RSS

Tag Archives: tphcm

26 NHÀ THỜ CHÍNH TÒA GIÁO PHẬN CÔNG GIÁO VN

 
 

Nhãn: , , , , , ,

NHÀ THỜ HÒA HƯNG

NHÀ THỜ HÒA HƯNG

nhà thờ hòa hưng

Thánh đường kiên cố đầu tiên được xây xong năm 1953 do Linh mục Phaolô Nguyễn Văn Truyền chủ trương.

Thánh đường mới xây từ năm 1990 đến năm 1992, do Linh mục Giuse Phạm Bá Lãm khánh thành và cung hiến ngày 13-6-1992.

Công trình chính nằm trong khuôn viên khá hẹp, gắn liền với nhiều khối nhà lớn, nhiều tầng phía đằng sau (văn phòng, nhà xứ, phòng học, lưu xá nữ sinh viên Hoà Hưng…) Một sân nhỏ ở phía mặt tiền nối hai sân hình chữ nhật hai bên, bên trái là vị trí đài Đức Mẹ.

Mặt đứng chính nổi bật với những hình khối tam giác, các góc nhọn mạnh mẽ, những mảng tường đặc đan xen các lam bê-tông tạo nên một độ rỗng tương phản. Phía dưới, các chân cột nhỏ, càng lên càng lớn dần tạo được sự linh hoạt cho đường nét kiến trúc. Mặt đứng có tổng thể hình dạng đầu hồi mái đưa ra phía trước, phần kết thúc mảng tường xiên theo độ dốc hai mái lớn phía sau: phần bên phải là tháp chuông rỗng gồm nhiều cột bê tông đứng đặt sát nhau, đi suốt từ chân tới đỉnh tháp, một vài đường nối ngang.

Mặt bên gồm hai tầng, dưới mỗi bên là dãy năm cửa lớn ra vào tạo nên một không gian hở. Tầng trên là dãy ban công chạy suốt, hàng cột chữ nhật ốp gạch đá màu mắm ruốc đi suốt từ nền lên đến seno mái bên trên, băng ngang qua phần ban công, trên cùng là mái dốc ngói đổ về hai phía seno thu nước. Công trình nhà thờ chính gần với dãy nhà sau bởi các hành lang. các ban công, cầu thang nối liền.

Mặt bằng chính thánh đường có hình chữ nhật lớn, kết hợp với tầng lửng bên trên chiếm gần 1/3 không gian nội thất. Nhịp cột đầu tiên là sảnh chính lớn, nối liền hai hành lang dọc hai bên. Năm nhịp kế tiếp là không gian dự lễ ở tầng trệt, mỗi bên năm cửa ra vào lớn, kết hợp với ba cửa vào phía trước tao nên một không gian hở khi công đoàn sinh hoạt. Tầng lửng bên trên cũng là không gian dự lễ của các tín đồ, nối liền với dãy ban công hai bên. Không gian nội thất được thể hiện bằng các đường thẳng góc, tường là những mảng chữ V sơn trắng trên nền kem. Trên cùng là hệ trần phẳng, hai bên nghiêng theo độ dốc mái, ở phần đỉnh trần (chính giữa nhà) là những mặt phẳng hình gấp khúc đi theo chiều dài thánh đường tạo nên sự linh hoạt, đa dạng cho không gian nội thất.

Phần sâu và cao là vị trí khu Cung thánh với góc trái dành cho ca đoàn. Cung thánh nằm trong một hình chữ nhật lõm sâu vào bên trong, trần bên trên là mảng các ô vuông kính lấy sáng, ngay vị trí trung tâm là nơi đặt bàn thờ Chúa, trên là tượng Chúa, bên trái là tượng Đức Mẹ, bên phải là tượng Thánh Giuse. Phông nền của Cung thánh đều được sơn nước đơn sơ, thanh thoát, mảng giữa màu trắng, hai bên màu vàng kem, thuận tiện cho việc trưng hoa, tận dụng để chiếu chữ và hình (projection).

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Cha Tam

*Nhà Thờ Thánh Jeanne D’arc

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

 

Nhãn: , , , ,

ĐÌNH TÂN LÂN

Đình Tân Lân

Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đình toạ lạc giữa vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai lộng gió, cách trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc.

Đình_Tân_Lân 1

Đình thờ đức ông Trần Thượng Xuyên là một danh tướng nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi, triều Minh sụp đổ, ngài theo phong trào “bài Mãn phục Minh” nhưng thất bại. Sau đó ngài đã đem theo hơn 3000 quân thân tín cùng toàn bộ gia quyến vào Đại Việt xin thần phục chúa Nguyễn. Chúa hiền – Nguyễn Phúc Tấn (1648 – 1687) chấp nhận và chuẩn y cho ông được giữ nguyên phẩm hàm, cho vào khai khẩn vùng đất xứ Đồng Nai. Trần Thượng Xuyên đã đưa toàn bộ lực lượng vào định cư tại vùng Nông Nại Đại Phố. Cùng với nhóm người Việt đến trước khai khẩn vùng đất màu mỡ này. Với tài tổ chức tuyệt vời của ông, đã biến vùng đất Đồng Nai hoang sơ thành trung tâm kinh tế thương mại sầm uất. Cù Lao Phố và các vùng phụ cận, hàng hóa phong phú, thương cảng thuận tiện thu hút đông đảo thương nhân lái buôn trong và ngoài nước tới trao đổi, mua bán. Trần Thượng Xuyên là người có công lớn trong việc khai khẩn, tạo dựng vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai và cả khu Sài Gòn – Chợ Lớn sau này. Bên cạnh đó, ông còn là dũng tướng tài ba, có tài thao lược dùng binh. Ông đã giúp chúa Nguyễn dẹp loạn, mở mang bờ cõi nước Việt.

Ngày 23 tháng 10 năm 1720, Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên mất. Để ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai – Gia Định, nhân dân trong vùng đã lập ngôi miếu nhỏ thờ ông trong khu vực thành cổ

Đền thờ Trần Thượng Xuyên được lập vào năm 1820. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ trong khu vực thành cổ Biên Hòa. Tới năm 1906, khi giặc Pháp vào chiếm thành Biên Hòa làm căn cứ, đền được dời về gần bờ sông Đồng Nai, ở vị trí hiện nay. Đến năm 1935, đền được xây dựng mới kiên cố và đặt tên là Tân Lân thành cổ miếu (gọi tắt là đình Tân Lân )

Toạ lạc trên khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m2, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.

Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三) gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông (20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ, hoành phi, câu đối, bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu… theo thông tục của người phương Đông.

Phần tiền đình có diện tích 75,5m2, bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài dơi, đào, hoa, lá… biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài “Lưỡng long tranh châu nhật”, “Lý ngư hoá long”… biểu tượng cho sự thịnh vượng, như ý. Mặt tiền mái đình là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu”, những chuyện tích thời chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng… sống động trên mái ngói, thi gan với nắng mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.

Phần chánh điện chiếm diện tích 487,5m2. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với những hàng cột gỗ lim to dị thường, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng, với những cặp chim trĩ, loan, phượng… bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội. Song song với bàn La liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và Tiền Hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững cao.

Hậu cung có diện tích 120m2 được chia thành ba gian, chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men xanh.

Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn giản, là nơi nấu ăn của đình .

Đình Tân Lân với những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Hiện nay, đình Tân Lân còn lưu giữ sắc thần của vua Tự Đức ngũ niên (1852) ban cho Trần Thượng Xuyên, những tài liệu Hán Nôm và những chất liệu gỗ gồm 8 tấm liễn đối, 12 tấm hoành phi và 2 bộ Bát bửu bằng đồng…

Hàng năm, nhân dân lấy ngày Trần Thượng Xuyên mất (23 tháng 10 âm lịch) làm ngày giỗ trọng và ngày 12 đến 14 tháng 12 âm lịch, làm ngày lễ hội Kỳ yên. Di tích đình Tân Lân là một trong những địa chỉ trong tour du lịch của TP. Biên Hòa.

* Lễ hội Kỳ yên

đình tân lân , Ngày lễ hội

Lễ đưa sắc ông đi chu du trong lễ hội Kỳ yên.

Diễn ra trong hai ngày, lễ hội gồm có các hoạt động cơ bản như: lễ nhập đoàn, lễ cung thỉnh sắc ông, lễ thỉnh sanh, lễ cúng tiên yết, lễ xây chầu đại hội, lễ hạ đàn. Trong những ngày này, dân chúng khắp nơi thường tụ tập về đây trẩy hội, thắp nhang, đưa đức ông đi chu du trong thành, xem hát bội, hát tuồng. Những người trong ban tổ chức trước khi tham gia các hoạt động làm lễ phải thực hiện tẩy uế bản thân bằng rượu trắng. Trước khi rước đức ông đi chu du trong thành, phải làm lễ khai sắc ông: đưa đức ông ra tắm rửa bằng rượu, mặc áo bào… Điều đặc biệt, trong lễ thỉnh sanh, vật tế thần phải là con heo đen tuyền. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết có giai thoại thú vị về nội dung này trong lễ hội. Trước kia có nhà nghèo lên thắp nhang cúng thần để cầu tài lộc, sau khi giàu có phải mang vật phẩm là con heo lên cúng thần nhưng vì tiếc của nên đã dùng củ khoai lang nướng gọt thành hình con lợn làm vật cúng tế. Ngoài ra, trong lễ hội còn có nghi thức cúng tiên yết, là hoạt động cầu nguyện cho quốc thái dân an.

Trải qua gần 300 năm phát triển nhưng những nội dung quan trọng trong lễ hội Kỳ yên vẫn giữ nguyên bản sắc như ngày đầu sơ khai. Cùng với đình Tân Lân, lễ hội góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc, nhất là của vùng đất Đồng Nai. Đây cũng là nơi thể hiện đậm nét nhất truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Trước những giá trị lịch sử và văn hóa, năm 1991, đình Tân Lân và lễ hội Kỳ yên đã được nhà nước công nhận là di tích văn hóa lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM

 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THỜ CẦU KHO – TPHCM

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP

Họ đạo Cầu Kho không phải là giáo xứ cổ xưa nhất trong giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cho đến nay  cũng đã là 146 năm. Cầu Kho được thành lập vào năm 1863, trước giáo xứ Chợ Đũi và Vĩnh Hội. Lúc bấy giờ Cầu Kho còn là họ nhánh của giáo xứ Chợ Quán có tên là Bến Nghé, với một ít giáo dân người địa phương. Khi triều đình Huế bắt đạo, có thêm khoảng 200 giáo dân từ miền Trung vào đây lánh nạn. Lúc này họ đạo chưa có cha sở, hàng tháng các cha dòng Phanxicô ở Chợ Quán đến làm lễ và ban các phép bí tích.

Giáo dân ngày càng tăng, năm 1863, linh mục Phanxicô Phan Đăng Khoa được cử về nhận chức cha sở tiên khởi và họ đạo đổi tên Bến Nghé (đường Bến Chương Dương) thành họ Tân Thanh. Sau đó họ đạo dời về đường Nguyễn Tấn Nghiệm và đổi tên là Cầu Kho. Tên gọi Cầu Kho, theo truyền khẩu của dân địa phương là do ở đây trước kia lắm sông rạch, có nhiều cầu bắc qua. Bên cạnh sông rạch có kho hàng hóa, kho lúa bở thế đại phương này mới có tên là Cầu Kho. Về quản xứ được 10 năm thì cha Phanxicô Khoa mất.

Năm 1875, cha Phêrô Nguyễn Đức Nhi về thay cha Phanxicô Khoa. Họ đạo Cầu Kho ngày càng phát 1 triển, cuộc sống người dân cũng khấm khá lên, nhiều người xin vào học đạo. giáo dân ngày càng tăng, khoảng trên 1400 người, và để đáp ứng cho nhu cầu tôn giáo, cha Nhi đã kiến thiết lại ngôi nhà thờ cho khang trang và rộng rãi hơn. Nhà thờ mới được làm bằng loại cây danh mộc trạm chỗ rất công phu. Ngày 8-10-1881, giáo xứ tổ chức khánh thành nhà thờ mới. Quản xứ được 38 năm, cha Phêrô Nhi xin nghỉ hưu.

Kế đến là thời các cha: năm 1913 cha Anrê Nguyễn Hương Đoài, năm 1915 cha Phaolô Phạm Công Nhượng, năm 1922 cha Phaolô Nguyễn Phước Khánh, năm 1953 cha Thomas Nguyễn Văn Thạnh, năm 1957 cha Phaolô Nguyễn Huỳnh Điểu, năm 1960 cha GioanKim Nguyễn Văn Nghị.

Tới năm 1963, cha Phaolô Nguyễn Văn Bình từ giáo xứ Hòa Hưng về thế cha GioanKim Nghị chuyển qua họ Búng. Đây là khoàng thời gian mà giáo dân trong họ đạo đã tăng lên hiều, khoảng 5000 người. Năm 1965, cha Phaolô Truyền đã khởi công xây dựng lại nhà thờ bề thế hơn và nay là nhà thờ Cầu Kho. Năm tới, 2005, giáo xứ mừng nhà thờ 40 năm xây dựng. Năm 1983, cha Phaolô Truyền qua đời, ngài phục vụ họ đạo tròn 20 năm.

Trong thời gian quản xứ, thời cha Phanxicô Khoa, cha Phêrô Nhi, cha Phaolô Khánh, các ngài đã có công đào tạo và giới thiệu một số thanh niên nam nữ vào chủng viện cà các dòng tu. Giáo xứ đã có 13 linh mục và một số tu sĩ nam nữ gốc từ Cầu Kho.

CẦU KHO NGÀY NAY

Họ đạo Cầu Kho hiện thuộc 3 phường: Cầu Kho, Nguyễn Cư Trinh và Cô Giang, quận 1. Ba phường của giáo xứ tuy gần khu vực trung tâm thành phố nhưng phần đông thuộc thành phần lao động nghèo, sống chen chúc trong các căn nhà chật hẹp của các con hẻm.

Năm 1984, linh mục Félix Nguyễn Văn Thiện, phụ trách giáo xứ Tân Quy Đông, Nhà Bè đổi về nhận xứ Cầu Kho. Từ những ngày đầu cha Felix Thiện đã tìm hiểu để nắm rõ về giáo xứ và các hoạt động tại địa phương. Trên cơ sở này, cha đã đưa ra một số chương trình nhằm giúp cho họ đạo phát triển về cà hai mặt đạo và đời, như chia họ đạo làm 8 khu xóm giáo, thành lập các hội đoàn, ban mục vụ, các lớp giáo lý…, mỗi nhóm hoạt động theo chức năng của mình, cùng giúp cha sở trong việc điều hành xứ đạo. Đối với hoạt động của các xóm giáo, mỗi xóm giáo đều có ban trách nhiệm, có đại diện của các thành phần: các phụ lão, các gia trưởng, thanh niên, thiếu nhi. Hàng tháng ban trách nhiệm các xóm giáo cùng với linh mục chánh xứ họp bàn, trao đổi về các mặt sinh hoạt: mục vụ, giáo lý, hoạt động đoàn thể, xã hội…

Đối với các hoạt động xã hội, vào năm 1990 cha Felix Thiện đã thành lập phòng khám bệnh miễn phí, với phòng khám và phát thuốc, phòng Đông Y, châm cứu, phòng nha, phòng xét nghiệm. Hàng tuần vào các ngày Chúa Nhật và thứ năm, các bệnh nhân nghèo tại địa phương đến phòng khám đều được điều trị miễn phí. Cơ sở phòng khám sau nhiều lần di chuyển, cuối cùng cũng đã được xây dựng mới ổn định tại khuôn viên nhà thờ. Ngoài việc khám bệnh tại giáo xứ, theo yêu cầu của nhiều địa phương, nhóm y bác sĩ của khám còn thường xuyên đi tới các vùng xa nghèo ngoài thành phố, khám bện và phát thuốc miễn phí cho bà con. Giáo xứ còn tu sửa lại một số phòng dành cho việc nuôi dạy các trẻ bụi đời và phòng dành cho các em lớp học tình thương.

Nhấp vào ảnh nhỏ để xem ảnh lớn

Các bài đã đăng:

*Nhà Thờ Hạnh Thông Tây

*Nhà THờ Huyện Sỹ

*Nhà Thờ Đức Bà

*Nhà Thờ Đồng Dài

*Nhà Thờ Phước Thiện

*Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Nẵng

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà Thờ Hòa NInh

*Nhà Thờ Tùng Sơn

*Nhà THờ Tân Hà

 
 

Nhãn: , , , , , , , , , , , , ,

NHÀ THÒ HUYỆN SỸ – TP HCM

Nhà thờ Huyện Sỹ là một nhà thờ Công giáo cổ hơn 100 tuổi, tọa lạc tại số 1 đường Tôn Thất Tùng, Quận Một, Thành phố Hồ Chí Minh

NHÀ THỜ HUYỆN SỸ 3

Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (ngàn) bạc. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của Linh mục Bouttier[1], đến 1905 thì được khánh thành, nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng).

100_0299

Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi, do nhận bảo trợ của thánh Philipphê tông đồ, thánh bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ thánh Philipphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên chính thức của nhà thờ này.

100_0300

Nhà thờ Huyện Sĩ được đánh giá là có khuôn viên rộng rãi khoáng đãng nhất ở Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam là Matthêu Lê Văn Gẫm. Gần cổng chính còn có đài Thiên Thần bổn mạng và tượng đài thánh Giuse.

100_0302

Bên trái khuôn viên là núi Đức Mẹ Lộ Đức được xây dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ Lộ Đức. Hằng năm cứ vào ngày 11 tháng 2 dương lịch, các cha sở họ Chợ Đũi có thói quen dâng thánh lễ tại núi này cầu nguyện đặc biệt cho các bệnh nhân.

100_0303

Phía bên phải khuôn viên nhà thờ là đồi Canvê, có tượng chuộc tội rất lớn được xây dựng năm 1974 dưới thời linh mục Gioan Baotixita (Iohannes Baptista) Dương Hoàng Thanh.

100_0309

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, chia làm 4 gian [3]rộng 18 mét. Nhà thờ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic mới.

Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn và được trang trí bằng lớp kính màu ghép hình mua từ Ý. Bên trong các gian tường có nhiều tượng thánh. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philipphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, đứng cầm cây thánh giá Phục sinh.

Tháp chuông nhà thờ Huyện Sỹ với chú gà trống Gaulois

Ngọn tháp chuông chính diện cao 57 mét kể cả chiều cao thánh giá và con gà trống Gaulois. Bên trong ngọn tháp có 4 quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905. Hai quả lớn có đường kính 1m05 do con trai và con dâu Huyện Sỹ là ông Gioan Baotixita Lê Phát Thanh và bà Anna Đỗ Thị Thao tặng. Hai quả chuông nhỏ đường kính 0m95 không ghi người tặng, có lẽ là của ông bà Huyện Sỹ đặt đúc cùng năm.

Theo học giả Vương Hồng Sển, ông Huyện Sĩ, cũng có tên gọi là Lê Phát Đạt (1841-1900), người Cầu Kho, theo đạo Công giáo, tên thánh là Philipphê, thuở nhỏ tên là Sĩ, khi học La Tinh ở Cù lao Penăng gặp thày dạy trùng tên nên đặt tên là Đạt. Thời đó rất hiếm người biết chữ nghĩa (chữ quốc ngữ, chữ Hán) và nhất là tiếng La Tinh và tiếng Pháp, nên hầu hết những người được đào tạo từ trường dòng ra, đều được trọng dụng, trong đó có ông ông Lê Phát Đạt được cử làm thông phán. Ông phục vụ ở tỉnh Tân An nhiều năm

Tương truyền, buổi đầu Tây mới qua, dân cư thưa thớt, tản mác, thực dân Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận với giá rẻ mạt mà vẫn không có người mua, thế rồi họ ép ông Sĩ mua. Bất đắc dĩ, ông phải chạy bạc khắp nơi để mua. Không ngờ mấy năm liên tiếp được mùa, ông trở nên giàu có. Trong nhà ông có treo câu đối dạy đời:

Cần giữ kiệm, trị gia thượng sách

Nhẫn nhi hoà, xử thế lương đồ.

Thời đó có câu “nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”, vậy là ông đứng thứ nhất trong bốn người giàu nhất Sài Gòn và Nam kỳ. Thứ nhì là Đỗ Hữu Phương, làm tổng đốc, gọi là Tổng đốc Phương. Thứ ba là Lý tường Quan, người Minh Xương, tục danh là Hộ Xường, thứ tư là ông Hộ trưởng tên là Định, gọi là Hộ Định.

Ông huyện Sĩ mất năm 1900 trước khi nhà thờ xây xong. Sau khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, người ta mới đưa xác hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh như một nhà mồ.

Theo di chúc, phần tiền xây dựng nhà thờ trích từ 1/7 gia tài của ông, nên khi ông chết, việc thi công xây dựng vẫn được tiến hành một cách suôn sẻ. Nhà thờ rộng 18 mét, dài mới đầu dự tính là 5 gian, tức khoảng 50 mét. Lúc đó ở khu Chí Hoà, nhà thờ tạm bị hư hại trầm trọng, không có nơi cho bổn đạo thờ phụng, nên các giới chức trong đạo đã xin cắt bớt 1 gian ở nhà thờ Huyện Sĩ, lấy số tiền đó xây nhà thờ Chí Hoà (đến nay nhà thờ Chí Hoà vẫn còn, được tôn tạo nhiều lần, nên rất khang trang).

Tại gian chái bên trái là tượng bán thân ông Huyện Sỹ bằng thạch cao gắn cột đầu, phía sau là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn. Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Đối diện bên phải là tượng và một vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), với tóc búi, cũng dựa trên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu ông bà là Gioan Baotixita Lê Phát Thanh (bên phải) và Anna Đỗ Thị Thao (bên trái)

Thuyngakhanhhoa tổng hợp

Nhấp vao ảnh nhỏ để xem ảnh lớn

Các bài đã đăng :

*Nhà Thờ Đá Cổ SaPa

*Nhà Thờ Phú Thượng

Nhà Thờ Trà Cổ

*Nhà Thờ Trung Lao

*Nhà Thờ Khoái Đồng

*Nhà Thờ Trung lao

*Nhà Thờ Cù Lao Giêng

*Nhà Thờ Phùng khoang

*Nhà Thờ Phương Chính

*Nhà Thờ Hàm Long

*Nhà Thờ Phan Rang

 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,