RSS

Tag Archives: văn hóa

QUAN NIỆM NGÀY THÁNG TRONG LỄ CƯỚI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC CHĂM BALAMON Ở BÌNH THUẬN

Đồng bào Chăm là một dân tộc thiểu số, sinh sống trên nhiều địa phương khác nhau ở Việt Nam,. Ở tỉnh Bình Thuận dân tộc Chăm có trên 30.000 người với 14.994 nữ, cư trú ở 4 xã thuần thuộc 2 huyện Bắc Bình, Tuy Phong và 9 thôn xen ghép thuộc 4 huyện: Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh và Hàm Tân.

Là một dân tộc thiểu số có trình độ kinh tế, xã hội phát triển khá nhưng vẫn còn lưu giữ yếu tố mẫu hệ rất đậm nét. Vì vậy, nói đến vai trò phụ nữ Chăm, không chỉ đề cập đến lối sống ứng xử, lễ nghi cộng đồng, tập tục, cưới xin, tang ma… mà còn nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, đến yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, đến thiết chế đặc thù của dân tộc dựa trên quan hệ dòng tộc của chế độ mẫu hệ, trong đó, thể hiện rõ nét nhất trên lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Do người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên trong hôn lễ càng có những nét khác biệt hơn so với các dân tộc khác, nhất là về phương diện thời gian (xem ngày, giờ, tháng) tổ chức một lễ nghi trong gia đình cũng như trong dòng tộc. Vì thế, để tổ chức một cuộc hôn lễ, dân tộc Chăm chọn giờ khắc, ngày, tháng rất chu đáo và gần như là cố định. Để thấy rõ hơn chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu quan niệm giờ, ngày, tháng trong lễ cưới theo lịch Chăm Balamôn giáo ở Bình Thuận.

Giờ: Dân tộc Chăm quan niệm rằng, một ngày từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn thì có 8 giờ (nghĩa là có 4 giờ sáng và 4 giờ chiều) và mỗi giờ được tính là một tiếng rưỡi (90 phút). Ban đêm cũng có 8 giờ nhưng chỉ được tính từ 6 giờ đến 12 giờ khuya mà thôi. Còn từ 0 giờ đến 6 giờ sáng thì không được tính, vì theo dân tộc Chăm đó là thời gian Âm – Dương phối hợp gặp nhau, sẽ không có những điềm lành.

Ngày: Đối với ngày của người Chăm, một tuần lễ được chia làm 7 ngày, tên gọi các ngày cụ thể như:

*Thon: Thứ hai;

*Angar: Thứ ba;

*But: Thứ tư;

*Jip: Thứ năm;

*Suk: Thứ sáu;

*Thanưgar: Thứ bảy;

*Adit: Chủ nhật.

Tháng: Theo lịch Chăm trong một năm cũng gồm 12 tháng. Những tháng lẻ 1,3,5,7,9,11 thì có 30 ngày. Những tháng chẵn: 2, 4, 6, 8, 10, 12 thì có 29 ngày.

Căn cứ vào thời gian đã trình bày ở trên, người Chăm quan niệm ngày, tháng và tổ chức lễ cưới như sau:

+ Trong hôn nhân, phụ nữ là người chủ động đến hỏi và cưới chồng. Thông thường hôn lễ được cử hành vào buổi chiều của thứ tư trong tuần, lại là ngày âm chẵn thuộc các tháng 3, 6, 10, 11 chăm lịch (thường nhằm vào tháng 1, 6, 10, 12 Dương lịch). Vậy thì tại sao dân tộc Chăm lại tổ chức hôn lễ vào buổi chiều của ngày thứ tư trong các tháng 3,6,10,11 chăm lịch?. Bởi họ quan niệm rằng, buổi chiều là thuộc về Âm – Dương, tượng trưng cho tuổi về già, sống với nhau lâu dài và hạnh phúc.

Riêng thứ tư, đó là một ngày giữa tuần (ngày âm chẵn giữa tuần lệ thứ sáu). Đây là ngày mà Âm – Dương gặp nhau, một ngày mà tình cảm giữa vợ và chồng hòa hợp, hạnh phúc. Đồng thời cũng là một ngày thuộc về đất nẻ, nghĩa là một thứ đất có nhiều màu mỡ dùng để trồng trỉa hoa màu, cây cối. Vì thế, nếu tổ chức đúng vào ngày trên thì sau này vợ chồng sẽ “con đàn cháu đống”, gia đình sum họp, hạnh phúc. Đặc biệt, người Chăm còn quan niệm, thứ tư như là một con người và lấy rốn làm trung tâm. Nghĩa là trên cơ thể con người từ đầu, cổ đến ngực tượng trưng cho ngày chủ nhật, thứ hai, thứ ba, đây là phần làm nghĩa vụ lớn cho cha mẹ. Còn dưới rốn trở xuống bàn chân tượng trưng cho thứ năm, thứ sáu, thứ bảy là phần làm nghĩa vụ vợ chồng.

Đối với việc chọn các tháng 3,6,10,11 để tổ chức cử hành hôn lễ, dân tộc Chăm quan niệm như sau:

Tháng 3 thuận về thóc lúa và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 6 thuận về tài sản, nghĩa là mùa gặt lúa tháng 3 và bắt đầu gieo màu thứ hai trong năm. Tháng 10 thuận phát tài to, tức là tháng mùa gặt hái hoàn toàn và công việc khác đều đã thu hoạch xong. Tháng 11 thuận về hưng thịnh, mùa gặt hái hoàn toàn và mọi công việc khác đều đã thu hoạch xong.

Quan niệm giờ, ngày, tháng để tổ chức các lễ nghi của dân tộc Chăm Balamôn ở Bình Thuận rất phong phú và đa dạng mang đậm yếu tố bản sắc văn hóa Chăm, trong đó có việc chọn giờ, ngày, tháng trong hôn lễ. Việc chọn giờ, ngày, tháng trên một phần phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp, phần khác phụ thuộc vào thuyết âm, dương.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


Advertisements
 

Nhãn: , , , , , ,

HỘI THI GÁNH CÁ

HỘI THI GÁNH CÁ

Hội thi gánh cá – nét đẹp truyền thống của ngư dân vùng biển La Gi (Bình Thuận)

Mỗi năm cứ đến rằm tháng 9, những người phụ nữ làng Tam Tân – Tân Tiến- La Gi lại chuẩn bị cho hội thi gánh cá, một hoạt động thể thao mừng lễ hội Dinh Thầy Thím chỉ có duy nhất ở làng này. Những năm tổ chức ở cấp thôn, xã, “đặc sản” này giờ trở thành hội thi không thể thiếu của thị xã La Gi trong lễ hội văn hóa – du lịch Dinh Thầy Thím.

Bất cứ người phụ nữ nào cũng nói được vanh vách ý nghĩa của hội thi. Đó là thể hiện sự biết ơn Thầy Thím đã dạy dân làng biết nghề đóng tàu, đi biển. Mà đàn ông đi đánh cá thì phụ nữ phải biết thu hoạch, buôn bán cá. Hơn nữa, là phụ nữ vùng biển thì chị em nào cũng gắn liền với quang gánh, buôn bán chăm lo cuộc sống gia đình. Những hoạt động thường nhật này đã được người làng Tam Tân phát triển thành hoạt động văn hóa tinh thần để vui chơi sau những mùa lao động. Bờ biển là sân thi đấu. Đôi quang gánh với trọng lượng trên 15 kg, các chị chia thành từng tốp, vừa gánh vừa chạy thi với nhau. Những người chạy nhanh nhất của từng tốp sẽ tiếp tục thi với nhau để chọn người giỏi nhất. Người phụ nữ gánh giỏi nhất được nhìn nhận không chỉ giỏi nhất hội thi, mà còn được những người đàn ông xem là người đảm đang, xốc vác, vun vén giỏi của gia đình. Điều đặc biệt là các vận động viên chẳng ai tập luyện trước hội thi nhưng ai cũng giỏi, bởi hàng ngày các chị đã phải gánh gồng lo chợ búa. Cứ đến cận giờ thi là mang quang gánh tới, đàn ông và con cái lo hậu cần và làm cổ động viên, làm ban tổ chức và làm trọng tài. Tiếng còi cất lên là các chị thi nhau thể hiện sự giỏi giang, nhanh nhạy trước mày râu. Chỉ tổ chức mỗi năm một lần vào dịp lễ hội Dinh Thầy Thím, nhưng hội thi gánh cá của phụ nữ làng Tam Tân nói riêng, của xã Tân Tiến và thị xã La Gi nói chung là một hoạt động hết sức đặc sắc, thu hút khá đông người tham gia, đặc biệt là sự hưởng ứng của du khách bởi tính bình dân, gần gũi với hoạt động lao động hàng ngày nhưng lại là “đặc sản” duy nhất được tổ chức tại vùng biển La Gi.

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , , , , , ,

LỄ DỜI LÀNG

Lễ dời làng Phan Lâm Phan Sơn

Thực hiện chủ trương của nhà nước, đồng bào dân tộc K’ho ở xã Phan Sơn và Raglai xã Phan Lâm đã tiến hành dời làng từ vị trí của hai xã cũ về khu tái định cư mới, cách nơi ở củ khoảng vài km để dành đất làm hồ thủy lợi, phục vụ cuộc sống của chính họ và các vùng khác của huyện Bắc Bình.

Gần như cùng một thời điểm, cả người K’ho ở xã Phan Sơn và Raglai xã Phan Lâm đều tiến hành. Việc chuẩn bị của nhân dân hai xã đã được xúc tiến cả tháng nay, càng gần đến ngày lễ việc chuẩn bị càng gấp rút và chặt chẽ, chính xác. Cũng là lễ dời làng nhưng mỗi dân tộc có một cách thức tổ chức riêng biệt, với nội dung và hình thức riêng.

Về hình thức, người K’ho ở xã Phan Sơn theo nghi thức cổ truyền, họ phải dựng một cây nêu cao, thân bằng tre có nhiều cành nhiều ngọn là những hoa văn bằng sợi lồ ô kết hợp với những ống lồ ô nhỏ, những thanh gỗ kết lại với nhau thành từng chùm để khi treo lên ngọn nêu,sẽ tạo nên tiếng kêu lách tách khi có ngọn gió thổi vào trông rất thích mắt và êm tai…. Để làm được cây nêu của người K’ho tại xã Phan Sơn, già làng phải huy động nhiều người làm việc trong bảy ngày để chạm khắc và vẽ trang trí hoa văn.

Vì tất cả mọi giá trị văn hóa về mặt tinh thần, mỹ thuật đều tập trung ở cây nêu, nhìn vào cây nêu người ta có thể nhận biết được nội dung lễ hội gì và của dân tộc nào.

Cây nêu sau khi được hoàn tất phải được già làng làm lễ dựng. Khác với người K’ho ở Đông Giang cây nêu được chôn riêng, cây gỗ cột trâu chôn riêng. Còn ở đây, cây nêu bằng tre được cắm vào đầu cây gỗ cột trâu nối thành một cây dài, chôn nơi trung tâm của cuộc lễ. Riêng người Raglai ở Phan Lâm thì cây gỗ cột trâu cũng chính là cây nêu. Đơn giản hơn người ta chỉ trang trí hoa văn bên trên cột, trên cùng của cây cột người ta vót nhọn hình lưỡi mác vươn lên bầu trời và cắm vào một số hoa văn bằng sợi lồ ô hoặc những vòng tre nứa. Không phải bên nào bài bản hơn bên nào và cũng không phải bên nào hoành tráng hơn, mà đơn giản chỉ là do phong tục tập quán của mổi dân tộc khác nhau. Đó cũng là một phần của bản sắc văn hóa lâu đời của họ.

Lễ dời làng bắt buộc phải giết trâu, vì người ta tin tưởng rằng thần Núi, thần Đất xưa nay vốn ưa chuộng con trâu làm lễ vật. Kèm theo con trâu lúc nào cũng có một con dê hiến tế và 2 cặp gà cúng sống. Mặc dù đã được cúng sống trước, nhưng những con vật kia sau khi chế biến thành các món ăn chín đều được cúng lại một lần nữa… Cũng là cách giết trâu nhưng đối với mỗi dân tộc thể hiện một cách thức riêng biệt. Như người K’ho ở xã Phan Sơn trước khi con trâu bị giết, người ta phải tắm sạch sẽ cho nó và cột vào cột nêu một đêm để sáng sớm hôm sau kịp hóa kiếp. Khi hóa kiếp người ta dùng chà gạt thật bén chém vào hai chân sau làm cho con trâu khuỵu xuống, tiếp theo một người dùng lưỡi giáo bén đâm phập vào thân tới tim, người khác dùng kiếm bồi thêm cho đến khi tắt thở. Lúc này già làng đến cạnh con trâu làm phép và khấn đưa linh hồn nó qua kiếp khác, rồi lấy một chiếc khăn đắp mặt con trâu

lại. Chứng kiến những cảnh đó, nhiều người cảm thấy sợ và thương cho con trâu, nhưng là lễ quan trọng của cả làng nên không thể khác được. Trước đó, người ta đã hóa kiếp một con dê để dẫn đường cho con trâu đi theo. Còn người Raglai ở Phan Lâm chỉ dùng kiếm cứa vào cổ trâu cho đến chết, sau đó mới hóa kiếp một con dê. Sau khi xả thịt xong, người K’ho ở xã Phan Sơn treo đầu trâu (nửa phía trước) lên cột nêu và treo đuôi trâu vào bàn thờ trong nhà lễ. Người Raglai xã Phan Lâm thì chỉ treo hàm con trâu lên cột nêu.

Sau khi hoàn tất việc hiến tế,người chủ lễ ở Phan Lâm lấy một ít huyết trâu sống, bánh trái và các lễ vật khác cho vào túi và đi đến 4 góc của làng mới, tại đây người ta làm lễ để cúng thần đất và để vào đó một phần, không quên khấn vái các vị thần hỗ trợ cuộc sống của đồng bào nơi ở mới. Cũng như vậy nhưng người K’ho ở Phan Sơn lại thực hiện khác,bằng cách đóng một cái đinh bằng gỗ xuống 4 vị trí của làng mới, tiếp theo để vào đó một số huyết trâu sống và các lễ vật khác rồi cũng khấn vái các vị thần,cầu mong những điều tốt đẹp cho dân làng.

Lễ dời làng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng cho đời sống mỗi người, sau buổi lễ người ta nghĩ rằng các vị thần sẽ phù trợ cho họ trong việc làm ăn, mùa màng tươi tốt, con người không bị bệnh tật và cuộc sống tốt hơn. Trước đây, đã nhiều lần dời làng với những lý do bất khả kháng vì cuộc sống hoặc vì an ninh của cộng đồng. Còn hôm nay, dời làng vì một nghĩa lớn là lấy đất cũ để phục vụ cho công trình thủy điện, thủy lợi phục vụ lợi ích cộng đồng lớn và được thực hiện nghi lễ dời làng, ai cũng phấn khởi, tin tưởng vào sự phát triển của làng mới..

MỤC LỤC – BÌNH THUẬN –  PHAN THIẾT

MỤC LỤC – VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CHÙA VỌNG CUNG

chùa vọng cung

Chùa tọa lạc ở số 28 đường Trần Phú, thành phố Nam Định. Chùa được dựng vào thời Gia Long (1802-1820). Xưa chùa là nơi đón tiếp nhà vua và các quan văn võ đi kinh lý. Chùa bị hư hỏng nhiều lần qua các cuộc chiến tranh. Từ năm 1983 đến 1986, Hòa thượng trụ trì Thích Thuận Đức đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa quy mô như ngày nay. Chánh điện được xây dựng rộng thoáng, bài trí tôn nghiêm. Chùa đang được tiếp tục mở rộng. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nam Hà, là nơi đón tiếp hàng vạn Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái hàng năm.

chùa vọng cung , vườn tháp

Chùa Vọng Cung nằm giữa phố phừờng sầm uất của thành phố Nam Định (tỉnh Nam Định). Vào thời Gia Long (1802 – 1820), công trình đựơc xây cất để đón tiếp vua và các quan đi kinh lý. Năm 1950, nhà sư Thích Tâm Tri từ chùa Quán Sứ (Hà Nội) về Nam Định mở lớp Phật học và xin được tu tạo hành cung xưa thành ngôi chùa. Vì thế, chùa Vọng Cung có nét riêng không giống một ngôi chùa nào ở Việt Nam: chính điện có thể một lúc chứa hàng trăm người. Ngôi chùa lớn trên khuôn viên rộng gần 3.000 m2 thu hút rất đông khách du lịch gần xa, cùng bà con trong vùng đến ngoạn cảnh, thắp hương, nhờ chùa Vọng Cung ở giữa phố Hà Huy Tập sầm uất, quả là hiếm quý ở thành phố Nam Định. Chùa lại có lai lịch cùng kiến trúc khác thường. Các tòa nhà hai tầng ngang dọc đã được sửa sang, tô điểm, với kiến trúc mái chồng diêm, đầu đao cong vút vốn là hành cung được xây cất vào thời Gia Long (1802 – 1820). Xưa chùa là nơi đón tiếp nhà vua và các quan đi kinh lý. Năm 1950, nhà sư nổi tiếng Thích Tâm Tri, pháp danh Tuệ Lạng, từ chùa Quán Sứ (Hà Nội) về Nam Định mở lớp Phật học, xin được tu tạo hành cung xưa thành ngôi chùa. Từ năm 1983 – 1986, Hòa Thượng trụ trì Thích Thuận Đức đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa quy mô như ngày nay. Trải nhiều thế hệ sư tổ, nay trụ trì là Hòa thượng Thích Tâm Thông, đã ngoại tám mươi. Nơi cửa thiền này được chính quyền giúp đỡ và dân thành phố góp công, góp của tu tạo, dần dà trở thành ngôi chùa lớn và một trung tâm đào tạo tăng ni. Khách thăm qua hai cổng tả, hữu, đã gặp khoảng sân rộng, rợp bóng cây to và cây cảnh bôn-sai. Tĩnh mịch và xanh mát làm dịu lòng khách giữa nơi phố xá ồn ào. Cầu thang rộng đặt dưới mái hiên dẫn khách lên gác hai là chùa chính năm gian rộng (chẳng gặp ở bất cứ chùa nào trên đất nước). Đại bái có thể chứa một lúc hàng trăm người thăm. Bàn thờ Phật trang nghiêm, u tĩnh đặt ở hậu cung hương khói ngày đêm. Tượng thờ sơn son thếp vàng, mang dấu ấn thời Nguyễn, kỹ lưỡng, mềm mại. Đẹp nhất là những pho Tam thế Tây phương: Thích Ca, Phổ Hiền, Văn Thù, A Nan, Ca Diếp, Cửu Long… Tầng dưới chùa là nhà tổ, nhà trai, bên cạnh nhà giảng rộng, đủ chỗ cho hai trăm sễ trẻ học kinh.

Nghệ thuật chạm, khắc gỗ điêu luyện thế kỷ 19 cũng để lại dấu ấn trên nhiều mảng kiến trúc và trang trí. Các tác phẩm điêu khắc không nhiều, nhưng lạ mắt. Đôi câu đối là hai tác phẩm độc đáo chạm lộng rồng nổi, thếp vàng trên toàn bề mặt, chữ thì đặt nổi trên hình. Hai bức cửa võng ở hậu cung, viền chạm trổ đôi rồng chầu mặt nguyệt; trong chạm “mai-điểu” với bố cục lạ mắt mà hài hòa.

Trong số những hiện vật, đồ thờ bằng đồng, đặc sắc là quả chuông lớn, điểm chuông sớm tinh mơ thì tiếng ngân vang tới ngoại thành.

Bảo Anh

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙA TẠI MIỀN BẮC


 

Nhãn: , , , , , , , , , , ,

CHÙA CỔ LONG AN

CHÙA CỔ LONG AN

Trà Ôn, Vĩnh Long – Một di tích lịch sử

Cách trung tâm thị trấn Trà Ôn trên 3km, từ Quốc lộ 54 theo đường nhỏ khoảng 500m, đến chùa cổ Long An. Chùa còn có tên Đồng Đế, tọa lạc tại ấp Mỹ Trung, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn (Vĩnh Long). Theo các cụ cao niên, cách nay gần hai thế kỷ, nơi đây đồng hoang mọc nhiều cây đế dại, dân cư thưa thớt.

Thập niên 1860 có vị tu sĩ từ miền Ngũ Quảng vào chọn nơi đây làm chỗ dừng chân tu hành. Sơ khởi là am nhỏ, ông khai hoang mở đất làm rẫy sinh sống. Đến cuối thế kỷ 19, gia tộc ông Cả Lảm là người mộ đạo, hiến 30 công đất để xây chùa và làm tự điền, hằng năm có hoa màu, lúa thóc phục vụ lễ lạc, xây dựng. Chùa được đặt tên là Long An. Năm 1931 Hòa thượng Thích Khánh Anh đang làm pháp sư tại trường Gia giáo chùa Giác Hoa (Bạc Liêu) được thỉnh về làm trụ trì để hoằng khai đạo pháp. Lúc này tăng đồ và phật tử theo học rất đông. Đến năm 1842 Hòa thượng Khánh Anh về chùa Phước Hậu, các Hòa thượng Thiện Lực, Thiện Trang, Nhựt Liên… lần lượt được trông nom ngôi Tam bảo.

Chùa có kiến trúc cổ kính gồm chính điện, hậu liêu, nhà trai trên diện tích khoảng 500m2, nền được cuốn gạch đại cao 0,5m. Tiền điện hướng Đông Bắc nhìn ra QL 54. Bao quanh là khuôn viên rộng thoáng, có cổ thụ sao dầu dương, bờ tre, khóm trúc, cây trái tạo nên cảnh quan đẹp, yên tĩnh.

Đến thập niên 1960 chùa do tu sĩ Hồ Văn Lục pháp danh Thích Phước Y chăm sóc. Thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh, bom đạn, thiên nhiên tác hại, lại xa khu dân cư, chùa dần dà xuống cấp. Tu sĩ Phước Y thu hẹp chính điện, quay mặt về hướng Đông. Ông vận động phật tử xây nhà Tổ, cổng tam quan, tháp các Tổ, trồng thêm hoa kiểng. Tháng 4 năm 2000 do tuổi cao sức yếu, Ban trị sự Phật Giáo Vĩnh Long điều Đại đức Thích Tuệ Quang là môn đệ của Thượng tọa Thích Thanh Từ về quán xuyến. Chỉ trong thời gian ngắn, chùa đã xây dựng thêm nhà trai, hai thất tịnh, cải bổ lại huê viên, tạo vườn tược quanh chùa đẹp đẽ, trang nhã.

Tính từ các Tổ khai sáng mà công dày đạo trọng là Hòa thượng Khánh Anh đến Đại đức Tuệ Quang, ngày nay chùa Long An trải qua bốn, năm đời trụ trì, giám quản và cũng nhiều lần hưng phế… Các di vật xưa còn lại là hai hoành phi: Long An tự, Đại hùng bửu điện, và các câu liễn đối, có câu với nội dung: Phật tức tâm, tâm tức phật tế độ hữu duyên siêu vạn kiếp. Sắc thị không, không thị sắc quang minh vô lượng chiếu thập phương. Tất cả bằng chữ Hán, móc chìm sơn son thếp vàng, tạo tác khoảng 100 năm. Ở nhà Hậu Tổ có bệ thờ có di ảnh cố Hòa thượng Khánh Anh, Thiện Hoa, Thiện Hòa, Nhựt Liên. Quanh sân chùa có tháp trì cốt Hòa thượng Thiện Lực, Thiện Trang…

Có lịch sử hình thành lâu đời, chùa Long An còn là điểm dừng chân của các cao tăng nổi tiếng ở Nam bộ: Khánh Anh, Huệ Quang, Khánh Hòa, Pháp Hải… lập nên Liên đoàn Học xã hoằng dương chánh pháp, truyền bá quốc ngữ. Tiếp đến có Thượng tọa Thiện Hòa, Thiện Hoa trở về duy trì chí hướng các Tổ quy tập được tăng đồ, phật tử khá đông. Cũng tại ngôi chùa này ngày 30 tháng Giêng Tân Sửu (16/4/1961) Hòa thượng Thích Khánh Anh viên tịch khi đang đảm nhận trọng trách là Thượng Thủ kiêm Pháp chủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Trong các thời kỳ đấu tranh giành độc lập, khuôn viên chùa là căn cứ địa hoạt động, giao liên của lực lượng cách mạng huyện Trà Ôn. Các tu sĩ giữ chùa hoạt động hợp pháp đóng góp tiền của vật dụng, thuốc men… cho cách mạng.

MỤC LỤC  – KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO

*MỤC LỤC – CÁC NGÔI CHÙATẠI MIỀN NAM


 

Nhãn: , , , , , , , , ,

HOÀNG THÀNH

HOÀNG THÀNH

hoang thanh

Hoàng Thành là vòng thành nhỏ thứ hai trong phòng thành . Quần thể các công trình kiến trúc trong Hoàng Thành được bức tường thành kiên cố hình chữ nhật bao quanh, hai mặt trước và sau dài 622m, hai mặt bên dài 604m.

Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đinh, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành – nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.

Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt. Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian). Các khu vực đó là:

– Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát.

– Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành – nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới)… đến điện Thái Hòa – nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch ), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh…

hồ tịnh tâm , đảo bồng lai

– Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu thờ Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn (Thế Tổ Miếu).

– Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu).

– Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn… (phía sau, bên trái).

– Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ)

Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung) …

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” (hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” – kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị, thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng, quan văn một bên, quan võ một bên. Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu. Nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, khu di tích Đại Nội đang dần được trả lại dáng xưa cùng các di tích khác nằm trong quần thể kiến trúc đã được cả nhân loại công nhận là Di sản Thế giới. Được sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa trong cộng đồng quốc tế thông qua các cuộc vận động nhằm cứu vãn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóa Huế, nhiều di tích ở hoàng cung Huế đã từng bước được phục hồi, trở lại nguyên trạng cùng nhiều công trình khác đang được bảo quản, sửa chữa, góp phần gìn giữ khu di tích lịch sử thuộc triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI



 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 20, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , , , , , , ,

CUNG TRƯỜNG SANH

CUNG TRƯỜNG SANH

Trong quần thể di tích cố đô Huế, Cung Trường Sanh hay Cung Trường Sinh ), còn có tên gọi khác là Cung Trường Ninh được xây dựng phía Tây Bắc Hoàng thành với vai trò ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều Nguyễn mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn cảnh. Về sau cung được được chuyển thành nơi ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu. như bà Lệ Thiên (vợ vua Tự Đức), bà Từ Minh (vợ vua Dục Đức), bà Tiên Cung (vợ vua Đồng Khánh)…

Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc cảnh quan của Cung Trường Sanh được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy và được vịnh thơ trong Thần kinh nhị thập cảnh[ liệt kê 20 thắng cảnh của kinh đô Huế .

Cung điện thời Nguyễn, nằm ở góc tây bắc trong Hoàng thành, phía sau cung Diên Thọ. Cung được khởi công xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 1 (1821), với tên ban đầu là cung Trường Ninh, kiểu thức như một hoa viên. Kiến trúc ban đầu xếp theo hình chữ tam, gồm một điện chính ở giữa, một điện phía trước, một lầu phía sau và một số công trình phụ ở xung quanh Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cung Trường Ninh được trùng tu lớn, với sự nâng cấp quy mô và kiểu dáng kiến trúc . Kiến trúc chính của cung giai đoạn này xếp theo hình chữ Vương (王) với hệ thống hành lang tạo nét sổ (丨) giữa chữ, nối kết các cung điện với nhau. Hệ thống cung bao gồm điện Thọ Khang đặt chính giữa, tòa Ngũ Đại Đồng Đường phía trước và lầu Vạn Phúc đứng sau cùng. Ngoài ra, phía trước nhà Ngũ Đại Đồng Đường có Phường Môn, phía sau lầu Vạn Phúc có xếp mấy ngọn đá giả sơn mang tên núi Bảo Sơn, núi Kình Ngư, núi Hổ Tôn v.v. Vòng quanh Cung còn có lạch nước Đào Nguyên nhân tạo nối qua hồ Nội Kim Thủy ở phía Bắc. Ngang qua con lạch bắc những cây cầu sơn màu đỏ để tiện đi lại.

Năm 1923, vua Khải Định tiếp tục cho tu bổ cung, đổi tên thành cung Trường Sanh đồng thời dựng thêm hai tòa nhà để xe ở phía trước, gần cổng vào cung.

Cụm di tích cung Trường Sanh bị bom đạn đánh sập năm 1945. Từ năm 1954 vùng đất này trở thành thành khu dân cư và bị biến dạng cảnh quan nghiêm trọng

trải qua thời gian và các biến động lịch sử, kiến trúc cung Trường Sanh đã có nhiều thay đổi và phần nhiều đã bị xuống cấp nghiêm trọng

Năm 1990, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế dời các hộ dân đã ở trong phạm vi phế tích Cung Trường Sanh ra ngoài khu vực.

Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã khởi công dự án tu bổ, phục hồi khu di tích Cung Trường Sanh, với tổng kinh phí gần 30 tỷ đồng. Dự án hoàn thành vào năm 2007 với việc tu bổ 4 gian nhà trong cung, phục hồi lạch Đào Nguyên, các hòn non bộ, hồ Tân Nguyệt, vườn cảnh, tường thành, cổng hoàng cung, đồng thời lát gạch Bát Tràng trong sân của toàn cung.

MỤC LỤC – DI SẢN THẾ GIỚI



 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 19, 2009 in Tại Việt Nam

 

Nhãn: , , , , , ,