Thuyngakhanhhoa's Blog

CHÙA PHẬT QUANG

Posted by: thuyngakhanhhoa on: Tháng Mười Hai 22, 2009

Chùa tọa lạc ở đường Võ Thị Sáu, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Điện thoại: 062.3823826.

Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Chùa đã trải qua 18 đời truyền thừa, đã được trùng tu nhiều lần. Chùa còn giữ được nhiều pho tượng và pháp khí cổ.

Từ năm 2000 đến năm 2005, thầy trụ trì Thích Huệ Tánh, đời thứ 44 phái thiền Lâm Tế đã tổ chức đại trùng tu chùa, đặt 15 vườn tượng Phật tích và nhiều cây kiểng ở sân chùa.

Ngôi chính điện hai tầng và hai lầu chuông, trống nổi bật với các mảng ghép sành sứ về nhiều đề tài trên các phù điêu, hoa văn, hàng cột …, đặc biệt là linh vật Rồng 5 móng được thể hiện trên các công trình ghép sành sứ từ nóc mái đến bao lam, cửa sổ, hàng cột … với 22 loại.

Thầy trụ trì cho biết hơn 48 tấn mảnh sành được chở từ miền Bắc vào, miền Nam ra, đã được nhóm thợ người Huế chủ lực lựa chọn sử dụng khoảng 2 tấn. Chính mảng ghép sành sứ mang tính mỹ thuật và kỹ thuật cao đã tôn ngôi chùa vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ kính theo phong cách kiến trúc Á Đông.

Chùa có hai điện Phật được bài trí trang nghiêm. Tầng trên là điện Phật thờ đức Phật Thích Ca, hai bên vách tường có bộ tượng phù điêu Thập Bát La Hán. Điện Phật tầng dưới thờ bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, hai vị Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí) và tượng Bồ tát Địa Tạng.

Chùa đang lưu giữ bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ có ghi đời vua Lê Thuần Tông (1699-1735). Đây là bộ kinh khắc gỗ đầy đủ với 60.000 chữ Hán khắc ngược cả hai mặt trên 118 tấm ván bằng gỗ thị, mỗi tấm dài 0,68m, rộng 0,26m, dày 0,03m, được nhà sư Thiện Huệ thực hiện suốt 28 năm, từ năm 1704 đến năm 1732, dưới sự chủ trì của Thiền sư Minh Dung và sự hỗ trợ của nhà sư Thiện Pháp và 59 nam nữ Phật tử.

Bộ kinh này đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam (Vietbooks) xác lập kỷ lục vào ngày 02-01-2006 và đã phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ đầy đủ và xưa nhất Việt Nam.

Chùa còn có hai kỷ lục khác, đó là quả chuông và cặp mõ gia trì đặt trong chính điện.

Quả chuông gia trì có đường kính 1,2m, cao 1m, nặng khoảng 400kg. Chuông do nhóm thợ người Quảng Nam thực hiện. Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 07-11-2006, trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Quả chuông gia trì lớn nhất Việt Nam trong Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần 6 chủ đề : Kỷ lục Phật giáo Việt Nam do Trung tâm phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức.

Cặp mõ gia trì ở điện Phật, mỗi chiếc cao 0,8m, ngang 0,92m, làm bằng gỗ mít lấy từ huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, do 3 người thợ ở Quảng Nam thực hiện trong 7 năm (1997-2004).

Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 23-10-2007, trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang – ngôi chùa có Mõ gia trì bằng gỗ lớn nhất Việt Nam trong Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần 10 chủ đề : Đêm hội tôn vinh kỷ lục Việt Nam tại Bình Thuân do Trung tâm phối hợp với tỉnh Bình Thuận tổ chức.

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Bình Thuận xưa nay.

Chùa Phật Quang ngày nay là một ngôi phạm vũ tráng lệ, đã được khánh thành vào ngày 05-3-2006 (nhằm ngày 06 tháng 2 năm Bính Tuất). Chùa được giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và các công ty du lịch trong nước và nước ngoài nên số du khách và Phật tử đến viếng chùa thật đông đảo mỗi ngày.


Các bài đã đăng :

*Album Ảnh Về Chùa

*Album Ảnh Về Tượng Tôn Giáo

*Chùa Thiên Mụ

*Chùa Cổ Tôn Thạnh

*Chùa Phật Đà

*Chùa Long Sơn

*Chùa Linh Sơn

*Chùa Vạn Linh

*Chùa Linh Phước  (Chùa Ve Chai )

*Linh Ẩn Tự

*Chùa Kim Tiên

*Chùa Linh Phước

*Chùa Thập Tháp Di Đà

XEO –ƠN- PU- LA- KHƠ

Posted by: thuyngakhanhhoa on: Tháng Mười Hai 22, 2009

XEO –ƠN- PU- LA- KHƠ

Thưa đồng chí nhà báo , chắc đồng chí đã đi nhiều nơi , nhưng nếu không đến Tân Cương thì hẳn không biết đất nước ta rộng lớn nhu thế nào .Người Ngô Duy Nhĩ thường nói , Ở Tân Cươngmuốn ăn cơm phải cữoi con lừa , nếu không ,ăn no ở thôn này , đi tới thôn khác là chết đói ngay .Đây không giống như quê mình , hễ lên xe là ngàn dặm chẳng thấy bóng người , luôn phải làm bạn với máy móc , không biết tâm sự cùng ai . Cho nên , tôi lái xe thường ưa có người xin đi nhờ , mỗi lần gặp ai trên đường tôi đều giảm tốc độ hỏi họ muốn lên xe hay không . Đồng Chí thử nghĩ trên cái sa mạc Gobi mênh mông như thế này mà chỉ nhờ có đôi chân bước thấp bước cao thì ngán đến nỗi nào . Tôi không phải là tay hay tán chuyện , nhưng có người ngồi cạnh mình trong buồng lái thì vơi đi cái cảm giác cô đơn . Hôm nay gặp Đồng Chí nhà báo tôi có vẻ hơi nhiều lời , tôi vẫn thích nói chuyện, kết giao cùng trí thức mà.

Đồng Chí hỏi vì sao tôi lại đến Tân Cương ? Câu chuyện có hơi dài dòng đấy . Quê tôi ở Hà Nam, lên trường huyện học xong sơ trung thì có biết bao nhiêu hoài bão , nào là quân giải phóng , nào là bác sĩ nhà văn, chứ ngờ đâu lại ôm tay lái như thế này suốt một đời . Năm sáu mươi , đói ,ở nhà không có cái mà ăn, nghenói Tân Cương trù phú , bèn lên đây tìm kế sinh nhai . Hồi ấy đường tàu mới chỉ thông tới Vĩ Á , dân “ lưu vong “ đến Tân Cương đều ùn lại ở đó . Vĩ Á chẳng khác nào một cái chợ , đâu đâu cũng thấy lều bạt, tưởng là người Mông Cổ mở hội “Na-Ta-Mu “. Đó là nơi chiêu mộ công nhân của các binh đoàn xây dựng sản xuất ở Tân ương mà đối tượng nhằm vào dân “ lưu vong “ chúng tôi . Nhờ giấy chứng nhận tốt nghiệp sơ trung mà tôi lọt vào danh sách tuyển mộ của một đơn vị khoa giáo , nếu không vì hai con bé đồng hương Hà Nam thì tôi đã trở thành người giáo viên nhân dân lâu rồi . Chúng thấy tôi chọn được công việc nhàn hạ , cũng đòi thử thi xem sao , nhưng tiểu học chưa xong thì làm sao mà thi với cử,bèn nhận liều là bạn học của tôi cùng lên Tân Cương tìm việc làm ăn.Người của bạn tuyển mộ bảo rằng , tôi còn nhỏ tuổi mà đã cặp bồ với những hai cô gái “ lưu vong “khắp nơi như thế này , thật chẳng đứng đắn gì , bèn loại bỏ tôi ra khỏi danh sách .Hai con bé đồng hương nhìn thấy có lỗi , vô cớ đã đập vỡ bát cơm mà tôi vừa cầm trên tay , nên khóc than thảm thiết . Nhìn chúng nó khóc , tôi lại càng mềm lòng , mọi bực tức đều tan biến hết . Thôi nín đi các em, dẫu sao cũng là đồng hương , phải giúp nhau nơi đất khách quê người chứ .Tôi bán số quần áo mang theo , ba anh em có tiền đủ ăn một ngày , sáng hôm sau , sợ liên lụy đến tôi , hai đứa bèn ghi tên đi nông trường . Còn mình tôi , nghe lời một cựu “ lưu vong “ chuẩn bị lên đường tới Cáp Mật thử vận khí xem sao . Tôi đi nhờ một chiếc xe tải , may sao tay tài xế người Hà Nam , mặt mũi hiền từ , nói chuyện cởi mở, chưa đến Cáp Mật thì ông quyết định nhận tôi làm đồ đệ phụ xe .Từ bấy thầy trò tôi going ruổi không biết bao nhiêu là dặm đường , ngoảnh lại mà đã hai mươi năm rồi , xe thay mấy bận , ngày bắc đêm nam ,chạy sang cả xứ người , Liên Xô , Trung Á , cay đắng ngọt bùi đều nếm cả , núi tuyết , hoang mạc , đèo cao , dốc thẳm đều vượt hết , nhiều lúc gặp mưa bão , một mình rơi giữa đường , cũng từng khóc đến giọt nước mắt cuối cùng … Thôi , đừng kể những chuyện ấy nữa , phải không đồng chí nhà báo , tôi sẽ chuyển sang đề tài khác vậy .

Năm thứ hai ở Tân Cương tôi được tin cả cha lẫn mẹ đều tử nạn trên công trường sửa chữa thủy lợi , tôi là con một , thế là từ đó trên đời chẳng còn ai thân thuộc nữa , cô đơn lại càng cô đơn . Hồi ‘Vân cách “ lòng người ly gián , ngăn cách lẫn nhau , tôi ngậm tăm , câm như hến , sư phụ khuyên tôi nên hỏi vợ , thành lập tổ ấm gia đình , có người thương yêu mình sẽ khuây khỏa hơn . Tôi nghĩ cũng phải , nhưng Tân Cương con gái hiếm lắm , kiếm cho ra người vợ đâu dễ . Nhờ bạn đồng hương giới thiệu , tôi kết hôn với một cô gái Thiểm Bắc , cũng vì đói kém mà lên đâykiếm việc làm ăn . Vợ tôi vừa tròn đôi mưoi , tướng mạo đoan trang , cần cù chăm chỉ , chuyện bếp núc , vá may đều thành thạo , lại không như các bà các cô thích ngồi lê mach lẻo , chu đáo hầu hạ chồng , cơm nóng canh ngọt , quần áo sạch sẽ tươm tất , nghĩa là không chê vào đâu được . Nhưng chỉ tội ích kỉ tình cảm , lạnh băng băng , chẳng cười và không bao giờ nói thừa một câu môt chữ , hình như muốn xa cách tôi thì phải . Xin đồng chí nhà báo đừng cười , ngay như lúc ân ái ban đêm cô ta cũng như người chết chưa mặc quần áo , không một chút cảm hứng gì cả , mặc tôi muốn làm kiểu gì thì làm . Thật là ngán , hóa ra lấy vợ còn phiền muộn hơn cả sống độc thân , tôi bắt đầu hút thuốc , uống rượu , tất nhiên là uống ít thôi vì còn phải lái xe . Dăm tháng nửa năm , tôi cảm thấy bà con hàng xóm nhìn mình với con mắt khang khác nên càng bực dọc . Rồi một hôm cùng đàn đúm với dân xế , cơm no rượu say , một cậu lái lỡ mồm tiết lộ , rằng cái thằng canh đốt lò hơi mới “ lưu vong “ đến Tân Cương nào đó thường lảng vảng ra vào nhà tôi . Về tới nơi quan sát vẫn thấy cô ta “ đẹp như hoa đào ‘ lạnh tựa băng giá “ nhà cửa sạch sẽ , cơm nước đầy đủ , áo quần giặt giũ tươm tất , không thể trách cứ điều gì . Nhưng hôm sau phá lệ , giữa trưa xộc vào , thì ôi thôi con dâm phụ của tôi đang trần truồng như nhộng ôm ấp lấy tình nhân , tôi run lên và hỏi hắn : ai đấy ? ,hắn khóc , và tự nhiên lòng tôi mềm ra như bún . Tôi tìm gặp kẻ ngoại tình đã phá nát hạnh phúc gia đình tôi để hỏi tội . Đáng thương thay , họ yêu nhau từ thưở mười bảy , mười tám “ , một mối tình đẹp như “ thanh mai trúc mã” , chàng tòng quân dặm trường chinh chiến , nàng đợi ngày tái ngộ kết hôn , nào ngờ gặp năm mất mùa đói kém , người con gái ra đi nhờ cậy bà dì ruột , sợ cháu mình ăn ở trong nhà tốn kém , bà dì nọ bèn gán gả cô gái cho tôi , và thế là đôi uyên ương bị rẽ cánh , họ nhớ nhau và tìm đến nhau.Tôi thật đau lòng và cảm thấy tình yêu của họ là chân chính , nên ly hôn để cô ấy ra đi với tình lang yêu dấu .Dẫu vẫn biết giữa chúng tôi không có và không còn tình cảm gì nữa , nhưng sự ra đi của nàng cứ để lại nỗi trống vắng trong tôi ,tôi buồn rười rượi, thế là một đời vợ đã qua.dân xế chúng tôi bắt đầu chạy đường dài , một năm bốn mùa , đều ở tận đâu đâu , ngủ trọ nhà nhiều gấp trăm lần so với tổ ấm của mình ,ai cũng mong rảnh rỗi tạt qua thăm vợ thăm con ,còn tôi thì cô đơn lạnh lẽo ,biết về với ai , và những miếng cơm cứ mặn chát và khô khốc , nuốt chẳng buồn trôi . Có điều ngày tháng dần qua , sống lâu thành quen nên nỗi buồn cũng vơi đi nhiều , trước mắt là con đường thẳng tắp , trước mắt là hồ nước xanh trong , trước mắt là thảo nghuyên mênh mông, là trời cao vòi vọi , là mây trắng bồng bềnh , phiền muộn rồi có lúc cũng tiêu tan .

Hai năm sau thì tôi “đi bước nữa” kể lại cũng thật có ý nghĩa . Hồi ấy tôi không hề có ý định lấy vợ , nhưng trời xui đất khiến thế nào lại gặp cô ta trên đoạn đường này .Từ rất xa tôi đã nhìn thấy ngừoi đàn bà chit khăn xám tro bồng đứa con ngồi bên vệ đường , chắc là họ muốn đi nhờ xe , nên tôi từ từ giảm tốc độ , nhưng người đàn bà không hề đứng dậy vẫy tay , chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt vừa hoài nghi , sợ hãi , vừa hy vọng , thỉnh cầu , khiến lòng tôi xốn xang.Tôi cho xe lăn bánh , chạy đâu được vài chục mét , lòng cảm thấy vẫn chưa yên,dừng xe và quay lại hỏi mẹ con họ về đâu , người đàn bà trả lời : Xeo-on-pu-la-khơ , nhưng vẫn do dự không chịu xin lên xe . Người ấy vận cái gió cũng màu xám tro như chiếc khăn chit trên đầu , rất thời thượng và tôi đoán chắc cô là “thanh niên trí thức Thượng Hải” . Tôi biết vì sao cô không đi nhờ xe , chả giấu gì đồng chí nhà báo, trong làng tài xế chúng tôi cũng lắm kẻ xấu hay chọc ghẹo hãm hiếp đàn bà con gái lúc độ đường ngay trên xe . Tôi rút tấm bằng lái đưa cô xem , đoạn cô mới bồng con đứng dậy uể oải theo tôi đi về phía xe đậu . Lên xe rồi , tôi thấy đứa bé rất khác thường , không hiếu động như bao đứa trẻ con khác ,yên lặng nép mình trong lòng mẹ, sờ trán cháu nóng ran , bụng dạ như lửa đốt , nhấn ga cho chạy hết tốc độ , vượt qua thị trấn U-so-ta-la mà vẫn không dừng lại nghỉ đêm .Cô gái trí thức Thượng Hải ấy tưởng tôi có ý đồ xấu , nên hốt hoảng liền mồm hét lớn : dừng xe . Tôi giải thích chúng ta phải chạy nhanh tới bệnh viện , còn ở các thị trấn U-so-ta-la này có đốt đuốc cũng tìm không ra một ông lang. Cô vẫn không nghe , khóc la đến tội nghiệp , đòi xuống xe cho được ,tôi bèn lôi ra cái ca uống nước sơn chữ “Thưởng” quả là liều thuốc an thần đối với người thiếu phụ , cô yên tĩnh trở lại , còn chiếc xe của ba chúng tôi thì lao nhanh về phía trước .Đến thị trấn Ya-Lao , có bệnh viện , nhưng người trực đi vắng , tôi lại cho xe bay tới Khu-ơn –lơ và may mắn gặp bác sĩ quen,gửi gấm xong hai mẹ con họ cho bệnh viện , chớp mắt được một lát thì trời rạng sáng ,nổ máy lên đường .

Một tuần sau trở về , trước là cảm ơn bác sỹ , sau đó thăm hỏi hai mẹ con người thanh niên trí thức Thượng Hải ,anh bác sỹ chọc tôi có cháu bé kháu quá , bị viêm phổi cấp tính , may mà kịp thời cứu chữa .Người mẹ cảm động xin lỗi , tôi nhận thấy cô ta hiền hậu dịu dàng hơn nhiều và hoàn toàn khác hẳn với cái đêm điên cuồng lồng lộn trên xe .Cô chỉ mới hai mươi sáu , hai mươi bảy gì đó ,mắt tròn xoe , nước da vàng vàngvới khuôn mặt ít nhiều âu sầu , thương đau .Đứa bé đã hoạt bát hiếu động , bi bô nói từng tiếng một : mẹ, bảo ,cháu ,lớn ,lên, lái , xe , giỏi , như, chú …Mọi người vỗ tay hưởng ứng , tôi cảm động bởi câu nói ngây thơ đó của cháu , nó còn quý giá hơn bất cứ phần thưởng nào trên đời này , mũi tôi đỏ mọng , đôi mắt cay xè , chực nhỏ lệ , bèn quay người ra sau và giả bộ cười ha ha. Ngày hôm sau tôi nhờ anh bạn đổi hàng đi U –lu-mu-xi, còn mình thuận đường đưa mẹ con họ trở về Xeo-on-pu-la-khơ. Xeo –on-pu-la-khơ tiếng hán có nghĩa “suối nước kiềm” ,trên đường về suối nước kiềm cô thanh niên trí thức Thượng Hải đã kể cho tôi nghe những chuyện buồn vui trong đời.

Thưa đồng chí nhà báo ,đời người kể cũng lạ, có những lúc đồng chí lại muốn nói hết mọi bí mật của mình cho người khác , một người không thân thích hoặc liên quan gì cả ,như hôm nay tôi đang tỉ tê với đồng chí vậy . Cô xuất thân từ một gia đình tư sản , năm sáu tư tốt nghiệp cao trung , với ý thức tự cải tạo và quyết tâm xây dựng biên cương , người con gái ấy tình nguyện lên Tân Cương dạy văn hóa .Năm sáu bảy , phái tạo phản chuyên quyền , cô bị đẩy xuống lao động ở đội sản xuất , và ngày càng bị kỳ thị . rồi một hôm viên đội trưởng lừa cô vào rừng liễu , cướp đi cái quý giá nhất của người con gái . Cô đau đớn chịu đựng , không biết tố cáo với ai và cũng chẳng có cách nào để phá đi cái thai trong bụng , bèn trốn về Thượng Hải lhùa dối cha mẹ , sinh con và để lại nhờ hai cụ nuôi giúp . Năm “phê Lâm phê Khổng” ông bà lánh nạn ở quê , cô phải đón cháu lên Tân Cương , mẹ con đắp điếm với nhau . Tôi nghe và mới hiểu vì sao người thiếu phụ ấy đã nhút nhát như vậy . Tôi hỏi cô sao không lấy chồng , cô thở dài đáp rằng, nơi ấy chẳng còn ngừời đàn ông Thượng Hải nào nữa , mà theo người khác tỉnh thì sau này khó lòng hồi hương .Tôi mạnh dạn triết lý :ngày tháng có tốt đẹp hay không ,chắc không phải là do ta ở nơi nào , mà chính là ta cùng với ai .Cô gật đầu đồng ý với cách nói của tôi nhưng vẫn cho rằng thực tế lại không như vậy .

Từ giã mẹ con người đàn bà ngẫu nhiên gặp trên đường , tôi trở về U-lu-mu-xi và hình ảnh luôn luôn hiện lên trong đầu óc mình , tôi như người mất hồn và cuối cùng đánh bạo đêm ba mươi tết tìm đến Xeo –ơn-pu-la-khơ với nhiều quà cáp và đặc biệt là những chiếc xe đồ chơi cho cháu …Về sau cô cứ lục vấn tôi : Vì sao anh lại yêu em ? tôi trả lời , đã nói rằng yêu thì không thể hiểu vì sao cả .Tôi kể hết chuyện người con gái Thiểm Bắc cho cô nghe, dù anh có hơn hẳn cậu thanh niên đốt lò hơi ấy về mọi mặt ,nhưng tình yêu đã không đến với anh , dù sau này có khổ sở đến mấy nàng vẫn theo chàng , vì sao lại như thế , anh cố vắt óc mà không hiểu ra , nhưng bây giờ anh đã hiểu , đó là ái tình , với em ,anh cũng như chàng thanh niên Thiểm Bắc nọ…


Còn bây giờ ? Đồng chí nhà báo vừa hỏi , cô ta đã là hiệu phó một trường trung học , đứa bé lớn rồi , nhưng không lái xe như bố dượng mà làm nhà văn và đang viết câu chuyện tình giữa tôi và mẹ cậu . Năm trước nhờ cải cách , cha mẹ cô ta làm ăn yên ổn , nếu không phải là vợ tôi , thì cô ta hoàn toàn có thể hồi hương về Thượng Hải .Tôi hỏi :em có hối hận không ? thế là hết cơ hội làm tiểu thư THượng Hải rồi đó ! Cô im lặng , mãi tới khuya mới vừa khóc vừa trách tôi : anh có ý gì vậy , chẳng phải anh đã nói –ngày tháng có tốt đẹp hay không , chắc không phải do ta ở nơi nào ,mà chính là ta cùng ở với ai – tôi phải làm lành đến tận nủa đêm , cô mới cười trở lại . Tất cả do tôi quá chén nhỡ lời , từ đó tôi bỏ luôn cái khoản rượu …

Đồng chí nhà báo ơi , sắp chia tay rồi , Xeo-ơn-pu-la-khơ , ôi suối nước kiềm , những người bơi lội trong dòng suối ấy đều có trái tim vàng, đều là bảo bối của đất nước , không chỉ mỗi cô ta , mà tất cả ai từng chịu khổ , từng uống nước “Xeo-on-pu-la-khơ” đều như vậy cả , phải không đồng chí nhà báo ?.

Các bài đã đăng :

Chuyện của một người đàn bà và một người nửa đàn ông

Cao lương đỏ

Lá rụng về đâu ?

Người mẹ vĩ đại

Hai chiếc túi vải

Viết trên cát

Ly Hôn

Bá Nha , Tử Kỳ

Ai bảo em không lấy chồng

Trải long người vợ theo dõi chồng đêm Noel

Ghét bản thân mình

Bảy đô một đêm

Tình yêu của anh tôi

Đèn vàng

Chuông gió

CHÙA PHỤNG THÁNH

Posted by: thuyngakhanhhoa on: Tháng Mười Hai 21, 2009

CHÙA PHỤNG THÁNH^

Chùa Phụng Thánh hiện ở ngõ Cống Trắng, phố Khâm Thiên, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Chùa Phụng Thánh cũng như làng Phụng Thánh được lý giải bằng truyền thuyết rất xưa liên quan đến vương triều Lý (1010 – 1225).

Theo truyền thuyết vào thế kỷ 12, dưới triều Lý, có một công chúa rất xinh đẹp, nàng quan tâm đến đời sống của nhân dân và phong cảnh đất nước. Một hôm nàng xin phép vua cha cho đi du ngoạn trên một chiếc thuyền. Khi con thuyền đưa nàng công chúa đến một chiếc hồ lớn thì gặp một cơn giông, làm thuyền bị đắm chết. Nhà vua bèn sai quân lýnh vớt xác, nhưng công chúa đã làm nhiều điều thiện giúp dân nên được hóa Phật. Để tưởng nhớ công lao của nàng, dân quanh vùng đã chọn mảnh đất quanh hồ để xây miếu thờ. Sau đó dân làng lại đóng góp công sức xây dựng nên ba gian nhà gỗ ở phía sau miếu để thờ Phật. Đó là tiền thân của di tích chùa Phụng Thánh.

Sau một thời gian tồn tại lâu dài, đến thời Tây Sơn, di tích nằm trong khu vực chiến trường Đống Đa, nên chùa bị hủy hoại. Sau cơn bin hòa, đến thời Nguyễn, chùa được phục hồi vào năm Ất Mão (1855) và năm Ất Sửu (1865). Đến đêm 26-12-1972 chùa bị bom B52 Mỹ phá sập khu chùa chính. Năm 1973 nhà sư Đàm Ánh trụ trì tại chùa đã tiến hành xây dựng lại di tích như hiện nay.

Di tích được dựng trên một khu đất bằng phẳng và có một khuôn viên rộng lớn bao quanh. Chùa quay mặt về hướng nam, trông ra hồ nước rộng. Trước đây, đi tích bao gồm tam quan, chùa chính, nhà tổ, nhà ngang, sân sạch và khu vườn rộng bao quanh. Do sự phát triển dân cư, tam quan chùa không còn, nên lối vào chùa hiện nay là một lối nhỏ, cửa gỗ dẫn vào hành lang nhà tổ và nhà Mẫu.

Các bộ phận kiến trúc chùa Phụng Thánh được xếp đặt trên trục bắc – nam. Sau chùa chính là sân gạch vuông dẫn tới nhà Tổ, hai dãy dải vì nằm song song với hậu cung chùa và và sân gạch tới hiên trước nhà Tổ.

Chùa chính thờ Phật, trong chùa lưu giữ 29 pho tượng tròn, trong số đó có 21 tượng hệ Phật điện, 8 pho tượng Mẫu, 2 quả chuông đồng, đồ gốm sứ, đồ gỗ, các bức đại tự, câu đối sơn son thếp vàng, bia đá.

Chùa vẫn bảo lưu được nhiều nét đẹp của kiến trúc truyền thống, đó là sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan, giữa các bộ phận kiến trúc với nhau. Các pho tượng cổ có giá trị là những tác phẩm nghệ thuật điển hình của thời Nguyễn.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 16.11.1988.

Các bài đã đăng :

**Chùa Đại Bi

*Chùa  Dục Khánh

*Chùa Cổ Thiên Ấn

*Tiêu Sơn Tự

*Chùa Thượng Đồng

*Chùa Bạch Liên

*Chùa Bất Nhiễm

*Chùa Phúc Linh

*Chùa Giác Viên

NỘI DUNG

Phản hồi gần đây

Truong trong bài CHUYỆN LẠ
minh trong bài t1
nguyễn thuận trong bài NHÀ THỜ PHƯƠNG CHÍNH
thuyngakhanhhoa trong bài ĐỨC MẸ TÀPAO – BÌNH…
BBQ trong bài TRUYỀN THUYẾT HOA CÁT CÁN…

Bài đã đăng

Blog Stats

  • 95,925 hits

visitors since 09/7/09

free counters