RSS

Tag Archives: triều Nguyễn

LĂNG HOÀNG GIA

Lăng Hoàng Gia là nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng nổi tiếng ở Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang ( Việt Nam )

Lăng Hoàng Gia được xây dựng năm 1826  trên gò Sơn Quy (có hình con rùa nên dân gian gọi là Gò Rùa, sau được vua Tự Đức đổi thành Sơn Quy) thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công TỈnh Tiền Giang .

LĂNG HOÀNG GIA - GÒ CÔNG

LĂNG HOÀNG GIA – GÒ CÔNG

 

 

 

 

Đây là khu lăng mộ và đền thờ  Phạm Đăng Hưng là ông ngoại của vua Tự Đức và thân phụ bà Từ Dũ Thái Hậu ( vợ vua Thiệu Trị ) .

Ông Phạm Đăng Hưng người Gò Công sinh năm 1764 tại Gò Rùa nay là ấp Lăng Hoàng Gia , xã Long Hưng , Thị xã Gò Công . Thưở nhỏ ông thông minh ham học , văn võ song toàn . Năm 1784 ông thi đỗ tam trường , tuy không cao khoa nhưng văn tài lỗi lạc và nổi tiếng hiền đức , siêng năng . Sau được bổ về kinh làm lễ bộ thượng thư .

Ông đã qua các chức vụ cao quý như : Chưởng Trưởng Đả Sự (trông coi đê điều ) , Lập Xã Thương (lo cứu đói cho dân ) ,Quản Khâm Thiên Giám ( giám đốc đài thiên văn ) và Quốc Sử Quán Tổng Đài (chỉ huy viết sử ).

Ông có bốn người con làm quan to triều Nguyễn . Do tính tình trung trực và có tài đức nên vua Minh Mạng rất khâm phục , kết thông gia gả công chúa cho con trai của ông là Phạm Đăng Thuật và phong tước Phò Mã Đô Úy . Đồng thời vua cho thái tử Miên Tông kết hôn cùng con gái của ông tên là Phạm Thị Hằng ( Từ Dũ ) sinh năm 1810 tại Giồng Sơn Quy ,  Gò Công , về sau Miên Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị .

Mùa hạ năm 1825 Phạm Đăng Hưng mất vì bệnh thọ 61 tuổi được đưa về Sơn quy chôn cất .

Năm 1849 ông được vua Tự Đức truy phong tước “ Đức Quốc Công ‘’.

 

Người Gò Công kể rằng, ông Phạm Đăng Long tức Kiến Hòa tiên sinh, cha ông Phạm Đăng Hưng là người giỏi Nho học, tinh thông phong thủy, địa lý của Lão học, đi nhiều nơi tìm thế đất tốt để định cư, mong con cháu phát tích.

Lúc ông đến Gò Rùa (Sơn Qui), thấy thế đất rất đẹp nhưng toàn vùng Gò Công lúc bấy giờ không có chỗ nào đào được giếng có nước ngọt. Sau đó ông phát hiện ra mạch nước ngầm ở Gò Sơn Qui. Ông quy tập mồ mả 3 đời về đây và xây nhà ở gò đất này.

 

Sau đó, ông sinh ra Phạm Đăng Hưng. Tương truyền trước khi sinh bà Phạm Thị Hằng (Từ Dũ) thì có một vầng trăng chiếu sáng lòa cả Gò Sơn Qui, nên bà ông Đăng Hưng đặt cho bà tên Hằng. Hiện nay, tại lăng Hoàng Gia, phía sau nhà thờ, nơi nền nhà xưa vẫn còn cái giếng cổ, nước trong vắt và ngọt lịm. Tục truyền rằng có năm, khi mọi cái giếng khác trong làng đều cạn nước thì giếng này vẫn đầy ắp nước ngọt. Dân trong làng đều đến đây xin nước về dùng. Đó cũng là năm Hoàng Thái hậu Từ Dụ chào đời.

 

 

 

Lăng mộ Hoàng gia do ông Phạm Đăng Tá – con trai trưởng của Phạm Đăng Hưng – xây dựng trên phần đất 3.000 m2, ngay trên nền nhà cũ của dòng họ Phạm Đăng.

Đã có 13 người qua đời được xây lăng mộ tại đây trong khoảng thời gian từ năm 1811 đến đầu TK 20 . Đặc biệt, trong đó có mộ của Phạm Đăng Hưng được xây dựng năm 1826 , là một kiến trúc tâm điểm, độc đáo với diện tích hơn 800 m2 cách nhà thờ khoảng 500 m phía bên phải. Tương truyền, ông Hưng được chôn ở tư thế ngồi và trong quan ngoài quách.

Mộ được xây dựng với kiểu kiến trúc hình bát giác mang dáng dấp của một chiếc mũ triều phục. Bốn trụ thấp cách điệu giữa búp sen và chiếc nón cùng biểu tượng đôi cá vượt vũ môn được đặt phía trước. Sau bức hoành phi là bốn con rồng ngự trị trên cao giương cặp mắt sáng quắc (hiện tại chỉ còn 3 con, một con bên phải đã bị hư hỏng vì thời gian). Phía dưới là hình tượng ngũ  lân (tượng trưng cho ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam; ngụ ý năm đời đều danh giá) khảm trai hình độc đáo (hiện con 3 con đã bị hư hỏng nặng phần đầu và chân).

 

Đặc biệt nơi đây có đến hai nhà bia ghi lại công trạng của Phạm Đăng Hưng, với lý do sau:

  • Nhà Bia phía bên phải mộ được làm bằng đá cẩm thạch trắng (đá Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng ) có khắc bia văn do Phan Thanh Giản soạn năm 1858. tấm bia bằng đá trắng Quảng Nam, đã mòn theo thời gian, nhưng thật kỳ lạ: phía trên có hình cây thánh giá màu đen, bên dưới là dòng chữ Pháp ghi “Đây là nơi an nghỉ của Trung úy Barbé”. Nhìn kỹ nằm ẩn phía dưới dòng chữ Pháp  là một bài văn bia chi chít chữ Hán . Chuyện kể rằng khi tấm bia được chuyển bằng thuyền từ Huế vào đến Sài Gòn thì bị đại úy  Barbé cướp tấm bia vào năm 1858 về đồn và 2 năm sau y chết, những người bạn của viên đại úy Barbé lấy tấm bia ấy làm mộ bia cho Đại úy Barbé vừa bị nghĩa quân Trương Định chém chết 1860  …….Về sau  lúc giải tỏa nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi (quận 1- TP Hồ Chí Minh) để xây dựng Công viên Lê Văn Tám . người ta thấy còn sót lại một tấm bia đá bỏ chỏng chơ. Có người phát hiện hàng chữ Nho sau hàng chữ Pháp mới báo với Bảo tàng Thành phố. Khi các nhà nghiên cứu giám định mới biết đó  là tấm bia ấy là của vua Tự Đức ban tặng cho ông ngoại Phạm Đăng Hưng. Tấm bia đã được chuyển về đúng vị trí của nó  .Tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm ( 1859 -1999 ) .

Trong tác phẩm “Scènes de la vie Annamite” (NXB P.Ollendorff Paris 1884) của 2 tác giả Le Vardier và De Maubryan có kể lại chuyện tình éo le của viên Trung úy Barbé với cô gái Bến Nghé tên Thị Ba, người của nghĩa quân Trương Định. Cô gái hẹn Trung úy Barbé ở đồn chùa Khải Tường (nay là Bảo tàng Cách mạng) đến đồn chùa Ô Ma (Pagode des Mares – Thị Nghè) vào đêm 7/12/1860. Trên đường đi, Barbé đã bị nghĩa quân Trương Định phục kích bất ngờ giết chết. Câu chuyện tình này đời nay được tái hiện trong vở cải lương nổi tiếng ở Nam Bộ có tên “Nàng Hai Bến Nghé” với diễn xuất tài năng của nữ nghệ sĩ Mỹ Châu.

 

Nhà bia phía bên trái mộ dựng tấm bia bằng đá hoa cương (đá Ganis) do vua Thành Thái  sai làm năm 1899 ,  sau khi tấm bia đầu đã bị quân Pháp chiếm đoạt. Nội dung tấm bia này giống y tấm bia trước.

 

Năm 1849, vua Tự Đức truy phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc công, cho trùng tu, mở rộng nhà thờ, xây thêm tam cấp, cổng tam quan, ban thần vị theo nghi thức cung đình

Vào năm 1888, vua Thành Thái lên ngôi, chuẩn bị vào viếng lăng nên cho trùng tu. Đến năm Khải Định 1921, trùng tu một lần nữa.

Lăng Hoàng Gia còn được gọi là khu lăng mộ của “Thích lý” theo nghĩa là của “bà con nhà vua”. Nơi đây, đã được vua Bảo Đại cùng Hoàng Hậu Nam Phương đến viếng năm 1942 , và cựu hoàng Thành Thái cũng đã đến viếng sau khi về nước năm 1947.

Khu Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân địa phương cùng các nghệ nhân cung đình từ Huế  được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế .

Sau khi phải ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (3 tháng 6  năm 1862) với thực dân Pháp , vua Tự Đức  đã sai Phan Thanh Giản  sang Pháp xin chuộc đất, một phần cũng vì lo sợ khu lăng mộ họ Phạm và khu lăng mộ họ Hồ (xem trang Hồ Văn Bôi ) ở Biên Hòa  bị đối phương xâm hại. Đến khi Hoà ước Giáp Tuất  (15 tháng 4 năm 1847) được ký giữa Pháp và Nam triều, việc bảo vệ khu hai đền mộ này được quy định tại điều khoản 5.

Ngày 2/12/1992, Bộ Văn hóa – Thông tin có quyết định công nhận Khu Lăng mộ Hoàng gia là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

 

Về Gò Công thăm lăng Hoàng gia, khám phá ra nhiều điều thú vị.

 

MỤC LỤC – GÒ CÔNG

MỤC LỤC TỔNG HỢP NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Sáu 28, 2014 in Gò Công

 

Nhãn: , , , , , ,

ĐÀN NAM GIAO

ĐÀN NAM GIAO

• Đàn Nam Giao là nơi các vua Nguyễn tế trời, được đặt tại làng An Ninh vào năm 1803, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía Nam của Kinh Thành – nay là địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đây là đàn tế trời duy nhất ở Việt Nam còn khá nguyên vẹn, với rừng thông xanh bao bọc quanh đàn. Trước đây, đích thân vua cùng các quan trong triều phải trồng và chăm sóc những cây thông này. Đối với họ, đây là chốn thiêng liêng bậc nhất cần phải gìn giữ. Ngày nay, số thông cũ tuy không còn nhưng một loạt các cây khác đã được tiếp tục trồng thay thế. Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trung cho “tam tài“: thiên, địa, nhân.

Tầng trên cùng hình tròn – Viên Đàn – tượng trưng cho trời, xung quanh có lan can quét vôi màu xanh. Đường kính 40,5 m cao 2,8 m. Trên nền Viên Đàn có lát những phiến đá Thanh được khoét lỗ tròn. Đến kỳ tế lễ, những lỗ này được dùng để cắm cột dựng lều vải màu xanh hình nón, gọi là Thanh Ốc.

Tầng tiếp theo hình vuông – Phương Đàn – tượng trưng cho đất, lan can quét vôi màu vàng. Kích thước 83×83 m, cao 1 m Khi tế, người ta dựng lều vải màu vàng, gọi là Hoàng Ốc.

Tầng dưới cùng cũng có hình vuông, lan can quét vôi màu đỏ, tượng trung cho con người. kích thước 165×165 m, nền cao 0,85 m.

Cả ba tầng đều có trổ cửa và bậc cấp ở 4 mặt Đông, Tây, Nam, Bắc.

Xung quanh ba tầng đàn này còn có các công trình như Trai Cung (dành cho vua vào nghỉ ngơi trai giới trước khi tế vài ngày), Thần Trù (nhà bếp, nơi chuẩn bị các con vật cúng tế), Thần Khố (kho chứa đồ dùng cho cuộc tế) và một số công trình phụ khác.

Theo quan niệm “Vua là Thiên tử“ (con trời) nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế trời đất (cha mẹ của vua), cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất. Lễ Tế Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời Thành Thái, vào năm 1907, thì đổi lại 3 năm một lần.

Công việc chuẩn bị được giao cho bộ Công và bộ Lễ, tiến hành hàng tháng trước khi tế, liên quan đến nhiều nghi lễ phức tạp, vật dụng tốn kém. Các quan và bản thân nhà vua cũng phải trai giới 3 ngày trước khi tế. Dưới thời Bảo Đại, thời gian trai giới rút xuống còn 1 ngày.

đàn nam giao , trai cung

Người ta gọi những con vật được đem ra cúng trong dịp này là các con sinh (hay còn gọi con sanh). Đó là trâu, heo, dê. Hàng chục con được tập trung vỗ béo từ trước bằng những thức ăn tinh sạch. Khâm Thiên Giám có nhiệm vụ xem ngày lành tháng tốt. Vua đích thân ban hành những chiếu dụ thông báo cho dân chúng, tri ân cho các quan và cho phép giảm án tù.

Dọc đường từ Đại Nội đến Giao Đàn, nhân dân phải kết cổng chào, lập hương án đón đám rước nhà vua đi qua. Đoàn Ngự đạo của nhà vua sẽ đi ra từ Ngọ Môn, vượt sông Hương qua cầu phao bằng thuyền (khi chưa có cầu Trường Tiền), đến Nam Giao bằng con đường mà trước đây gọi là “Nam Giao cựu lộ“ là đường Phan Bội Châu và “Nam Giao tân lộ” tức là đường Điện Biên Phủ ngày nay.

Cuộc lễ chính thức bắt đầu lúc 2 giờ sáng, với nhiều nghi lễ lần lượt tiến hành ở các tầng đàn, có sự tham gia của các quan cũng như sự góp mặt của dàn nhạc (chuông, trống, chiêng, khánh, tù và, nhị, sáo…). 128 văn công và vũ công múa Bát Dật, các ca công hát 9 khúc nhạc tế trong 9 giai đoạn khác nhau của cuộc lễ. Sau gần 3 tiếng đồng hồ, buổi tế mới kết thúc.

Lễ Tế Giao cuối cùng của nền quân chủ Việt Nam được tổ chức dưới thời vua Bảo Đại, vào nửa đêm rạng ngày 23-3-1945, đúng 5 tháng trước khi nền quân chủ ấy sụp đổ hoàn toàn.

Ngày nay, đàn Nam Giao trở thành một chứng tích lịch sử quan trọng trong cụm di tích triều Nguyễn.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

VÕ MIẾU

VÕ MIẾU HUẾ

-Võ_miếu2

Võ Miếu hay Võ Thánh, gọi tắt của Võ Thánh miếu, tại Huế là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới triều Nguyễn, đây còn là nơi thờ một số danh tướng Trung Quốc.

Sau khi Văn miếu Huế được xây dựng, các tỉnh khác tại Việt Nam cũng lần lượt xây dựng Văn Miếu tại địa phương. Đến năm 1835 dưới thời Minh Mạng, khi quyết định xây dựng ở ấp Nội Súng thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà (nay thuộc địa bàn xã Hương Hồ), triều đình nhà Nguyễn đã bàn bạc rất kỹ lưỡng về một số vấn đề liên quan đến việc thiết lập Võ miếu mà đặc biệt nhất là ý nghĩa của nó. Bộ Lễ “kiến nghị” với nội dung như sau: “Đường lối trị nước, văn võ đều trọng. Xét trong điển lệ quốc triều, trong Kinh và ngoài các tỉnh đều có làm nhà Văn Miếu, xuân thu tế lễ, thực vì cho rằng đạo của Thánh nhân bao hàm tất cả: có văn tất có vũ bị, đành rằng đủ để khích lệ phong hoá và đào tạo nhân tài, song thiết tưởng lễ nhạc nhà học chỉ riêng trong văn hoá, còn vũ giáo chưa được tiêu biểu. Vậy nghĩ nên lập Võ Miếu để cho những người theo việc cung đao biết hướng trong mong, bắt chước, cũng là cái lý do nghĩa lý nảy ra lễ nghi”. Sau khi nghe Bộ Lễ tâu lên, Vua Minh Mạng tỏ thái độ đồng tình. Mở đầu bài dụ về việc thiết lập Võ Miếu, nhà vua viết: “Điều cốt yếu trị nước là cả văn lẫn võ, không thể riêng bỏ một bên nào. Việc đặt ra Võ Miếu là lẽ nên làm…Từ Đinh, Lê, Lý, Trần đời nào cũng có người phò tá đời ấy, chẳng thiếu gì người tài giỏi binh cơ tướng lược. Huống chi bản triều từ khai quốc đến trung hưng, trong khoảng ấy những bầy tôi bày mưu giúp sức, công liệt rực rỡ, không kém người xưa, đáng nên biểu dương để khuyến khích nhân tài”. Có thể thấy đây là những là những suy nghĩ tích cực của vua Minh Mạng vì không chỉ có tác động trong hiện tại mà öng còn mong muốn nuôi dưỡng tinh thần thượng võ cho con cháu mai sau. Vua chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ.

võ miếu 1 , bia đá

Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương.

Với chu vi khoảng 400m, kiến trúc gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, chính doanh 3 gian 2 chái, tiền doanh 5 gian. Phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Xung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có “Tể sinh sở”, là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế. Ở khắp bên trong và bên ngoài khuôn viên của Võ Miếu, cho trồng nhiều cây bàng để tạo bóng mát.

Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), triều đình nhà Nguyễn cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu khắc ghi tên học, quê quán, chức tước và công trạng 10 danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng gồm: Trương Minh Giảng (người Gia Định), Phạm Hữu Tâm (người Thừa Thiên), Tạ Quang Cự (người Thừa Thiên), Nguyễn Xuân (Thanh Hoá), Phạm Văn Điển (Thừa Thiên), Phan Văn Thuý (Quảng Nam), Mai Công Ngôn (Thừa Thiên), Lê Văn Đức (Vĩnh Long),Trần Văn Trí (Gia Định) vàTôn Thất Bật (người Thừa Thiên). Năm 1854, do bị quy tội “dự mưu” trong chính biến của Hồng Bảo (anh vua Tự Đức), Tôn Thất Bật đã bị đục tên.

Dưới thời Tự Đức, triều đình cho dựng thêm hai tấm “Tiến sĩ võ”, ghi những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ: khoa Ất Sửu (1865), khoa Mậu Thìn (1868) và khoa Kỷ Tỵ (1869), bao gồm: Võ Văn Đức (Quảng Nam), Võ Văn Lương (Quảng Trị), Văn Vận (Thừa Thiên), Phạm Học (Quảng Nam), Nguyễn Văn Tứ (Bình Định), Dương Việt Thiệu (Thừa Thiên), Đỗ Văn Kiệt (Quảng Trị), Đặng Đức Tuấn (Bình Định), Trần Văn Hiển (Thừa Thiên) và Lê Văn Trực (Quảng Bình)

Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương…, trong miếu còn có bài vị thờ Quản Trọng, Lý Thạch, Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Quách Tử Nghi… là các danh tướng Trung Quốc. Việc tế lễ ở Võ Miếu được tổ chức một năm 2 lần vào mùa thu và mùa xuân. Phẩm vật cúng tế có những quy định riêng, chủ yếu vẫn là tam sinh (trâu, heo, dê) và hương hoa, quả phẩm.

Võ Miếu được lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI


 
%(count) bình luận

Posted by trên Tháng Chín 10, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , , , , , ,