Nhà thờ được xây dựng năm 1995 và khánh thành năm 1998, là nhà thờ lớn của giáo xứ Phương Chính. ,

Giáo xứ Phuơng Chính, trước lấy tên là giáo xứ Hạ Trại, thành lập năm 1910. Năm 1936, Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn, đổi tên thành giáo xứ Phương Chính. Trước đó, trung tâm sinh hoạt chính của giáo xứ này là nhà thờ Đức Mẹ được xây dựng năm 1900. Do bị biển xâm thực, năm 1945, phải dời đi nơi khác. Đến năm 1995, thì xây nhà thờ mới.

Nhà thờ Phương Chính, mang phong cách kiến trúc phương Đông. Được xây dựng trên diện tích 63mx18m, tháp chuông cao 20m. Là một công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo, mang giá trị nghệ thuật cao trên vùng đất ven biển của huyện Hải Hậu.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Làng Kênh Gà

*Nhà Thờ Núi

*Nhà Thờ Bùi Chu

*Nhà Thờ Phú Nhai

*Nhà Thờ Phủ Cam

*Nhà THờ Mằng Lăng

*Nhà THờ Hòa Hưng

*Nhà Thờ Chợ Quán

*Nhà Thờ Cửa Bắc

*Nhà Thờ Đá Phát Diệm

 
 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

CHÙA HƯƠNG

chùa hương a

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa – tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức , Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.

Từ Hà Nội du khách có thể đi ô tô qua thị xã Hà Đông, tới Vân Đình, đến Bến Đục thì thường chuyển sang đi thuyền. Khách thăm đa số chọn xuôi theo dòng sông Yến Vĩ, ghé lễ đền Trình, đi tiếp qua cầu Hội, hang Sơn Thủy Hữu Tình, núi Đổi Chèo, núi Con Voi, núi Mâm Xôi, núi Con Gà… cặp bến Thiên Trù, rời thuyền bộ hành qua nhà bia vào chùa Thiên Trù (tục gọi là chùa Bếp Trời hay còn gọi là chùa Ngoài), từ đấy đi chùa Tiên, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng (còn gọi là đền Trấn Song) và đến động Hương Tích (chùa Trong). Cũng từ Thiên Trù có lối rẽ qua rừng mơ lên chùa Hinh Bồng.

Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17.

Đường xuống hang chùa là một dốc gồm 120 bậc lát đá. Vách trước cửa động có năm chữ Hán 南天第一洞 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương – Trịnh Sâm (1767-1782).

Vào trong động vẻ đẹp lạ thường của những nhũ đá tưởng như những công trình điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá ở đây có khối to, có khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rũ từ trên trần xuống, có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tùy theo hình dáng mà được đặt những cái tên rất trần thế, biểu hiện những mơ ước của con người. Trước hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân Đụn Gạo có một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã. Gần Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng, nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhẵn thín. Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng rỏ xuống không ngừng.

Cùng một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn như những đồng tiền vàng bạc lấp lánh. Vào trong góc động gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né Kén… Toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá. Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là tòa Cửu Long.

Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không những trong chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn. Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tì Lư (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi, đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen. Theo bài ký khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793.

Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao 1,24 m, đường kính đáy 0,63 m đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655).

Chùa Hương là thắng cảnh có doanh thu lớn trong ngành du lịch.

Nhà thơ Chu Mạnh Trinh đầu thế kỷ 20 đã có những vần thơ thoát tục ở Hương Sơn:


Thú Hương Sơn


Bầu trời cảnh bụt

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay

Kìa non non, nước nước, mây mây

“Đệ nhất động” hỏi rằng đây có phải!

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái

Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chày kình

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng


Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi văn Việt Nam, trong số đó có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Nhược Pháp và Chu Mạnh Trinh.

Vào năm Canh Dần 1770, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm võng lọng đến đây và để lại những bài thơ trên vách đá trong động Hương Sơn nằm trong một hang núi. Chính tại cửa động này có khắc dòng chữ của Trịnh Sâm: “Nam Thiên đệ nhất động” (động đẹp nhất trời Nam).

Hội chùa Hương hàng năm bắt đầu từ sau Tết Nguyên Đán, kéo dài từ giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 âm lịch. Mỗi mùa hội có tới ba, bốn chục vạn người đến chùa Hương.

This slideshow requires JavaScript.

 

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC

 

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , ,

KHÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG

KHÁI NIỆM VỀ TRUNG TÂM TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG

Phân biệt mấy khái niệm của trung tâm tôn giáo tín ngưỡng cơ bản.

1. Chùa (Tự)

Ở Việt Nam có lẽ Chùa là nhiều nhất. Chùa là nơi thờ Phật, có thể ghép thêm các tôn giáo bản địa, tín ngưỡng dân gian, nhưng gian chính phải là thờ Phật. Chùa có thể có tăng, ni trụ trì, sinh sống, mà cũng có thể chỉ có người trông coi.

Chùa là những di tích cổ nhất còn lại ở Việt Nam, đặc biệt miền Bắc. Ba miền, phong cách chùa cũng rất khác nhau.

2. Đền (Từ)

Đền thờ Thần, Thánh. Có thể là Thiên thần, Nhiên thần, Địa thần, Nhân thần.

3. Đình

Thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi tụ họp, bàn việc làng, là tinh túy của làng xã.

4. Quán

Nơi thờ và tu của Đạo giáo, thờ Tiên của Đạo giáo. Quán ngày nay còn không nhiều

5. Phủ / Điện

Thờ Mẫu trong đạo Mẫu, là tôn giáo bản địa. Miền trung gọi là Điện.

6. Miếu

Thờ Thánh nhân, Hoàng tộc, cho đến các tiểu thần, tổ nghề, hoặc cả Mẫu nữa

7. Nhà thờ

Của đạo Thiên Chúa, có thể gọi là Giáo đường, Thánh đường, có các cấp bậc hẳn hoi: Vương cung thánh đường, Chính tòa, Tông tòa, nhà thờ xứ, nhà thờ họ.

Nơi thờ tự của Hồi giáo cũng gọi là Giáo đường.

8. Thánh thất

Đạo Cao Đài gọi nơi thờ của đạo mình là Thánh thất.

9. Tháp

Tháp của người Chăm, cũng là nơi thờ tự riêng của họ. Tháp này khác với các tháp chùa.

10. Đàn

Nơi tế Trời, Thiên Địa Nhật Nguyệt, Vũ trụ. Chỉ còn vài nơi.

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

MỤC LỤC – TÌM HIỂU VĂN HÓA TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , ,

NHÀ THỜ ĐỒNG DÀI

nhà thờ đồng dài nha trang

Giáo dân Ðồng Dài trước đây đến từ các giáo xứ: Chợ Mới, Cầu Ké, Bình Cang. Vì cuộc sống vật chất, nhất là để bảo vệ đức tin trong những năm tháng sóng gió thời Văn Thân, ông bà tổ tiên đã di tản lên đây sinh sống và lập nghiệp. Dần dần con số tăng lên và đã trở thành giáo họ, rồi giáo xứ.

Giáo xứ Ðồng Dài nằm trong ” cụm” Hà Dừa và Ðất Sét. Trước đây Ðồng Dài đã từng là họ lẻ Hà Dừa và Ðất Sét, có lúc Ðất Sét là họ lẻ của Ðồng Dài.

Giữa năm 1870-1890: Nhà nguyện đầu tiên được dựng trên đất của ông Nguyễn Cơ, trước mặt sông.

Năm 1890: có thêm nhà thờ Ðất Sét. Linh Mục Quới quản xứ Hà Dừa, phụ trách hai nhà nguyện Ðồng Dài và Ðất Sét.

Giữa 1890: xây dựng lại nhà thờ ở bờ sông, nay gọi là nhà thờ cũ, Linh mục phụ trách Ðất Sét và Ðồng Dài.. 1936: Linh mục Bính ở Hà Dừa xây dựng lại nhà thờ Ðồng Dài 1960: dời địa điểm và xây lại nhà thờ khang trang như hiện nay. Ngài cũng dựng lại năm nhà thờ: Ðồng Trăng, Ðất Sét, Cây Sung, Giang Mấu, Bến Khế.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Chợ Quán

*Nhà Thờ Cửa Bắc

*Nhà Thờ Đá Phát Diệm

*GoThic Ngoài Đồng

*Nhà THờ Cam Ly

*Nhà Thờ Dòng CHúa Cứu Thế – Huế

*Nhà Thờ Tân Định

*Đức Mẹ Bãi Dâu

*Tượng Chúa KiTo Vua Trên Đỉnh Tao Phùng

*Nhà Thờ Thủ Đức

 

Nhãn: , , , , , , , ,

NHÀ THỜ HÀM LONG

hàm long 6

Nhà thờ Hàm Long nằm tại 21 phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm. Đây là công trình do kiến trúc sư người Việt, Doctor Thân (quê ở Hạ Hồi, Thường Tín, Hà Tây) du học ở Pháp thiết kế. Nhà thờ hoàn thành tháng 12/1934, cao 17m. Đáng chú ý là ở đây người ta dùng nhiều chất liệu xây dựng trong dân gian như: rơm hồ vôi, nứa, giấy bản… để tạo các vòm cuốn, gây hiệu quả phản âm khi hành lễ mà không cần đến những thiết bị âm thanh hiện đại. Trên các cột và bàn thờ được trang trí bằng các hoạ tiết dây thừng như kiểu dây áo dòng Phanxicô.

Nhà thờ lấy thánh Antôn Pađuva làm quan thầy.

Một số linh mục phục vụ ở đây trong những thập niên vừa qua đã trở thành hồng y và giám mục như: Hồng y Trịnh Như Khuê, Hồng y Trịnh Văn Căn, Hồng y Phạm Đình Tụng, Giám mục G. Nguyễn Tùng Cương, Giám mục P.X. Nguyễn Văn Sang.

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Phan Rang

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Thái Bình

*Nhà Thờ Hòn Gai

*Nhà Thờ Làng Kênh Gà

*Nhà Thờ Núi

*Nhà Thờ Bùi Chu

*Nhà Thờ Phú Nhai

*Nhà Thờ Phủ Cam

*Nhà THờ Mằng Lăng

 

Nhãn: , , , , , , ,